Sabah

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sabah
—  Bang  —
Negeri Di Bawah Bayu
(Vùng đất dưới gió)
Lá cờ Sabah
Lá cờ
Huy hiệu của Sabah
Huy hiệu
Khẩu hiệu: Sabah Maju Jaya
   Sabah trong    Malaysia
   Sabah trong    Malaysia
Tọa độ: 5°15′B 117°0′Đ / 5,25°B 117°Đ / 5.250; 117.000Tọa độ: 5°15′B 117°0′Đ / 5,25°B 117°Đ / 5.250; 117.000
Quốc gia Malaysia sửa dữ liệu
Trực thuộc Malaysia sửa dữ liệu
Thủ phủ Kota Kinabalu
Diện tích [1]
 - Tổng cộng 73.631 km² (28.429,1 mi²)
Dân số (2010)[1]
 - Tổng cộng 3.117.405
 - Mật độ 42,3/km² (109,7/mi²)
Mã bưu chính 88xxx to 91xxx
Mã điện thoại 087 (các huyện nội lục)
088 (Kota Kinabalu & Kudat)
089 (Lahad Datu, Sandakan & Tawau)
Website: www.sabah.gov.my

Sabah là bang cực đông của Malaysia. Bang nằm ở phần phía bắc của đảo Borneo và là bang có diện tích lớn thứ hai trong liên bang sau bang Sarawak. Sabah có biên giới với bang Sarawak ở phía tây nam, có biên giới hàng hải với Lãnh thổ liên bang Labuan ở phía tây và với Philippines ở phía bắc và đông bắc; có biên giới với tỉnh Bắc Kalimantan của Indonesia ở phía nam. Thủ phủ của Sabah là Kota Kinabalu. Sabah thường được gọi là "Vùng đất dưới gió", thủy thủ xưa sử dụng thuật ngữ này để mô tả về các vùng đất nằm ở phía nam của vành đai bão nhiệt đới.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc tên gọi Sabah chưa rõ ràng, và có nhiều thuyết. Một thuyết cho rằng vào lúc lãnh thổ này còn thuộc Vương quốc Brunei, nó được gọi là Saba do có một loại chuối gọi là pisang saba mọc tại các vùng duyên hải. Do Sabah có vị trí lân cận với Brunei, có thuyết cho rằng Sabah là một từ tiếng Mã Lai Brunei có nghĩa là thượng du[2] hoặc bờ bắc của sông.[3] Thuyết khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ sabak trong tiếng Mã Lai có nghĩa là một nơi chiết xuất đường cọ. Sabah trong tiếng Ả Rập có nghĩa là bình minh. Do có nhiều thuyết nên khó khăn trong việc tìm ra nguồn gốc chính xác.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta cho rằng khu vực có loài người di cư đến và định cư từ khoảng 20.000-30.000 năm trước. Những người ban đầu này được cho là thuộc đại chủng Úc (người Negrito). Làn sóng di dân tiếp theo được cho là của những người Nam Đảo thuộc đại chủng Á, và xuất hiện vào khoảng năm 3000 TCN.

Bột Nê Quốc được cho là tồn tại từ thế kỷ thứ 9, tại khu vực cửa sông Brunei, và là tiền thân của Vương quốc Hồi giáo Brunei.[5] Vương quốc Hồi giáo Brunei bắt đầu sau khi quân chủ của Brunei chấp thuận Hồi giáo. Dưới triều đại của sultan thứ năm là Bolkiah, kéo dài từ 1473–1524, chế hải quyền của vương quốc mở rộng khắp Sabah, quần đảo SuluManila ở phía bắc, và Sarawak cho đến Banjarmasin ở phía nam.[6] Năm 1658, Quốc vương Brunei nhượng phần phía bắc và phía đông của Borneo cho Quốc vương Sulu do được Sulu giúp đỡ trong nội chiến. Quốc vương Brunei tiếp tục quản lý lỏng lẻo vùng bờ biển phía tây của Sabah. Nhiều người Mã Lai Brunei nhập cư đến khu vực trong thời kỳ này, song họ đã bắt đầu nhập cư từ thế kỷ 15 sau khi Brunei chinh phục được lãnh thổ.[7] Trong khi các vương quốc Brunei và Sulu tương ứng kiểm soát vùng bờ biển phía tây và phía đông của Sabah, thì khu vực nội địa phần lớn vẫn độc lập với hai vương quốc.[8]

Năm 1761, một cán bộ của Công ty Đông Ấn Anh tên là Alexander Dalrymple ký một hiệp định với Quốc vương Sulu về việc chấp thuận cho ông lập một trạm mậu dịch tại khu vực thuộc Sulu, song trạm này là một thất bại.[9] Năm 1846, Quốc vương Brunei nhượng đảo Labuan ở ngoài khơi bờ biển phía tây Sabah cho Anh Quốc, và đến năm 1848 thì đảo trở thành Thuộc địa vương thất Labuan của Anh Quốc, Quốc vương Brunei lại nhượng tiếp lãnh thổ cho Anh vào năm 1877, còn Sulu nhượng lãnh thổ nay là đông bộ Sabah cho người Anh vào năm 1878.[10][11][12] Sau nhiều chuyển nhượng, quyền đối với Bắc Borneo được chuyển cho Alfred Dent, vào năm 1881 ông thành lập nên Hội lâm thời Bắc Borneo thuộc Anh, tiền thân của Công ty Bắc Borneo thuộc Anh.[13] Công ty Bắc Borneo thuộc Anh được thành lập vào năm sau với trị sở đặt tại Kudat. Năm 1883, trị sở được chuyển đến Sandakan. Năm 1885, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Đức ký kết Nghị định thư Madrid, theo đó công nhận chủ quyền của Tây Ban Nha tại quần đảo Sulu, đổi lại Tây Ban Nha từ bỏ mọi tuyên bố chủ quyền đối với Bắc Borneo.[14] Bắc Borneo trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh Quốc vào năm 1888.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Nhật Bản đổ bộ lên Labuan vào ngày 1 tháng 1 năm 1942, và tiếp tục xâm chiếm phần còn lại của Bắc Borneo. Từ năm 1942 đến năm 1945, Quân đội Nhật Bản chiếm đóng Bắc Borneo, cũng như hầu hết đảo. Các trận oanh tạc của Đồng Minh tàn phá hầu hết đô thị tại Bắc Borneo, bao gồm Sandakan. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Bắc Borneo nằm dưới quyền quản lý của một chính phủ quân sự của Anh, và đến năm 1946 thì lãnh thổ trở thành một Thuộc địa vương thất của Anh. Jesselton thay thế Sandakan trong vai trò thủ đô, và Vương thất Anh tiếp tục cai trị Bắc Borneo cho đến năm 1963.

Ngày 31 tháng 8 năm 1963, Bắc Borneo đạt được chế độ tự trị.[15] Ủy ban Cobbold được thành lập vào năm 1962 nhằm xác định xem nhân dân Sabah và Sarawak có ủng hộ liên bang theo đề xuất hay không, và nhận thấy nhân dân nhìn chung ủng hộ. Hầu hết các lãnh đạo cộng đồng dân tộc tại Sabah, như Tun Mustapha đại diện cho người Hồi giáo, Tun Fuad Stephens đại diện cho người bản địa phi Hồi giáo, và Khâu Tích Châu (Khoo Siak Chew) đại diện cho người Hoa, cuối cùng ủng hộ việc hợp nhất vào một liên bang. Sau các hiệp định, vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, Bắc Borneo với tên Sabah đã hợp nhất với Malaya, Sarawak và Singapore, để hình thành Liên bang Malaysia.[16][17][18]

Từ trước khi thành lập Malaysia cho đến năm 1966, Indonesia thi hành một chính sách thù địch nhằm vào Malaya, và sau là Malaysia. Cuộc chiến không tuyên bố này bắt nguồn từ điều mà Tổng thống Indonesia Sukarno nhận thức là một sự mở rộng ảnh hưởng của Anh đối với khu vực, và việc ông có ý muốn giành quyền kiểm soát toàn bộ đảo Borneo cho Indonesia. Sabah tổ chức tuyển cử cấp bang lần đầu vào năm 1967.

Bắt đầu từ năm 1970, những người Philippines tị nạn đến từ Mindanao bắt đầu đến Sabah do người Moro nổi dậy.[19] Ngày 14 tháng 6 năm 1976, chính phủ của Sabah ký kết một hiệp định với công ty dầu khí quốc doanh Petronas, trao cho công ty này quyền khai thác và thu lợi nhuận từ dầu mỏ được tìm thấy trong vùng lãnh hải của Sabah, đổi lại Sabah nhận được 5% lợi nhuận mỗi năm với tư cách là tiền hoa hồng.[20]

Chính phủ Sabah nhượng Labuan cho chính phủ liên bang Malaysia, và Labuan trở thành một lãnh thổ liên bang vào ngày 16 tháng 4 năm 1984.[21] Năm 2002, Tòa án Công lý Quốc tế ra phán quyết rằng các đảo tranh chấp giữa Malaysia và Indonesia là SipadanLigitan thuộc chủ quyền của Sabah và Malaysia.[22]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

núi Kinabalu là núi cao nhất tại quần đảo Mã Lai.

Phần phía tây của Sabah đại thể là có nhiều núi, trong đó có ba dãy núi cao nhất tại Malaysia. Dãy Crocker là dãy núi cao nhất, có nhiều núi với cao độ từ 1.000 mét đến 4.000 mét. Núi Kinabulu có cao độ 4.095 mét và là núi cao nhất tại quần đảo Mã Lai (không tính New Guinea) và là núi cao thứ 10 tại các quốc gia Đông Nam Á. Các khu rừng tại Sabah được phân loại là rừng mưa nhiệt đới, có sự đa dạng về các loài thực vật và động vật. Vườn quốc gia Kinabulu được liệt vào danh sách di sản thế giới của UNESCO vào năm 200 do có tính phong phú về đa dạng thực vật kết hợp với địa chất, địa hình, và các điều kiện khí hậu độc đáo.[23]

Nằm gần núi Kinabalu là núi Tambuyukon, là đỉnh cao thứ ba tại Malaysia với cao độ 2.579 mét. Lân cận dãy Crocker là dãy Trus Madi, dãy này có núi Trus Madi cao thứ nhì tại Malaysia với cao độ 2.642 mét. Có các dãy gò đồi thấp mở rộng hướng về bờ biển phía tây, đồng bằng phía nam, và vùng nội địa của Sabah. Một mạng lưới dày đặc các thung lũng sông nằm vắt ngang các núi và đồi, hầu hết các núi đồi có rừng mưa bao phủ.

Phần trung tâm và phía đông của Sabah đại thể là các dãy núi thấp và đồng bằng thi thoảng có đồi. Sông Kinabatangan có chiều dài 560 km, khởi nguồn từ các dãy núi phía tây và uốn khúc qua khu vực trung tâm hướng đến bờ biển phía đông và đổ vào biển Sulu. Đây là sông dài thứ nhì tại Malaysia sau sông Rajang. Các khu rừng quanh thung lũng sông cũng gồm có một loạt các môi trường sống hoang dã, và là bãi bồi được rừng bao phủ lớn nhất tại Malaysia.[24]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Sabah – 2010[25]
Dân tộc Tỷ lệ
Kadazan-Dusun
  
17.82%
Murut
  
3.22%
Bajau
  
14%
Mã Lai Brunei
  
5.71%
bumiputra khác
  
20.56%
Hoa
  
9.11%
phi bumiputra khác
  
1.5%
không phải công dân Malaysia
  
27.81%
Nguồn: Cơ quan Thống kê Malaysia.

Dân số Sabah được tính là 651.304 vào năm 1970 và tăng lên thành 929.299 một thập niên sau. Trong hai thập niên sau năm 1980, dân số bang tăng đáng kể thêm 1,5 triệu, và đạt 2.468.246 vào năm 2000. Năm 2010, dân số Sabah là 3.117.405, trong đó người ngoại quốc chiếm 27% tổng dân số.[26][27] Đây là bang đông dân thứ ba tại Malaysia sau SelangorJohor. Sabah có tốc độ tăng trưởng dân số cao nhất toàn quốc, đây là kết quả của nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp công khai, và người nhập tịch đến từ các nơi khác tại Malaysia, Indonesia và đặc biệt là các tỉnh mà người Hồi giáo chiếm ưu thế ở miền nam của Philippines- họ được trao cho xuất thân Mã Lai và được cấp quyền công dân.[28][29] Do vậy, người Sabah Borneo vốn hầu hết theo Ki-tô giáo đã trở thành thiểu số trên quê hương họ.[30][31]

  • Kadazan-Dusun: 17,82% (555.647)
  • Bajau: 14% (436.672)
  • Mã Lai Brunei: 5,71% (178.029)
  • Murut: 3,22% (100.631)
  • bumiputra khác: 20,56% (640.964)
  • Hoa (chủ yếu là Khách Gia): 9,11% (284.049)
  • phi bumiputra khác: 1,5% (47.052)
  • không phải công dân Malaysia: 27,81% (867.190)

Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia, được nói giữa các dân tộc, song phương ngữ tiếng Mã Lai tại Sabah có tên là Baku có khác biệt với phương ngữ Johor-Riau tại Tây Malaysia.[32] Sabah cũng có tiếng lóng cho nhiều từ trong tiếng Mã Lai, hầu hết chúng có nguồn gốc bản địa hoặc là từ tiếng Indonesia. Các ngôn ngữ bản địa như Kadazan, Dusun, Bajau và Murut được phát sóng trên đài phát thanh cấp bang, cùng với tiếng Anh.

Trang phục truyền thống của một số dân tộc tại Sabah

Cư dân Sabah được chia thành 32 dân tộc được công nhận chính thức, 28 trong đó được công nhận là Bumiputra, hay là người bản địa.[33] Nhóm phi bumiputra lớn nhất là người Hoa, phương ngữ tiếng Hoa chiếm ưu thế tại Sabah là tiếng Khách Gia, tiếp theo là tiếng Quảng Đôngtiếng Phúc Kiến. Hầu hết người Hoa tại Sabah tập trung tại các đô thị lớn, như Kota Kinabalu, SandakanTawau. Dân tộc bản địa lớn nhất là Kadazan-Dusun, tiếp đến là Bajau, và Murut. Có một cộng đồng người Ấn Độ và Nam Á khác tại Sabah song có tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với tại những nơi khác của Malaysia.

Tôn giáo tại Sabah - điều tra 2010[31]
Tôn giáo Tỷ lệ
Hồi giáo
  
65.4%
Ki-tô giáo
  
26.6%
Phật giáo
  
6.1%
Khác
  
1.6%
Không tôn giáo
  
0.3%

Kể từ khi độc lập vào năm 1963, Sabah trải qua một biến đổi đáng kể trong thành phần tôn giáo, đặc biệt là trong tỷ lệ dân số tuyên bố tin theo Hồi giáo. Năm 1960, tỷ lệ người Hồi giáo là 37,9%, người Ki-tô giáo là 16,6%, và khoảng một phần ba còn lại theo thuyết vật linh.[34]

Năm 1973, Tổ chức Dân tộc Sabah Thống nhất sửa đổi Hiến pháp Sabah để đưa Hồi giáo trở thành bang giáo của Sabah. Tổ chức này tích cực thúc đẩy việc cải đạo người Sabah bản địa sang Hồi giáo bằng cách cung cấp phần thưởng và chức vụ. Việc trục xuất các nhà truyền giáo Ki-tô khỏi bang cũng được tiến hành nhằm làm giảm việc giới thiệu tôn giáo này đến người bản địa tại Sabah.[35] Người Hồi giáo Philippines và những người nhập cư Hồi giáo khác đến từ Indonesia hay thậm chí là Pakistan được đưa đến bang theo chỉ dẫn của Chủ tịch Tổ chức Dân tộc Sabah Thống nhất đương thời là Tun Mustapha, và họ được trao thẻ căn cước vào đầu thập niên 1990 nhằm giúp lật đổ chính phủ bang của Đảng Sabah Thống nhất và giúp ông được bổ nhiệm làm thống đốc bang. Mặc dù kế hoạch trở thành thống đốc bang của ông thất bại song những người nhập cư bất hợp pháp đã thay đổi nhân khẩu của Sabah.[36]

Các chính sách này tiếp tục khi Sabah nằm dưới quyền quản lý của Mặt trận Thống nhất Nhân dân Sabah, đứng đầu là Datuk Harris, ông công khai chủ trương với người Hồi giáo rằng cần phải có một đa số Hồi giáo, để kiểm soát người Kadazan Ki-tô giáo.[37]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kota Kinabalu.

Kinh tế Sabah dựa vào ba lĩnh vực phát triển trọng điểm là nông nghiệp, du lịch, và chế tạo. Dầu mỏ và dầu cọ vẫn là hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất. Các mặt hàng nhập khẩu của Sabah chủ yếu là ô tô va máy móc, sản phẩm dầu mỏ và phân bón, thực phẩm và hàng chế tạo.[38] Sabah có truyền thống dựa nhiều vào đốn gỗ nhiệt đới để xuất khẩu, song do các khu rừng tự nhiên ngày càng suy giảm ở mức báo động, các nỗ lực sinh thái nhằm cứu các khu rừng tự nhiên còn lại. Tuy nhiên, cọ dầu nổi lên thành một lựa chọn cho nông dân. Các nông sản quan trọng khác của Sabah gồm có cao cu và ca cao. Du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, có đóng góp lớn vào kinh tế của Sabah.

Trong thập niên 1970, Sabah là bang giàu có thứ hai toàn quốc, sau Selangor (đương thời gồm Kuala Lumpur). Đến năm 2010, Sabah là bang nghèo nhất của Malaysia. Tăng trưởng GDP vào năm này chỉ đạt 2,4%, mức thấp nhất tại Malaysia.[39]

Chính sách mậu dịch duyên hải đối với Sabah và Sarawak là một trong những nguyên nhân khiến giá cả hàng hóa tại hai bang này cao hơn. Các điều luật đặt ra vào đầu thập niên 1980 quy định rằng toàn bộ vận tải nội địa đối với các hàng hóa ngoại quốc giữa bán đảo và các cảng của Sabah chỉ được phép do các công ty tàu thuyền của Malaysia tiến hành. Điều này dẫn đến chi phí vận chuyển cao quá đáng, khiến chi phí sinh hoạt tại Đông Malaysia cao hơn.[40]

Hạng Thanh thị Dân số (2010)[41]
1 Kota Kinabalu 700.999
2 Sandakan 699.567
3 Tawau 600.963
4 Keningau 400.890
5 Lahad Datu 378.900
6 Semporna 240.810
7 Kudat 199.710

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tỉnh Huyện Diện tích (km²) Dân số (2010)[42]
1 tỉnh Tây Hải Kota Belud, Kota Kinabalu, Papar, Penampang, Putatan, Ranau, Tuaran 7.588 1.067.589
2 tỉnh Nội Lục Beaufort, Nabawan, Keningau, Kuala Penyu, Sipitang, Tambunan, Tenom 18.298 424.534
3 tỉnh Kudat Kota Marudu, Kudat, Pitas 4.623 192.457
4 tỉnh Sandakan Beluran, Kinabatangan, Sandakan, Tongod 28.205 702.207
5 tỉnh Tawau Kunak, Lahad Datu, Semporna, Tawau 14.905 819.955

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Department of Statistics Malaysia. tr. iv. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ Allen R. Maxwell (1981–1982). “The Origin of the name 'Sabah'”. Sabah Society Journal. VII (No. 2)Bản mẫu:Inconsistent citations 
  3. ^ W. H. Treacher (1891). British Borneo: Sketches of Brunai, Sarawak, Labuan, and North Borneo. The Project Gutenberg eBook. tr. 95. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009Bản mẫu:Inconsistent citations 
  4. ^ Kaur, Jaswinder (16 tháng 9 năm 2008). “Getting to Root of the Name Sabah”. New Straits Times. 
  5. ^ Barbara Watson Andaya; Leonard Y. Andaya (15 tháng 9 năm 1984). A History of Malaysia. Palgrave Macmillan. tr. 57–. ISBN 978-0-312-38121-9. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  6. ^ Graham Saunders (2002). A history of Brunei. Routledge. tr. 40–. ISBN 978-0-7007-1698-2. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  7. ^ Yunos, Rozan (24 Octoober 2011). “In search of Brunei Malays outside Brunei”. The Brunei Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ Singh, DS Ranjit (2000). The Making of Sabah, 1865-1941: The Dynamics of Indigenous Society. University of Malaya Press. ISBN 9831001648. 
  9. ^ Howard T. Fry (1970). Alexander Dalrymple (1737-1808) and the Expansion of British Trade. Routledge. tr. 68–. ISBN 978-0-7146-2594-2. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2013. 
  10. ^ Charles ALfred Fisher (1966). South-East Asia: A Social, Economic and Political Geography. Taylor & Francis. tr. 147–. GGKEY:NTL3Y9S0ACC. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  11. ^ Ooi Keat Gin (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to Timor. R-Z. volume three. ABC-CLIO. tr. 251–. ISBN 978-1-57607-770-2. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  12. ^ Keat Gin Ooi (1 tháng 1 năm 2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor. ABC-CLIO. tr. 265–. ISBN 978-1-57607-770-2. 
  13. ^ J. M. Gullick (1967). Malaysia and Its Neighbours, The World studies series. Taylor & Francis. tr. 148–149. ISBN 9780710041418. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2012Bản mẫu:Inconsistent citations 
  14. ^ Protocol of 1885. Sabah State Attorney-General's Chambers. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009. 
  15. ^ Frans Welman. Borneo Trilogy Volume 1: Sabah. Booksmango. tr. 159–. ISBN 978-616-245-078-5. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  16. ^ United Nations Member States
  17. ^ "Sabah's Heritage: A Brief Introduction to Sabah's History", Muzium Sabah, Kota Kinabalu. 1992
  18. ^ Ramlah binti Adam, Abdul Hakim bin Samuri, Muslimin bin Fadzil: "Sejarah Tingkatan 3, Buku teks", published by Dewan Bahasa dan Pustaka (2005)
  19. ^ Riwanto Tirtosudarmo (2007). Mencari Indonesia: Demografi-Politik Pasca-Soeharto (bằng Indonesian). Lembaga Ilmu Pengetahuan Indonesia. tr. 122. ISBN 978-979-799-083-1. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2009Bản mẫu:Inconsistent citations 
  20. ^ “More revenue from oil”. Daily Express. 19 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2009. 
  21. ^ “Laws of Malaysia A585 Constitution (Amendment) (No.2) Act 1984”. Government of Malaysia. Department of Veterinary Services. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  22. ^ Summaries of Judgments, Advisory Opinions and Orders of the International Court of Justice: 1997-2002. United Nations Publications. 2003. tr. 263–. ISBN 978-92-1-133541-5. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ Kinabalu Park – Justification for inscription, UNESCO World Heritage Centre. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2007.
  24. ^ About the Kinabatangan area, WWF. Accessed 4 August 2007.
  25. ^ “2010 Population and Housing Census of Malaysia” (bằng Malay and English). Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012.  p. 71
  26. ^ Mahathir rejects Sabah Royal Commission of Inquiry (RCI) plan
  27. ^ Population Distribution by Local Authority Areas and Mukims, 2010 (Census 2010), Seite 369
  28. ^ “SPECIAL REPORT: Sabah's Project M” (fee required). Malaysiakini. 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008.  - where "M" stood for Mahathir Mohamad
  29. ^ Mutalib M.D. "IC Projek Agenda Tersembunyi Mahathir?" (2006)
  30. ^ Sadiq, Kamal (2005). “When States Prefer Non-Citizens Over Citizens: Conflict Over Illegal Immigration into Malaysia” (PDF). International Studies Quarterly 49: 101–122. doi:10.1111/j.0020-8833.2005.00336.x. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2008. 
  31. ^ a ă “2010 Population and Housing Census of Malaysia”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.  p. 92
  32. ^ “Language And Social Context”. Streetdirectory.com. 13 tháng 5 năm 1969. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  33. ^ Oxford Business Group. The Report: Sabah 2011. Oxford Business Group. tr. 13–. ISBN 978-1-907065-36-1. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  34. ^ Caldarola, Carlo (ed.) (1982). Religion and Societies: Asia and the Middle East. Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-082353-0. 
  35. ^ Regina Lim (2008). Federal-State Relations in Sabah, Malaysia: The Berjaya Administration, 1976-85. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 48–. ISBN 978-981-230-812-2. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  36. ^ “'I processed thousands of ICs for Sabah illegals'”. Malaysiakini. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  37. ^ “Asean Forecast Vol 5 No. 8: August 1985: Sabah - A New Story Elections And Its Aftermath”. Asiandialogue.com. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ SABAH SELECTED FACTS AND FIGURES, Institute for Development Studies
  39. ^ “Gross Domestic Product (GDP) by State, 2010 (Updated: 17/10/2011)”. Statistics.gov.my. 17 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  40. ^ Mat, Nordin (26 tháng 7 năm 2010). “No hidden agenda, says Masa”. Btimes.com.my. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  41. ^ [1], Malaysia Census 2010 Report. 30 tháng 4 năm 2011.
  42. ^ “Population Distribution and Basic Demographic Characteristics, 2010”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió biển Đông eo biển Balabac
Palawan  Philippines
biển Sulu
Mapun  Philippines
Biểu đồ gió
biển Đông
Labuan,  Labuan
B biển Sulu
Tawi-Tawi  Philippines
T    Sabah    Đ
N
Lawas,  Sarawak Bắc Kalimantan  Indonesia biển Celebes
Enclave: {{{enclave}}}