Oman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
سلطنة عُمان
Flag of Oman.svg National emblem of Oman.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Oman
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Nashid as-Salaam as-Sultani
Hành chính
Chính phủ Quân chủ chuyên chế
Sultan Qaboos bin Said Al Said
Ngôn ngữ chính thức tiếng Ả Rập
Thủ đô Muscat
23°36′B, 58°33′Đ
Thành phố lớn nhất Muscat
Địa lý
Diện tích 309,500 km² (hạng 70)
Diện tích nước 0% %
Múi giờ UTC+4; mùa hè: UTC+5
Lịch sử
Ngày thành lập Từ Bồ Đào Nha
năm 1741
năm 1891
năm 1971
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 2,845,000 người (hạng 139)
Mật độ 9.2 người/km² (hạng 219)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 74,431 tỷ đô la Mỹ
HDI (2007) 0.846 cao (hạng 56)
Đơn vị tiền tệ Rial Oman (OMR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .om

Oman (phiên âm tiếng Việt: Ô-man, Hán Việt: A Man; tiếng Ả Rập: سلطنة عُمان) là một quốc gia tại Trung Đông. Tên đầy đủ là Vương quốc Oman.

Ngày 9 tháng 6 năm 1992, Việt Nam và Oman thiết lập quan hệ ngoại giao.[1]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Oman nằm ở Đông Nam bán đảo Ả Rập, Tây Bắc giáp Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Tây giáp Ả Rập Xê Út, Tây Nam giáp Yemen, Nam giáp ấn độ dương. Oman có vị trí rất quan trọng, kiểm soát eo biển Hormuz.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Oman có khí hậu nóng và lượng mưa rất ít. Lượng mưa hàng năm tại Muscat trung bình 100 mm (3,9 in), giảm trong tháng Giêng. Khu vực dãy núi Dhofar nhận được lượng mưa theo mùa (từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 9) như một kết quả của gió mùa từ Ấn Độ Dương bão hòa với độ ẩm mát mẻ và sương mù dày đặc.[2] Các khu vực miền núi nhận được lượng mưa nhiều hơn, và lượng mưa hàng năm trên các phần cao của vùng núi Akhdar Jabal có thể vượt quá 400mm.[3] Một số vùng ven bờ biển, đặc biệt là các khu vực gần đảo Masirah, đôi khi không có mưa ở tất cả các tháng trong một năm. Khí hậu nói chung là rất nóng, với nhiệt độ đạt khoảng 50°C (cao điểm) trong mùa nóng, từ tháng 5 đến tháng 9.

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Hạn hán và lượng mưa hạn chế góp phần vào tình trạng thiếu nguồn cung cấp nước của quốc gia, do đó để duy trì được đủ nước cung cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt trong nước là một trong những vấn đề môi trường cấp bách nhất của Oman, với nguồn nước tái tạo hạn chế, 94% lượng nước có sẵn được sử dụng trong nông nghiệp và 2% đối với hoạt động công nghiệp, với phần lớn có nguồn gốc từ nước dưới các bể chứa ngầm sâu trong lòng đất trong các khu vực sa mạc và nước suối trong vùng đồi núi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời Cổ đại, vùng này đã có những mối quan hệ với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ba Tưvăn minh Ấn Độ. Xứ sở này được Hồi giáo hóa và thuộc quyền kiểm soát của triều đại Abbasid từ thế kỉ 7. Thế kỷ 7, Oman là một bộ phận của Ả Rập Xê Út. Năm 1508, Bồ Đào Nha chiếm Muscat. Đầu thế kỷ 18 bị Ba Tư chiếm đóng. Năm 1741, người Ả Rập phục hồi quyền thống trị của Oman. Đến cuối thế kỷ 18, Anh chiếm Oman và chia thành Ôman và Muscat. Năm 1913 một giáo chủ Hồi giáo đã lãnh đạo các bộ lạc chống thực dân Anh đòi độc lập và lập ra Vương quốc Oman (Sultanate).

Tháng 9 năm 1920 một thỏa thuận hòa bình được ký kết ở Síp giữa Anh và Oman. Theo hòa ước này đất nước bị chia thành Vương quốc Muscat và Vương quốc Oman. Năm 1954, Tiểu vương Oman là Gha-leb Alim tuyên bố Oman độc lập và đòi tham gia Liên đoàn Ả Rập. Năm 1955, dưới sự bảo trợ của quân đội Anh, quân của Muscat đã tấn công và chiếm đóng toàn bộ Oman và thống nhất lại thành Vương quốc Oman. Ngày 18 tháng 11 năm 1962 Uỷ ban chính trị Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết đòi trao trả độc lập cho Oman. Năm 1970, Anh phải tuyên bố rút khỏi vùng Vịnh, tuy nhiên phải 2 năm sau Anh mới thực hiện việc rút quân.

Trong cuộc đảo chính ngày 23 tháng 7 năm 1970, Qabus ibn Sa'id lật đổ vua cha, thực hiện công cuộc hiện đại hóa đất nước đồng thời phải đương đầu với cuộc nổi dậy của Mặt trận giải phóng nhân dân Oman do Yemen hậu thuẫn và đã dẹp tan phong trào này nhờ sự giúp đỡ của quân đội Iran. Năm 1991, Oman được dùng làm căn cứ của Mỹ trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng tán thành việc bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Iraq. Năm 1992, Oman và Yemen kí kết một hiệp định chấm dứt việc tranh chấp biên giới giữa hai nước. Năm 1997, Quốc vương Qabus công nhận quyền của phụ nữ được bầu vào Hội đồng tư vấn (Majlis al-Shura). Hội đồng này không có quyền hạn chính thức, nhưng đảm nhiệm chức năng tư vấn cho Quốc vương về các vấn đề kinh tế và chính sách cộng đồng.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cung điện của Quốc vương Al Alam ở Old Muscat.

Oman theo chế độ quân chủ chuyên chế, đứng đầu Nhà nước là Quốc vương. Quốc vương vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ. Các thành viên chính phủ do quốc vương bổ nhiệm. Cơ quan tư pháp gồm Majlis al-Dawla (Thượng viện, có 71 ghế do quốc vương bổ nhiệm, chỉ có quyền cố vấn), và Majlis al-Shura (Hạ viện, có 84 ghế, nhiệm kỳ 4 năm, các thành viên được chọn qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, chỉ có quyền cố vấn). Oman không có đảng phái chính trị hoạt động, không có các nhóm áp lực hoặc đối lập với chính phủ.

Phong trào đối lập là Mặt trận Nhân dân Giải phóng Oman - OPLF (thành lập năm 1965) hoạt động bí mật.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống pháp luật của đất nước dựa trên luật Hồi giáo. Ngành tư pháp nằm dưới quyền trực tiếp của quốc vương và Bộ Tư pháp. Luật Hồi giáo Sharia là nguồn gốc của tất cả các luật và các các Tòa án Sharia trong hệ thống tòa án dân sự chịu trách nhiệm về các vấn đề gia đình, pháp luật, chẳng hạn như ly dị và thừa kế. Ở một số vùng nông thôn, luật lệ của bộ lạc thường được sử dụng để giải quyết tranh chấp.[4]

Quy chế cơ bản của Nhà nước[5] là nền tảng của hệ thống pháp luật Oman và nó hoạt động như một hiến pháp cho đất nước. Quy chế cơ bản đã được ban hành trong năm 1996 và cho đến nay chỉ mới được sửa đổi một lần, vào năm 2011, để đối phó với cuộc biểu tình.[6]

Chính sách đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1970, Oman đã theo đuổi một chính sách đối ngoại trung lập và mở rộng quan hệ ngoại giao quốc tế đáng kể. Oman là một trong số rất ít các quốc gia Ả Rập đã duy trì quan hệ hữu nghị với Iran.[7][8] WikiLeaks tiết lộ một bức điện ngoại giao của Mỹ nói rằng Oman đã giúp thủy thủ Anh bị bắt bởi lực lượng hải quân Iran trong năm 2007.[9] Các bức điện tương tự cũng miêu tả chính phủ Oman vì muốn duy trì mối quan hệ thân mật với Iran đã liên tục từ chối các nhà ngoại giao Mỹ yêu cầu Oman thay đổi để có một lập trường chống lại Iran.[10][11][12]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng quân sự của Oman có 44.100 người vào năm 2006, trong đó có 25.000 người phục trong lục quân, 4.200 thủy thủ trong hải quân, và một lực lượng không quân với 4.100 nhân viên. Hoàng gia duy trì 5.000 vệ binh, 1.000 trong lực lượng đặc biệt, 150 thủy thủ trong hạm đội du thuyền Hoàng gia, và 250 phi công và nhân viên mặt đất trong các phi đội bay Hoàng gia. Oman cũng duy trì một lực lượng bán quân sự khiêm tốn với 4.400 người.[13]

Quân đội Hoàng gia Oman có 25.000 nhân viên hoạt động trong năm 2006, cộng với một đội ngũ nhỏ của lực lượng bảo vệ gia đình Hoàng gia. Mặc dù chi tiêu cho quốc phòng lớn, nhưng quân đội nước này chậm chạp trong việc hiện đại hóa lực lượng của mình. Oman có một số lượng tương đối hạn chế của xe tăng, trong đó có 6 chiếc M60A1, M60A3 có 73 chiếc, và 38 chiếc Challenger 2 là các loại xe tăng chiến đấu chủ lực, cũng như 37 xe tăng hạng nhẹ Scorpion.

Không quân Hoàng gia Oman có khoảng 4.100 người, chỉ có 36 máy bay chiến đấu và máy bay trực thăng không vũ trang. Máy bay chiến đấu bao gồm 20 chiếc Jaguar đã lỗi thời, 12 chiếc Hawk Mk 203s, 4 chiếc Hawk Mk 103s và 12 chiếc PC-9 phản lực cánh quạt với khả năng chiến đấu hạn chế. Nước này cũng còn một phi đội gồm 12 máy bay F-16C/D. Oman cũng có 4 chiếc A202-18 Bravos, và 8 chiếc MFI-17B Mushshaqs.

Hải quân Hoàng gia Oman có 4.200 người vào năm 2000, và có trụ sở tại Seeb. Nó có các căn cứ tại Ahwi, đảo Ghanam, MussandamSalalah. Năm 2006, Oman đã có 10 tàu chiến đấu. Chúng bao gồm hai chiếc Qahir 1.450 tấn lớp tàu hộ tống, và 8 tàu tuần tra đi biển. Hải quân Oman có một chiếc vận tải Nasr al Bahr 2.500 tấn lớp LSL (240 quân, 7 xe tăng) với một cỗ máy bay trực thăng. Oman cũng có ít nhất bốn tàu đổ bộ.[14]

Trong năm 2010, Oman dành 4.074.000.000 USD cho quân sự, tức 8,5% GDP.[15]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Hồi giáo Oman được chia thành mười một governorates (tỉnh). Governorates được chia lần lượt thành 60 wilayats (huyện).[16][17]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều tra dân số năm 2010, tổng dân số Oman là 2.773.479 người.[18] Dân số đã tăng từ 2.340.815 trong điều tra dân số năm 2003. Tổng tỷ suất sinh năm 2011 là ước tính là 3,70%.[19] Có 43% dân số ở độ tuổi dưới 15. Khoảng 50% dân số sống ở Muscat và Batinah cùng các vùng đồng bằng ven biển phía tây bắc; khoảng 200.000 người sinh sống trong khu vực Dhofar (miền Nam), và khoảng 30.000 sinh sống trong bán đảo Musandam trên eo biển Hormuz.

Đất nước này có nhiều chủng tộc hỗn hợp, một di sản bởi quá khứ đế quốc của mình.[20] Nhiều người Oman có nguồn gốc từ Đông Phi hoặc Baluchistan.[21] Một số khoảng 600.000 người nước ngoài sống ở Oman, hầu hết trong số họ là người lao động từ Pakistan, Bangladesh, Ai Cập, Ấn ĐộPhilippines.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 75% của Oman là người Hồi giáo.[22] Chính phủ Oman không thống kê tình hình tôn giáo, nhưng hầu hết các công dân là người Hồi giáo.[7] Khoảng một nửa dân số thuộc trường phái Ibadi của Hồi giáo.[23]

Cộng đồng tôn giáo không theo đạo Hồi bao gồm các nhóm khác nhau của Ấn giáo, Kỳ Na giáo, Phật giáo, Hỏa giáo, đạo Sikh, Bahá'í, và Kitô giáo. Cộng đồng Kitô giáo được tập trung trong các khu vực đô thị của Thủ đô Muscat, Sohar, và Salalah và bao gồm Công giáo La Mã, Chính Thống giáo, và Tin Lành, được tổ chức thành các cộng đồng cùng ngôn ngữ và sắc tộc. Hiện có hơn 50 nhóm Kitô giáo khác nhau.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Oman.[24] Tiếng Balochi được sử dụng rộng rãi, cùng các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Bathari, tiếng Harsusi, tiếng Hobyot, tiếng Jibbali, tiếng Khojki, tiếng Kumzari, tiếng Mehri, tiếng Zidgali.[25]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm thị trường chứng khoáng Oman

Oman là nước có mức thu nhập trung bình, nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên dầu lửa. Oman đang trong quá trình thực hiện kế hoạch đa dạng hóa nền kinh tế, công nghiệp hóatư nhân hóa, với mục tiêu giảm tỷ lệ đóng góp của ngành dầu khí trong nền kinh tế xuống còn 9% vào năm 2020. Du lịch và các ngành công nghiệp liên quan đến khí đốt là hai lĩnh vực chính trong chiến lược đa dạng hóa của chính phủ.

Tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Oman là dầu mỏ và hơi đốt. Trữ lượng dầu lửa là 5,7 tỷ thùng và hơi đốt là 846 tỷ m³. Công nghiệp dầu lửa chiếm khoảng 80% thu nhập quốc dân. Ngoài ra Ô-man có crôm, trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn, sản xuất hàng năm 15.000 tấn. Nông nghiệp kém phát triển.

Oman xuất khẩu: Dầu lửa (70% xuất sang các nước tư bản, trong đó 60% sang Nhật), tái xuất khẩu , kim loại, hàng dệt… Nhập khẩu: Máy móc, thiết bị giao thông, hàng công nghiệp, thực phẩm, gia súc, dầu nhớt.

Các bạn hàng chính: Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái lan, UAE, Singapore, Mỹ, Anh, Đức.

Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 3%, công nghiệp 55%, dịch vụ: 42%

GDP (2008): 67 tỷ USD (PPP) hoặc 56.32 tỷ USD (theo tỷ giá hối đoái).

GDP đầu người: 20.200 USD (2008).

Tỷ lệ tăng trưởng: 6.7% (2008);

Lạm phát: 12.5%, Thất nghiệp: 15%.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một khanjar, con dao găm truyền thống của Oman.

Mặc dù tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Oman, có người bản ngữ của các thổ ngữ khác nhau, cũng như Balochi (ngôn ngữ của Balochi từ phía Tây-Nam, phía đông Iran), và miền nam Afghanistan hay nhánh của miền Nam Ả Rập, và một số con cháu của các thủy thủ Sindhi. Cũng nói ở Oman là các ngôn ngữ Semit chỉ xa với tiếng Ả Rập, nhưng chặt chẽ liên quan đến ngôn ngữ Semit tại EritreaEthiopia. Tiếng Swahilitiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi trong nước do các mối quan hệ lịch sử giữa Oman và Zanzibar hai ngôn ngữ có liên quan lịch sử. Các ngôn ngữ bản địa chiếm ưu thế là một phương ngữ của tiếng Ả Rập và các nước cũng đã được thông qua tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Hầu như tất cả các dấu hiệu và những bài viết xuất hiện trong cả tiếng Ả Rậptiếng Anh. Một số lượng đáng kể cũng nói được tiếng Urdu, do làn sóng di dân Ấn Độ trong thời gian cuối những năm 1980 và 1990.

Khanjar là dao găm truyền thống của Oman, xuất hiện khoảng năm 1924.

Oman nổi tiếng với các dao Khanjar của nó, mà là cong dao găm đeo trong ngày lễ như là một phần của trang phục nghi lễ, trong kỷ nguyên Trung Cổ các Khanjar trở nên rất phổ biến nó tượng trưng cho Hồi giáo thủy thủ, sau đó các loại Khanjar của đã được thực hiện đại diện cho các quốc gia đi biển khác nhau trong thế giới Hồi giáo. Hôm nay quần áo truyền thống là mòn của hầu hết đàn ông Omani. Họ đeo một mắt cá chân dài, áo choàng collarless gọi là dishdasha rằng nút ở cổ bằng một tua treo xuống. Theo truyền thống tua này sẽ được nhúng vào nước hoa. Hôm nay tua được chỉ là một phần truyền thống của dishdasha này.

Phụ nữ mặc hijabs và abayas. Một số phụ nữ che mặt và bàn tay của họ, nhưng hầu hết không. Các abaya là một trang phục truyền thống và hiện đang có trong phong cách khác nhau. Quốc vương đã cấm việc bao gồm các khuôn mặt trong văn phòng công cộng. Vào những ngày lễ, như Eid, người phụ nữ mặc trang phục truyền thống, mà thường là rất sáng màu và bao gồm một áo dài giữa bê trên quần.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Government
General information
News media