Kuala Lumpur

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kuala Lumpur
—  Thành phố  —
Wilayah Persekutuan Kuala Lumpur
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Tháp đôi Petronas, phố Petaling, Masjid Jamek và nơi sông Gombak/Klang hợp lưu, bia kỷ niệm Quốc gia, Thánh đường quốc gia, quang cảnh KL. Giữa: Tháp Kuala Lumpur
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên bên trái: Tháp đôi Petronas, phố Petaling, Masjid Jamek và nơi sông Gombak/Klang hợp lưu, bia kỷ niệm Quốc gia, Thánh đường quốc gia, quang cảnh KL. Giữa: Tháp Kuala Lumpur
Lá cờ Kuala Lumpur
Lá cờ
Con dấu chính thức của Kuala Lumpur
Con dấu
Huy hiệu của Kuala Lumpur
Huy hiệu
Biệt danh: KL, Garden City of Lights
Khẩu hiệu: Maju dan Makmur
(tiếng Việt: Tiến bộ và Phồn vinh)
Kuala Lumpur trên bản đồ Malaysia bán đảo
Kuala Lumpur
Kuala Lumpur
Vị trí tại Malaysia bán đảo
Tọa độ: 3°8′51″B 101°41′36″Đ / 3,1475°B 101,69333°Đ / 3.14750; 101.69333
Quốc gia  Malaysia
Bang Lãnh thổ liên bang
Thành lập 1859[1]
Thăng làm thành phố 1 tháng 2 năm 1972
Trở thành lãnh thổ liên bang 1 tháng 2 năm 1974
Diện tích
 - Đô thị 243 km² (93,8 mi²)
 - Vùng đô thị 2.243,27 km² (866,1 mi²)
Độ cao 21,95 m (72 ft)
Dân số (2010)[4]
 - Thành phố 1,627,172
 - Mật độ 6,891/km² (17,8/mi²)
 - Đô thị 6,608,000[2]
 - Vùng đô thị 5,700,000[3]
Múi giờ MST (UTC+8)
Mã bưu chính 50000 đến 60000
Mã điện thoại 03
Thành phố kết nghĩa Karachi, Isfahan, Bình Nhưỡng, Ankara, Shiraz, Luân Đôn, Dubai, New Delhi, Delhi, Jakarta, Casablanca, Malacca (thành phố), Mashhad sửa dữ liệu
Biển số xe W (ngoại trừ taxis)
HW (taxis)
ISO 3166-2 MY-14
Website: www.dbkl.gov.my

Kuala Lumpur là thủ đô liên bang và thành phố đông dân nhất tại Malaysia.[5] Thành phố có diện tích 243 km2 (94 sq mi) và dân số theo ước tính năm 2012 là 1,6 triệu.[5] Vùng Đại Kuala Lumpur, còn được gọi là Thung lũng Klang, là một quần thể đô thị với 5,7 triệu dân vào năm 2010.[3] Đại Kuala Lumpur nằm trong số các vùng đô thị phát triển nhanh nhất Malaysia, xét về dân số và kinh tế.

Kuala Lumpur là nơi đặt trụ sở của Quốc hội Malaysia. Thành phố từng là nơi đặt trụ sở của các cơ quan thuộc nhánh hành pháp và tư pháp trong chính phủ liên bang, song các cơ quan này chuyển đến Putrajaya vào đầu năm 1999.[6] Một số bộ phận của bộ máy tư pháp liên bang vẫn nằm tại thành phố thủ đô. Cung điện chính thức của Quốc vương MalaysiaIstana Negara cũng nằm tại Kuala Lumpur. Kuala Lumpur là trung tâm văn hóa, tài chính và kinh tế của Malaysia. Thành phố được xếp hạng là thành phố toàn cầu hạng alpha, và xếp hạng 48 theo Chỉ số thành phố toàn cầu năm 2010 của Tạp chí Foreign Policy[7]

Kuala Lumpur được giới hạn trong Lãnh thổ liên bang Kuala Lumpur, là một trong ba lãnh thổ liên bang của Malaysia.[8] Lãnh thổ nằm ở giữa vùng bờ biển phía tây của Malaysia bán đảo, và bị bang Selangor bao quanh hoàn toàn.[9]

Từ thập niên 1990, thành phố là nơi tổ chức nhiều sự kiện thể thao, chính trị và văn hóa quốc tế, bao gồm Đại hội thể thao Thịnh vượng chung năm 1998, hay giải đua ô tô công thức 1 Grand Prix. Thêm vào đó, Kuala Lumpur có tòa tháp đôi cao nhất thế giới Petronas.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kuala Lumpur có khởi nguyên vào thập niên 1850, khi thủ tịch Mã Lai của Klang là Raja Abdullah, một thành viên vương thất của Vương quốc Selangor, thuê một số lao công người Hoa để mở các mỏ thiếc mới và lớn.[10] Các thợ mỏ đi đến nơi hợp lưu của sông Gombak (trước đó gọi là sông Lumpur, nghĩa là "sông lầy bùn") và sông Klang để mở các mỏ tại Ampang, Pudu và Batu. Những thợ mỏ này phát triển nên một trạm mậu dịch và nơi này trở thành một thị trấn biên thùy.[11]

Những người thăm dò thiếc định cư tại Ampang,[10] và lập nên các tổ chức của họ.[12] Hai tổ chức lớn nhất là Hải Sơn hội do người Khách Gia chi phối, và Nghĩa Hưng hội do người Phúc Kiến chi phối, hai tổ chức này thường xuyên đấu tranh với nhau để tranh giành quyền kiểm soát việc sản xuất thiếc trong thị trấn.[12] Do đấu tranh liên miên giữa hai phe, sản xuất khai mỏ thiếc bị đình trệ, khiến cho người Anh (đương thời cai trị Selangor) bổ nhiệm một Kapitan (thủ lĩnh) người Hoa để quản lý Kuala Lumpur.[13] Khâu Tú (Hiu Siew) được bầu làm Kapitan đầu tiên, ông sở hữu một mỏ tại Lukut. Ông là một trong những thương gia đầu tiên đến Ampang, bán lương thực thực phẩm cho thợ mỏ để đổi lấy thiếc.[14]

Trong thời gian đầu, Kuala Lumpur tồn tại nhiều vấn đề, bao gồm Nội chiến Selangor; và cũng gặp phải các tai họa như dịch bệnh hay hỏa hoạn và lũ lụt liên tiếp.[10] Khoảng thập niên 1870, Kapitan người Hoa thứ ba của Kuala Lumpur là Diệp Á Lai (Yap Ah Loy) trở thành thủ lĩnh, chịu trách nhiệm cho sự sống còn và phát triển có hệ thống sau đó của thị trấn. Ông bắt đầu phát triển Kuala Lumpur từ một điểm định cư nhỏ được ít người biết đến thành một thị trấn mỏ hưng thịnh.[15] Năm 1880, xét theo yếu tố chiến lược, thủ đô quốc gia của Selangor chuyển từ Klang đến Kuala Lumpur.[16]

Năm 1896, Kuala Lumpur được chọn làm thủ đô của Liên bang Mã Lai (Federated Malay States) mới hình thành.[17] Nhiều cộng đồng khác nhau định cư tại các khu vực khác nhau của Kuala Lumpur. Người Hoa chủ yếu định cư quanh trung tâm thương mại Quảng trường Thị trường, phía đông sông Klang, và hướng về phố Trung Hoa. Người Mã Lai, tầng lớp thương nhân người Ấn, và người Ấn theo Hồi giáo cư trú dọc theo phố Java (nay là Jalan Tun Perak). Padang, nay được gọi là Quảng trường Merdeka, là trung tâm của các văn phòng hành chính của người Anh.[10]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Lục quân Đế quốc Nhật Bản chiếm Kuala Lumpur vào ngày 11 tháng 1 năm 1942. Người Nhật chiếm đóng thành phố cho đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi tổng tư lệnh của Đệ thất phương diện quân Nhật Bản tại Singapore và Malaysia là Seishirō Itagaki đầu hàng chính phủ Anh Quốc.[18] Năm 1957, Liên hiệp bang Malaya (Federation of Malaya) giành được độc lập khỏi sự thống trị của người Anh.[19] Kuala Lumpur vẫn là thủ đô khi Malaysia thành lập vào ngày 16 tháng 9 năm 1963.

Các cửa hàng thời thuộc địa tiền chiến nay được tân trang thành các nhà hàng và quầy rượu.

Ngày 13 tháng 5 năm 1969, các cuộc bạo loạn sắc tộc tồi tệ nhất trong lịch sử Malaysia diễn ra tại Kuala Lumpur.[20] Cụm từ Sự kiện 13 tháng 5 được dùng để nói đến sự cố bạo lực giữa các thành viên của cộng đồng người Mã Lai và người Hoa. Bạo lực là kết quả của việc người Mã Lai tại Malaysia bất mãn với địa vị xã hội-chính trị của họ. Bạo loạn khiến 196 người thiệt mạng,[20] và dẫn đến các thay đổi lớn trong chính sách kinh tế quốc gia nhằm thúc đẩy và ưu tiên người Mã Lai trong lĩnh vực phát triển kinh tế.

Kuala Lumpur được trao địa vị thành phố vào năm 1972,[21] trở thành điểm dân cư đầu tiên của Malaysia được trao địa vị này sau khi độc lập. Đến ngày 1 tháng 2 năm 1974, Kuala Lumpur trở thành một Lãnh thổ liên bang.[22] Kuala Lumpur thôi làm thủ đô của Selangor vào năm 1978 sau khi thành phố Shah Alam được tuyên bố là thủ đô mới của bang.[23] Ngày 14 tháng 5 năm 1990, Kuala Lumpur kỉ niệm 100 năm chính quyền địa phương, hiệu kỳ và bài ca của lãnh thổ liên bang Kuala Lumpur được giới thiệu.

Ngày 1 tháng 2 năm 2001, Putrajaya được tuyên bố là một lãnh thổ liên bang, cũng như là nơi đặt trụ sở chính phủ liên bang.[24] Các chức năng hành pháp và tư pháp của chính phủ chuyển từ Kuala Lumpur đếm Putrajaya. Tuy nhiên, Kuala Lumpur vẫn giữ lại chức năng lập pháp,[25] và là nơi có cung điện của Yang di-Pertuan Agong (Quốc vương).[26]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần Kuala Lumpur nhìn từ trên cao

Kuala Lumpur là một bộ phận của Thung lũng Klang rộng lớn, thung lũng giáp với dãy Titiwangsa ở phía đông, một vài dãy núi nhỏ ở phía bắc và phía nam, và eo biển Malacca ở phía tây. Kuala Lumpur là một thuật ngữ trong tiếng Mã Lai, có thể dịch là "ngã ba sông lầy bùn" do nó nằm tại nơi hợp lưu giữa sông Klang và sông Gombak.[27]

Kula Lumpur nằm ở trung tâm của bang Selangor, Kuala Lumpur trước đây nằm dưới quyền quản lý của chính phủ bang Selangor. Năm 1974, Kuala Lumpur được tách khỏi Selangor để hình thành một lãnh thổ liên bang do Chính phủ Liên bang Malaysia trực tiếp quản lý. Kuala Lumpur nằm ở vùng duyên hải phía tây của Malaysia bán đảo, vốn có vùng đất bằng phẳng rộng hơn vùng duyên hải phía đông. Thành phố có giới hạn lãnh thổ trong 243 km2 (94 sq mi),[28] với cao độ trung bình 21,95 m (72,0 ft).[29]

Được dãy Titiwangsa bảo vệ ở phía đông và được đảo Sumatra của Indonesia chắn ở phía tây, Kuala Lumpur có khí hậu rừng mưa nhiệt đới (phân loại khí hậu Köppen Af) với thời tiết nắng ấm, cùng lượng mưa dồi dào, đặc biệt là khi có gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3. Nhiệt độ có xu hướng không thay đổi. Mức nhiệt tối cao dao động giữa 31 và 33 °C (88 và 91 °F) và chưa từng vượt quá 39,3 °C (102,7 °F), trong khi mức nhiệt tối thấp dao động giữa 22 và 23,5 °C (71,6 và 74,3 °F) và chưa từng xuống quá 14,4 °C (57,9 °F).[30][31] Kuala Lumpur thường nhận được lượng mưa mỗi năm tối thiểu là 2.600 mm (100 in); tháng 6 và tháng 7 tương đối khô, song sau đó lượng mưa thường vượt quá 127 milimét (5,0 in) mỗi tháng.[32][33]

Kuala Lumpur thường bị lụt mỗi khi có mưa như trút, đặc biệt là tại trung tâm thành phố và các khu vực hạ lưu.[34] Khói từ các đám cháy rừng trên đảo Sumatra lân cận đôi khi hợp lại thành khói mùa bao trùm khu vực. Đây là nguồn ô nhiễm chính tại Kuala Lumpur cùng với hoạt động đốt lộ thiên, khí thải từ các loại xe cơ giới và công trình xây dựng.[35]

Dữ liệu khí hậu của Kuala Lumpur
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 32.1 32.9 33.2 33.1 33
(91)
34
(93)
33
(91)
34
(93)
32.1 32.1 31.6 31.5 32,4
Trung bình thấp, °C (°F) 22.5 22.8 23.2 23.7 23.9 23.6 23.2 23.1 23.2 23.2 23.2 22.9 23,2
Lượng mưa, mm (inches) 169.5
(6.673)
165.4
(6.512)
240.9
(9.484)
259.2
(10.205)
204.4
(8.047)
125.3
(4.933)
127.2
(5.008)
155.7
(6.13)
192.8
(7.591)
253.1
(9.965)
287.8
(11.331)
245.7
(9.673)
2.427,0
(95,551)
độ ẩm 79 79 78 80 82 80 79 79 80 81 82 79 79,8
Số ngày mưa TB (≥ 1.0 mm) 11 12 14 16 13 9 10 11 13 16 18 15 158
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 186.0 194.9 207.7 198.0 207.7 195.0 201.5 189.1 165.0 170.5 153.0 161.2 2.229,6
Nguồn #1: Tổ chức Khí tượng Thế giới (1971–2000),[32] Đài thiên văn Hồng Kông (giờ nắng 1961–1990)[36]
Nguồn #2: BBC Weather (records)[37]

Quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa thị chính Kuala Lumpur

Kuala Lumpur do một hội đồng thành phố duy nhất quản lý, được gọi là Uỷ viên Hội đồng thủ đô liên bang từ ngày 1 tháng 4 năm 1961, cho đến khi được trao tình trạng thành phố vào nănm 1972, sau đó quyền hành pháp được chuyển giao cho Thị trưởng (Datuk Bandar).[38]

Công tác quản lý địa phương được thực hiện từ Tòa thị chính Kuala Lumpur, một cơ quan nằm dưới sự quản lý của Bộ Lãnh thổ liên bang Malaysia.[38] Cơ quan này có trách nhiệm đối với y tế và vệ sinh công cộng, loại bỏ và quản lý chất thải, quy hoạch đô thị, bảo vệ môi trường và kiểm soát xây dựng, phát triển xã hội và kinh tế, duy trì chung các chức năng của cơ sở hạ tầng đô thị. Quyền hành pháp thuộc về thị trưởng tại tòa thị chính, người này do Bộ trưởng Lãnh thổ liên bang bổ nhiệm và có nhiệm kỳ 3 năm. Hệ thống bổ nhiệm thị trưởng này được thi hành kể từ khi các cuộc bầu cử chính phủ địa phương bị đình chỉ vào năm 1970.[39]

Kuala Lumpur có bảy quận, là các đơn vị hành chính dưới quyền Tòa thị chính. Hai quận nằm ở phía tây là Segambut và Lembah Pantai; trong khi Kepong, Batu và Wangsa Maju nằm ở phía bắc; Setiawangsa, Titiwangsa và Cheras nằm ở phía tây; Seputeh và Bandar Tun Razak nằm ở phía nam; vàBukit Bintang tại trung tâm Kuala Lumpur.

  1. Segambut
  2. Lembah Pantai
  3. Kepong
  4. Batu
  5. Wangsa Maju
  6. Setiawangsa
  1. Titiwangsa
  2. Cheras
  3. Seputeh
  4. Bandar Tun Razak
  5. Bukit Bintang

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quang cảnh đường phố tại khu vực Quảng trường Medan Pasar.)
Bảo tàng Dệt tại quảng trường Merdeka.

Kuala Lumpur và các khu vực đô thị xung quanh tạo thành vùng công nghiệp hóa nhất, kinh tế tốt nhất và phát triển nhanh nhất tại Malaysia.[40] Mặc dù nhánh hành pháp của chính phủ liên bang dời đến Putrajaya, song một số cơ quan chính phủ như Ngân hàng Quốc gia Malaysia, Hội đồng ủy ban các công ty Malaysia và Hội đồng ủy ban Chứng khoán cùng hầu hết đại sứ quán và phái bộ ngoại giao vẫn đặt tại thành phố.[41]

Kuala Lumpur là trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, truyền thông và nghệ thuật của quốc gia. Kuala Lumpur là một thành phố toàn cầu hạng alpha, và là thành phố toàn cầu duy nhất tại Malaysia.[42] Phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu vực xung quanh như sân bay quốc tế Kuala Lumpur tại Sepang, sự hình thành Hành lang đa phương tiện siêu cấp và sự mở rộng cảng Klang củng cố hơn nữa tầm quan trọng về kinh tế của thành phố. Bursa Malaysia hay Sở giao dịch chứng khoán Malaysia đặt tại thành phố, tạo thành một trong các hoạt động kinh tế cốt lõi của thành phố.

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Kuala Lumpur ước tính đạt 73.536 triệu ringgit vào năm 2008, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 5,9%.[43][44] GDP bình quân đầu người của Kuala Lumpur vào năm 2008 là 48.556 ringgit với mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 5,9 phần trăm.[43][45] Tổng số việc làm tại Kuala Lumpur được ước tính là khoảng 838.400.[46] Các ngành dịch vụ bao gồm tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ kinh doanh, bán buôn bán lẻ, nhà hàng và khách sạn, giao thông, kho bãi và truyền thông, dịch vụ công, dịch vụ cá nhân và dịch vụ chính phủ tạo thành phần lớn nhất trong số việc làm, chiếm khoảng 83%.[46] 17 phần trăm còn lại đến từ lĩnh vực chế tạo và xây dựng.

Sự lớn mạnh của lĩnh vực dịch vụ thể hiện rõ rệt thông qua số lượng các ngân hàng bản địa và ngoại quốc cùng các công ty bảo hiểm hoạt động trong thành phố. Kuala Lumpur ở tư thế sẵn sàng trở thành trung tâm tài chính Hồi giáo toàn cầu[47] với số lượng ngày càng tăng các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính Hồi giáo và sự hiện diện mạnh mẽ của các tổ chức tài chính vùng Vịnh chẳng hạn như ngân hàng Hồi giáo lớn nhất thế giới là Ngân hàng Al-Rajhi[48] và Hãng Tài chính Kuwait. Bên cạnh đó, Dow Jones & Company tích cực làm việc với Bursa Malaysia để thành lập Quỹ trao đổi thương mại Hồi giáo (ETFs), theo đó sẽ giúp nâng cao vị thế của Malaysia tại vùng Vịnh.[49] Thành phố có một số lượng lớn các công ty cổ phần ngoại quốc và cũng có nhiều văn phòng hay trung tâm hỗ trợ khu vực của các công ty đa quốc gia, đặc biệt là tài chính và kế toán, và công nghệ thông tin. Hầu hết các công ty lớn nhất Malaysia có trụ sở chính đặt tại Kuala Lumpur và tính đến tháng 12 năm 2007 thì ngoài Petronas, có 14 trong số các công ty trong danh sách Forbes 2000 đặt tại Kuala Lumpur.[50]

Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế định hướng dịch vụ của thành phố. Nhiều chuỗi khách sạn toàn cầu có sự hiện hiện tại thành phố. Kuala Lumpur là thành phố được viếng thăm nhiều thứ sáu trên thế giới, với 8,9 triệu lượt du khách mỗi năm.[51][52] Du lịch Kula Lumpur được thúc đẩy từ tính đa dạng văn hóa của thành phố, chi phí tương đối thấp, đồ ăn và mua sắm đa dạng. Du lịch MICE, tức du lịch hội nghị, được phát triển trong những năm gần đây và trở thành một thành phần quan trọng, và dự kiến sẽ phát triển hơn nữa khi Chương trình Chuyển đổi Kinh tế của chính phủ Malaysia được khởi động.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Các dân tộc tại Kuala Lumpur - điều tra năm 2010[53]
dân tộc tỷ lệ
người Mã Lai
  
44.2%
người Hoa
  
43.2%
người Ấn
  
10.3%
Bumiputera khác và dân tộc khác
  
1.8%
Tôn giáo tại Kuala Lumpur - điều tra năm 2010[53]
tôn giáo tỷ lệ
Hồi giáo
  
46.4%
Phật giáo
  
35.7%
Ấn Độ giáo
  
8.5%
Ki-tô giáo
  
5.8%
Đạo giáo
  
1.1%
Khác
  
2.0%
Không tôn giáo
  
0.5%

Kuala Lumpur là thành phố đông dân nhất tại Malaysia, với dân số 1,6 triệu trong giới hạn lãnh thổ vào năm 2010.[4] Thành phố có mật độ dân cư 6.696 người trên kilômét vuông (17.340 /sq mi), và là khu vực hành chính có mật độ đông nhất tại Malaysia.[28] Kuala Lumpur là một thành phố thủ vị do là trung tâm của vùng đô thị có dân số 6,9 triệu vào năm 2007.[54][55]

Kuala Lumpur có thành phần cư dân hỗn tạp, gồm ba dân tộc chính của Malaysia: người Mã Lai, người Hoa và người Ấn, song thành phố cũng tồn tại những sự kết hợp văn hóa như người Âu-Á, ngoài ra còn có người Kadazan, người Iban và các sắc tộc bản địa từ Đông Malaysia và Malaysia bán đảo.[46][56] Theo điều tra dân số năm 2010 do Cơ quan Thống kê tiến hành, tỷ lệ cư dân Bumiputera tại Kuala Lumpur là khoảng 44,2%, trong khi người Hoa chiếm 43,2% và người Ấn chiếm 10,3%.[57] Có một hiện tượng đáng chú ý là sự hiện diện ngày càng tăng của cư dân ngoại quốc tại Kuala Lumpur, hiện họ chiếm khoảng 9% dân số thành phố.[46]

Tỷ suất sinh tại Kuala Lumpur suy giảm và dẫn đến tỷ lệ người dưới 15 tuổi thấp đi, giảm từ 33% vào năm 1980 xuống 27% vào năm 2000.[46] Trên khía cạnh khác, nhóm tuổi lao động từ 15–59 tăng từ 63% vào năm 1980 lên 67% vào năm 2000.[46] Nhóm cao tuổi từ 60 trở lên tăng từ 4% vào năm 1980 và 1991 lên 6% vào năm 2000.[46]

Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến xuất hiện một làn sóng lao động tay nghề thấp tràn vào Malaysia, họ đến từ Indonesia, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Philippines, và Việt Nam, nhiều người trong số đó nhập cảnh bất hợp pháp hoặc không có giấy phép phù hợp.[58][59]

Kuala Lumpur là nơi có sự đa dạng về tôn giáo, thành phố có nhiều điểm thờ cúng cho dân cư đa tôn giáo. Hồi giáo được thực hành chủ yếu bởi các cộng đồng người Mã Lai và người Ấn theo Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáoĐạo giáo chủ yếu được thực hành trong cộng đồng người Hoa. Người Ấn có truyền thống gia nhập Ấn Độ giáo. Một số người Hoa và người Ấn đăng ký làm tín đồ Ki-tô giáo.[60] Theo điều tra dân số năm 2010, dân số Kuala Lumpur có 46,4% là người Hồi giáo, 35,7% là Phật tử, 8,5% theo Ấn Độ giáo, 5,8% là Ki-tô hữu], 1,1% là tín đồ Đạo giáo hay tĩn ngưỡng truyền thống Trung Hoa, 2,0% theo các tôn giáo khác, và 0,5% không tôn giáo.

Tiếng Malaysia là ngôn ngữ chính tại Kuala Lumpur. Các cư dân Kuala Lumpur nói chung biết tiếng Anh, và ngôn ngữ này có sự hiện diện mạnh mẽ, đặc biệt là trong kinh doanh và là ngôn ngữ được giảng dạy bắt buộc trong trường học.[56] Tiếng Quảng ĐôngQuan thoại được phần lớn người Hoa địa phương nói.[61] Phương ngôn khác là tiếng Khách Gia. Tiếng Tamil chiếm ưu thế trong cộng đồng người Ấn, song các ngôn ngữ Ấn Độ khác cũng được nói.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp đôi Petronas lúc hoàng hôn

Kiến trúc Kuala Lumpur là sự pha trộn giữa ảnh hưởng từ kiến trúc thuộc địa cũ, truyền thống châu Á, cảm hứng Hồi giáo Mã Lai, hiện đại, và hậu hiện đại.[62] Kuala Lumpur là một thành phố tương đối trẻ so với các thủ đô Đông Nam Á khác, hầu hết các tòa nhà thuộc địa tại thành phố được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các tòa nhà này mang phong cách hay kiến trúc Moor (Mughal), Tudo, Tân Goth hay Hy Lạp-Tây Ban Nha.[63] Hầu hết kiểu dáng được chỉnh sửa để có thể sử dụng tài nguyên địa phương và thích nghi với khí hậu địa phương vốn quanh năm nóng ẩm.

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều điếm ốc (Shophouse), chúng thường có hai tầng với tầng trệt dùng làm nơi mua bán và tầng trên dùng làm nơi ở, được xây dựng quanh trung tâm thành phố cũ. Các điếm-ốc này lấy cảm ứng từ truyền thống kiến trúc của người Hoa Eo biển và người châu Âu.[64] Một số trong những điếm ốc này phải nhường chỗ cho sự phát triển mới song nhiều điếm ốc vẫn tồn tại cho đến ngày nay tại xung quanh các khu vực Medan Pasar (quảng trường Thị trường cũ), phố Trung Hoa, Jalan Tuanku Abdul Rahman, Jalan Doraisamy, Bukit Bintang và Tengkat Tong Shin.

Từ các nguyên nhân như độc lập, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng từ thập niên 1960 đến thập niên 1990, Hồi giáo trở thành quốc giáo, dẫn đến kết quả là việc xây dựng các tòa nhà mang dáng vẻ bản địa và Hồi giáo hơn xuất hiện khắp thành phố, Nhiều tòa nhà này có thiết kế bắt nguồn từ các hạng mục truyền thống Mã Lai, chẳng hạn như songkokkeris. Một số tòa nhà này có những họa tiết hình học Hồi giáo được tích hợp trong các thiết kế kiến trúc.[65] Ví dụ cho các tòa nhà này là Menara Telekom, Menara Maybank, Dayabumi Complex, và Trung tâm Hồi giáo.[66] Một số tòa nhà như Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo Malaysia và Cung Thiên văn Quốc gia được xây dựng phỏng theo mô hình một nơi thờ tự, hoàn chỉnh với mái vòmtháp, trong khi trên thực tế đó là những nơi của khoa học và tri thức. Tòa tháp đôi Petronas cao 452 mét (1.483 ft) là tháp đôi cao nhất trên thế giới.[67]

Kiến trúc hiện đại và hậu hiện đại bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000. Cùng với sự phát triển kinh tế, các tòa nhà cũ như Bok House bị phá bằng để nhường chỗ cho công trình mới. Các tòa nhà với lớp vỏ bề ngoài hoàn toàn bằng kính xuất hiện khắp thành phố, ví dụ nổi bật nhất là Tháp đôi Petronas và Trung tâm Hội nghị Kuala Lumpur. Khu kinh doanh trung tâm của Kuala Lumpur ngày nay dời sang quanh Kuala Lumpur City Centre (KLCC), tại đây có nhiều tòa nhà mới và cao với kiến trúc hiện đại và hậu hiện đại. Theo Kế hoạch 50 quần thể đô thị cao nhất thế giới của Hội đồng Cao ốc và Cư trú đô thị (CTBUH), Kuala Lumpur xếp hạng 10 trong số các thành phố có nhiều tòa nhà cao trên 100 mét, với tổng chiều cao của 244 tòa nhà là 34.035 mét.[68]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Lái xe là phương thức đi lại chính tại Kuala Lumpur.[69] Do đó, mỗi phần của thành phố được nối với nhau bằng xa lộ. Với tình trạng là thủ đô của Malaysia, Kuala Lumpur có hệ thống đường bộ mang tính toàn diện dẫn đến những phần còn lại tại Malaysia bán đảo.

Về kết nối hàng không, có hai sân bay phục vụ Kuala Lumpur. Sân bay chính là sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA) tại Sepang thuộc bang Selangor, nơi này cũng là trung tâm hàng không của Malaysia, nằm cách thành phố khoảng 50 kilômét (31 mi) về phía nam. Sân bay còn lại là sân bay Sultan Abdul Aziz Shah, cũng được gọi là Subang Skypark và giữ vai trò là cổng vào quốc tế chính của Kuala Lumpur từ năm 1965 đến khi KLIA mở cửa vào năm 1998. KLIA kết nối thành phố thông qua các chuyến bay thẳng đến các địa điểm tại sáu lục địa trên thế giới,[70] và là trung tâm chính của hãng hàng không quốc gia Malaysia Airlines và hãng hàng không giá rẻ AirAsia. Có thể tiếp cận KLIA khi đi bằng tàu cao tốc KLIA Ekspres từ ga Trung tâm Kuala Lumpur, thời gian mất 28 phút,[71] trong khi đi bằng ô tô hay xe buýt trên xa lộ sẽ mất khoảng một giờ. Các chuyến bay của Air Asia không qua nhà ga sân bay chính của KLIA mà qua Nhà ga hàng không giá rẻ. Tính đến năm 2007, sân bay Sultan Abdul Aziz Shah chỉ được sử dụng cho các chuyến bay hợp đồng và máy bay động cơ tuốc bin cánh quạt của các hãng hàng không như Firefly và Berjaya Air.[72]

Giao thông công cộng tại Kuala Lumpur và phần còn lại của Thung lũng Klang bao gồm các loại hình giao thông khác nhau như buýt, đường sắt và taxi. Bất chấp các nỗ lực nhằm gia tăng sử dụng giao thông công cộng, chỉ có 16% cư dân sử dụng giao thông công cộng vào năm 2006.[69] Giao thông đường sắt tại Kuala Lumpur bao gồm đường sắt nhẹ, đường sắt nhanh, đường sắt một ray, đường sắt ngoại ô. Kuala Lumpur được phục vụ bởi ba hệ thống đường sắt riêng biệt, chúng gặp nhau tại thành phố và trải dài ra những nơi khác tại Thung lũng, có tên là RapidKL Light Rail Transit, KL Monorail, và KTM Komuter. Các tuyến này có những ga ngầm, trên cao hay trên mặt đất khắp thành phố. Trung tâm đường sắt nhanh chính là ga trung tâm Kuala Lumpur (KL Sentral), đóng vai trò là trạm trao đổi giữa các tuyến. KL Sentral cũng là một trung tâm của đường sắt liên thị do KTM Intercity vận hành, cung cấp dịch vụ đường sắt xa đến Singapore ở phía nam, và đến Hat Yai thuộc Thái Lan ở phía bắc.[73]

Nhà điều hành giao thông công cộng lớn nhất tại Kuala Lumpur và Thung lũng Klang là RapidKL.[74] Kể từ khi tiếp quản Intrakota Komposit Sdn Bhd, RapidKL cho xác định lại toàn bộ mạng lưới buýt của Kuala Lumpur và vùng đô thị Thung lũng Klang[75] để tăng lượng hành khách và cải tiến hệ thống giao thông công cộng của Kuala Lumpur. RapidKL áp dụng mô hình Hub-and-spoke để liên kết lớn hơn, giảm nhu cầu có thêm xe buýt. RapidKL cũng điều hành hai tuyến đường sắt nhẹ tại Kuala Lumpur và Thung lũng Klang, có tên là Ampang Line và Kelana Jaya Line.[76]

Tại Kuala Lumpur, hầu hết taxi có màu trắng hoặc đỏ đặc trưng. Thành phố là một trong số các thành phố lớn của ASEAN có taxi chạy phổ biến bằng khí đốt thiên nhiên. Cảng Klang phục vụ nhu cầu giao thông háng hải của Kuala Lumpur, cảng này nằm cách thành phố 64 km (40 mi) về phía tây nam. Đây là cảng lớn nhất và bận rộn nhất tại Malaysia, xử lý khoảng 6,3 triệu TEU hàng hóa vào năm 2006.[77]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Malaya Celebrates, 1959”. British Pathé. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “Demographia World Urban Areas PDF (March 2013)”. Demographia. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  3. ^ a ă Ministry Of Federal Territories And Urban Wellbeing. “Overview of Greater Kuala Lumpur”. 
  4. ^ a ă “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. iv. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ a ă “Malaysia: largest cities and towns and statistics of their population”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  6. ^ “Putrajaya – Administrative Capital of Malaysia”. Government of Malaysia. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  7. ^ Kearney, Inc., A.T. “The 2010 Global Cities Index”. Foreign Policy. 
  8. ^ Jeong Chun Hai @Ibrahim, & Nor Fadzlina Nawi. (2007). Principles of Public Administration: An Introduction. Kuala Lumpur: Karisma Publications. ISBN 978-983-195-253-5
  9. ^ “Territorial extent”. States of Malaysia. statoids.com. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  10. ^ a ă â b “Old-World Charm”. Virtual Malaysia Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2007. 
  11. ^ “Yap Ah Loy's Administration”. Yapahloy.tripod.com. 12 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. 
  12. ^ a ă “From tin town to tower city”. kiat.net. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010. 
  13. ^ “Kuala Lumpur History”. Kuala-Lumpur.ws. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ “The First Traders in KL”. Yap Ah Loy.tripod. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  15. ^ “Sejarah Malaysia”. Sejarah Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. 
  16. ^ “Kuala Lumpur”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  17. ^ “The Federated Malay States (1896)”. Nation History. National Library of Malaysia. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  18. ^ “On This Day”. The Australian Army. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2007. 
  19. ^ “1957: Malaya celebrates independence”. On This Day: 31 August (BBC). 31 tháng 8 năm 1957. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  20. ^ a ă Official figure,“New book on 1969 race riots in Malaysia may be banned, officials warn”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013Bản mẫu:Inconsistent citations 
  21. ^ “Destinations: Kuala Lumpur”. Tourism Malaysia. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007. 
  22. ^ “Kuala Lumpur”. Columbia Encyclopedia, Sixth Edition 2007. Columbia University Press. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  23. ^ “Sejarah Shah Alam” (bằng Malay). Shah Alam City Council. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2007. 
  24. ^ Geetha Krishnan. “PJC turns focus on maintenance issues”. The Malaysian Bar. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2007. 
  25. ^ “Attractions”. Ministry of Science Technology and Innovation. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  26. ^ “National Palace”. National Library of Malaysia. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  27. ^ “Kuala Lumpur: Growing Pains”. Asia's Best Cities 2000 (Asiaweek). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007. 
  28. ^ a ă “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. 27. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  29. ^ “Kuala Lumpur Location”. Malaysia Travel. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  30. ^ “Extreme Temperatures Around the World”. Maximiliano Herrera. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  31. ^ “Weather in KL”. Welcome-KL. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2012. 
  32. ^ a ă “World Weather Information Service — Kuala Lumpur”. World Meteorological Organization. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  33. ^ “Climate in Kuala Lumpur”. Healism.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  34. ^ “Kuala Lumpur Environment”. Kuala Lumpur City Hall. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  35. ^ “Hazardous haze shrouds Kuala Lumpur”. MSNBC. 11 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  36. ^ “Climatological Information for Kuala Lumpur, Malaysia”. Hong Kong Observatory. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  37. ^ “Average Conditions: Kuala Lumpur”. BBC. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013. 
  38. ^ a ă “Kuala Lumpur City Hall”. Ministry of Federal Territories and Urban Wellbeing. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  39. ^ “Malaysia's towns and cities are governed by appointed mayors”. City Mayors. 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006. 
  40. ^ Ng, Angie. “New growth corridors added”. The Star Online. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  41. ^ Embassies located in Malaysia “Foreign Embassies and Consulates Directory in Malaysia”. GoAbroad.com. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007. 
  42. ^ “The World According to GaWC 2008”. Globalization and World Cities Study Group and Network (GaWC). Loughborough University. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009. 
  43. ^ a ă “Gross Domestic Product (GDP) by State, 2008”. Department of Statistics Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.  [[]][liên kết hỏng]
  44. ^ “GDP by State and Kind of Economic Activity, 2008”. Department of Statistics Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  45. ^ “GDP Per Capita by State, Annual Percentage Growth and Percentage Share to Malaysia GDP, 2008”. Department of Statistics Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  46. ^ a ă â b c d đ “Kuala Lumpur Economic Base”. Kuala Lumpur City Hall. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 
  47. ^ Sy, Amadou (18 tháng 9 năm 2007). “Malaysia: An Islamic Capital Market Hub”. Survey Magazine. International Monetary Fund. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  48. ^ “World Largest Islamic Bank opens branch in Malaysia”. ClickPress. 13 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  49. ^ Tam, Susan (10 tháng 4 năm 2007). “Malaysia needs to look beyond being hub for Islamic finance”. The Star Malaysia. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  50. ^ “The Global 2000 (Malaysia)”. Forbes. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  51. ^ Top 10 most visited cities in the world. Enjoyourholiday.com. Retrieved on 2013-09-27.
  52. ^ Bremner, Caroline (10 tháng 1 năm 2010). “Trend Watch: Euromonitor International's Top City Destination Ranking”. Euromonitor International. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2010. 
  53. ^ a ă “2010 Population and Housing Census of Malaysia” (bằng Malay and English). Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012. 
  54. ^ Helders, Stefan. “Malaysia:Metropolitan areas”. World Gazetteer. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007. 
  55. ^ Josh, Krist. “Kuala Lumpur: The Heart of Malaysia”. Meetings AsiaPacific. Meetings Media. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  56. ^ a ă “Kuala Lumpur Culture & Heritage”. AsiaWebDirect. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007. 
  57. ^ “Taburan Penduduk dan Ciri-ciri Asas Demografi”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. 11. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011. 
  58. ^ “Malaysia to reduce number of foreign workers to 1.5 mln”. People's Daily Online. 2 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. 
  59. ^ Mydans, Seth (10 tháng 12 năm 2007). “A Growing Source of Fear for Migrants in Malaysia”. International Herald Tribune. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. 
  60. ^ “Religion by Location: Malaysia”. Adherents.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2007. 
  61. ^ “Kuala Lumpur Culture & Heritage: Traditions, Races, People”. Kuala Lumpur Hotels & Travel Guide. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008. 
  62. ^ Diamonstein, Barbaralee; Jersey, New (23 tháng 9 năm 1990). “Landmarks of Kuala Lumpur”. New York Times, Travel. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2007. 
  63. ^ Ahmad, A. Ghafar (1997). British Colonial Architecture in Malaysia 1800–1930. Kuala Lumpur: Museums Association of Malaysia. extract
  64. ^ Gurstien, P (1985) Malaysia Architecture Heritage Survey – A Handbook, Malaysia Heritage Trust. Page 65
  65. ^ Copplestone, Trewin (1976). World Architecture: An Illustrated History. London, Hamlyn. tr. 149. ISBN 978-0-600-03954-9. 
  66. ^ Malaysia, Modernity and the Multimedia Super Corridor: A Critical Geography, page 74. Google Books. 12 tháng 3 năm 2004. ISBN 978-0-203-64736-3. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2007. 
  67. ^ “Petronas Towers”. Pearson PLC. Infoplease. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  68. ^ “The Worlds Tallest 50 Urban Agglomerations”. CTBUH Journal. Council on Tall Buildings and Urban Habitat. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2012. 
  69. ^ a ă “Prasarana to buy trains worth RM1.2bil”. The Star. 13 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2006. 
  70. ^ “Malaysia Airlines Takes Flight to MEGACITIES on National Geographic Channel” (Thông cáo báo chí). National Geographic. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007. 
  71. ^ “KLIA Ekspres”. Express Rail Link Sdn Bhd. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  72. ^ “Subang only for turbo-props”. Asian News Desk. 27 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  73. ^ “Intercity services”. Keretapi Tanah Melayu Berhad. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007. 
  74. ^ Tan Sri Nor Mohamed Yakcop (Minister of Finance II). "Launching of the Cyberjaya Dedicated Transportation System" Cyberjaya (10 September 2007). Địa chỉ URL được truy cập 14 tháng 12 năm 2007
  75. ^ “Rapid KL to revamp network”. Cleanairnet.org. 14 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  76. ^ “About Us”. RapidKL. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  77. ^ “Port Klang retains top ranking among Malaysia's ports”. SchedNet. 24 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 3°08′09″B 101°41′17″Đ / 3,1357°B 101,688°Đ / 3.1357; 101.688