Oman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
سلطنة عُمان
Flag of Oman.svg National emblem of Oman.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Oman
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Nashid as-Salaam as-Sultani
Hành chính
Chính phủ Quân chủ chuyên chế
Sultan Qaboos bin Said Al Said
Ngôn ngữ chính thức tiếng Ả Rập
Thủ đô Muscat
23°36′B, 58°33′Đ
Thành phố lớn nhất Muscat
Địa lý
Diện tích 309,500 km²
Diện tích nước 0% %
Múi giờ UTC+4; mùa hè: UTC+5
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 2,845,000 người (hạng 139)
Mật độ 9.2 người/km² (hạng 219)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 74,431 tỷ đô la Mỹ
HDI (2007) 0.846 cao (hạng 56)
Đơn vị tiền tệ Rial Oman (OMR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .om

Oman (phiên âm tiếng Việt: Ô-man, Hán Việt: A Man; tiếng Ả Rập: سلطنة عُمان) là một quốc gia tại Trung Đông. Tên đầy đủ là Vương quốc Oman.

Ngày 9 tháng 6 năm 1992, Việt Nam và Oman thiết lập quan hệ ngoại giao.[1]

Mục lục

Địa lý [sửa]

Oman nằm ở Đông Nam bán đảo Ả Rập, Tây Bắc giáp Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Tây giáp Ả Rập Xê Út, Tây Nam giáp Yemen, Nam giáp ấn độ dương. Oman có vị trí rất quan trọng, kiểm soát eo biển Hormuz.

Lịch sử [sửa]

Từ thời Cổ đại, vùng này đã có những mối quan hệ với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ba Tưvăn minh Ấn Độ. Xứ sở này được Hồi giáo hóa và thuộc quyền kiểm soát của triều đại Abbasid từ thế kỉ 7. Thế kỷ 7, Oman là một bộ phận của Ả Rập Xê Út. Năm 1508, Bồ Đào Nha chiếm Muscat. Đầu thế kỷ 18 bị Ba Tư chiếm đóng. Năm 1741, người Ả Rập phục hồi quyền thống trị của Oman. Đến cuối thế kỷ 18, Anh chiếm Oman và chia thành Ôman và Muscat. Năm 1913 một giáo chủ Hồi giáo đã lãnh đạo các bộ lạc chống thực dân Anh đòi độc lập và lập ra Vương quốc Oman (Sultanate).

Tháng 9 năm 1920 một thỏa thuận hòa bình được ký kết ở Síp giữa Anh và Oman. Theo hòa ước này đất nước bị chia thành Vương quốc Muscat và Vương quốc Oman. Năm 1954, Tiểu vương Oman là Gha-leb Alim tuyên bố Oman độc lập và đòi tham gia Liên đoàn Ả Rập. Năm 1955, dưới sự bảo trợ của quân đội Anh, quân của Muscat đã tấn công và chiếm đóng toàn bộ Oman và thống nhất lại thành Vương quốc Oman. Ngày 18 tháng 11 năm 1962 Uỷ ban chính trị Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết đòi trao trả độc lập cho Oman. Năm 1970, Anh phải tuyên bố rút khỏi vùng Vịnh, tuy nhiên phải 2 năm sau Anh mới thực hiện việc rút quân.

Trong cuộc đảo chính ngày 23 tháng 7 năm 1970, Qabus ibn Sa'id lật đổ vua cha, thực hiện công cuộc hiện đại hóa đất nước đồng thời phải đương đầu với cuộc nổi dậy của Mặt trận giải phóng nhân dân Oman do Yemen hậu thuẫn và đã dẹp tan phong trào này nhờ sự giúp đỡ của quân đội Iran. Năm 1991, Oman được dùng làm căn cứ của Mỹ trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng tán thành việc bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Iraq. Năm 1992, Oman và Yemen kí kết một hiệp định chấm dứt việc tranh chấp biên giới giữa hai nước. Năm 1997, Quốc vương Qabus công nhận quyền của phụ nữ được bầu vào Hội đồng tư vấn (Majlis al-Shura). Hội đồng này không có quyền hạn chính thức, nhưng đảm nhiệm chức năng tư vấn cho Quốc vương về các vấn đề kinh tế và chính sách cộng đồng.

Chính trị [sửa]

Oman theo chế độ quân chủ chuyên chế, đứng đầu Nhà nước là Quốc vương . Quốc vương vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ. Các thành viên chính phủ do quốc vương bổ nhiệm. Cơ quan tư pháp gồm Majlis al-Dawla (Thượng viện, có 71 ghế do quốc vương bổ nhiệm, chỉ có quyền cố vấn), và Majlis al-Shura (Hạ viện, có 84 ghế, nhiệm kỳ 4 năm, các thành viên được chọn qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, chỉ có quyền cố vấn). Oman không có đảng phái chính trị hoạt động, không có các nhóm áp lực hoặc đối lập với chính phủ.

Phong trào đối lập là Mặt trận Nhân dân Giải phóng Oman - OPLF (thành lập năm 1965) hoạt động bí mật.

Hành chính [sửa]

Kinh tế [sửa]

Oman là nước có mức thu nhập trung bình, nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên dầu lửa. Oman đang trong quá trình thực hiện kế hoạch đa dạng hóa nền kinh tế, công nghiệp hóatư nhân hóa, với mục tiêu giảm tỷ lệ đóng góp của ngành dầu khí trong nền kinh tế xuống còn 9% vào năm 2020. Du lịch và các ngành công nghiệp liên quan đến khí đốt là hai lĩnh vực chính trong chiến lược đa dạng hóa của chính phủ.

Tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Oman là dầu mỏ và hơi đốt. Trữ lượng dầu lửa là 5,7 tỷ thùng và hơi đốt là 846 tỷ m³. Công nghiệp dầu lửa chiếm khoảng 80% thu nhập quốc dân. Ngoài ra Ô-man có crôm, trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn, sản xuất hàng năm 15.000 tấn. Nông nghiệp kém phát triển.

Oman xuất khẩu: Dầu lửa (70% xuất sang các nước tư bản, trong đó 60% sang Nhật), tái xuất khẩu , kim loại, hàng dệt… Nhập khẩu: Máy móc, thiết bị giao thông, hàng công nghiệp, thực phẩm, gia súc, dầu nhớt.

Các bạn hàng chính: Nhật, Hàn quốc, Trung Quốc, Thái lan, UAE, Singapore, Mỹ, Anh, Đức.

Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 3%, công nghiệp 55%, dịch vụ: 42%

GDP (2008): 67 tỷ USD (PPP) hoặc 56.32 tỷ USD (theo tỷ giá hối đoái).

GDP đầu người: 20.200 USD (2008).

Tỷ lệ tăng trưởng: 6.7% (2008);

Lạm phát: 12.5%, Thất nghiệp: 15%.

Văn hóa [sửa]

Mặc dù tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức của Oman, có người bản ngữ của các thổ ngữ khác nhau, cũng như Balochi (ngôn ngữ của Balochi từ phía Tây-Nam, phía đông Iran), và miền nam Afghanistan hay nhánh của miền Nam Ả Rập, và một số con cháu của các thủy thủ Sindhi. Cũng nói ở Oman là các ngôn ngữ Semit chỉ xa với tiếng Ả Rập, nhưng chặt chẽ liên quan đến ngôn ngữ Semit tại EritreaEthiopia. Tiếng Swahilitiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi trong nước do các mối quan hệ lịch sử giữa Oman và Zanzibar hai ngôn ngữ có liên quan lịch sử. Các ngôn ngữ bản địa chiếm ưu thế là một phương ngữ của tiếng Ả Rập và các nước cũng đã được thông qua tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Hầu như tất cả các dấu hiệu và những bài viết xuất hiện trong cả tiếng Ả Rậptiếng Anh. Một số lượng đáng kể cũng nói được tiếng Urdu, do làn sóng di dân Ấn Độ trong thời gian cuối những năm 1980 và 1990.

Khanjar là dao găm truyền thống của Oman, xuất hiện khoảng năm 1924.

Oman nổi tiếng với các dao Khanjar của nó, mà là cong dao găm đeo trong ngày lễ như là một phần của trang phục nghi lễ, trong kỷ nguyên Trung Cổ các Khanjar trở nên rất phổ biến nó tượng trưng cho Hồi giáo thủy thủ, sau đó các loại Khanjar của đã được thực hiện đại diện cho các quốc gia đi biển khác nhau trong thế giới Hồi giáo . Hôm nay quần áo truyền thống là mòn của hầu hết đàn ông Omani. Họ đeo một mắt cá chân dài, áo choàng collarless gọi là dishdasha rằng nút ở cổ bằng một tua treo xuống. Theo truyền thống tua này sẽ được nhúng vào nước hoa. Hôm nay tua được chỉ là một phần truyền thống của dishdasha này.

Phụ nữ mặc hijabs và abayas. Một số phụ nữ che mặt và bàn tay của họ, nhưng hầu hết không. Các abaya là một trang phục truyền thống và hiện đang có trong phong cách khác nhau. Quốc vương đã cấm việc bao gồm các khuôn mặt trong văn phòng công cộng. Vào những ngày lễ, như Eid, người phụ nữ mặc trang phục truyền thống, mà thường là rất sáng màu và bao gồm một áo dài giữa bê trên quần.

Tham khảo [sửa]

  1. ^ http://www.ttnn.com.vn/nuoc-lanh-tho/181/tai-lieu/26715/gioi-thieu-thi-truong-o-man.aspx

Liên kết ngoài [sửa]

Government
General information
News media