Đông Timor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hoà Dân chủ Đông Timor
Repúblika Demokrátika Timor Lorosa'e (tiếng Tetum)
República Democrática de Timor-Leste (tiếng Bồ Đào Nha)
Flag of East Timor.svg Coat of arms of East Timor.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Đông Timor
Khẩu hiệu
"Unidade, Acção, Progresso"  (Bồ Đào Nha)
"Thống nhất, Hành động, Phát triển"
Quốc ca
Pátria
Hành chính
Chính phủ Cộng hoà nghị viện
Tổng thống
Thủ tướng
José Ramos-Horta
Xanana Gusmão
Ngôn ngữ chính thức tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tetum
Thủ đô Dili
8°34′N, 125°34′Đ
Thành phố lớn nhất Dili
Địa lý
Diện tích 15.410 km² (hạng 158)
Diện tích nước Không đáng kể %
Múi giờ UTC+9
Lịch sử
Ngày thành lập

28 tháng 11, 1975
20 tháng 5, 2002
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 1,143,667 người (hạng 159)
Mật độ 64 người/km² (hạng 132)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 1,68 tỷ USD
HDI (2004) 0,513 trung bình (hạng 142)
Đơn vị tiền tệ Đô la Mỹ ² (USD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .tl ³

¹ Chín ngày sau bị các lực lượng Indonesia chiếm trước khi được quốc tế công nhận.
² Ngoài ra, các đồng kim centavo cũng được sử dụng.
³  .tp đang bị khóa.

Đông Timor (tiếng Việt: Đông Ti-mo), cũng được gọi là Timor-Leste (từ tiếng Malaysia timortiếng Bồ Đào Nha leste, đều có nghĩa là "phía đông", phiên âm Tiếng Việt: Ti-mo Le-xte[1]), tên đầy đủ: Cộng hòa Dân chủ Đông Timor, là quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm nửa phía đông của đảo Timor, những đảo lân cận của AtauroJacoOecussi-Ambeno, một phần nằm ở phía tây bắc của đảo, trong Tây Timor của Indonesia. Đông Timor là một đất nước nhỏ bé với 15.410 km² cách thành phố Darwin, Úc khoảng 640 km về phía tây bắc.

Tên "Timor" xuất phát từ chữ timur, nghĩa là "phía đông" trong tiếng Indonesiatiếng Malaysia rồi trở thành Timor trong tiếng Bồ Đào Nha. Tên theo tiếng Bồ Đào Nha Timor-Leste (IPA: [ti'moɾ 'lɛʃtɨ]) và tên không chính thức theo tiếng Tetum Timór Lorosa'e đôi khi được dùng trong tiếng Anh, và Liên Hợp Quốc chính thức gọi là Timor-Leste trong tiếng Anh. Lorosa'e ("phía đông" trong tiếng Tetum) nghĩa văn chương là "mặt trời mọc".

Bị đô hộ bởi thực dân Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16, Đông Timor được biết đến như Timor của Bồ Đào Nha trong hàng thế kỷ. Nó bị xâm lăng và chiếm đóng bởi Indonesia vào năm 1975 và trở thành tỉnh thứ 27 của Indonesia một năm sau đó. Sau cuộc bỏ phiếu để tự quyết định số phận đất nước do Liên Hiệp Quốc tài trợ vào năm 1999, Indonesia rút khỏi lãnh thổ và Đông Timor trở thành quốc gia có chủ quyền được thành lập đầu tiên trong thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3 vào ngày 20 tháng 5 năm 2002. Cùng với Philippines, Đông Timor là một trong hai nước ở Châu Á có đa số người dân theo Công giáo.

Ở mức $800[2], Đông Timor là một trong những nước có GDP trên đầu người thấp nhất thế giới. Tuy nhiên chỉ số phát triển con người (HDI) lại tương ứng với mức trung bình của sự phát triển con người và đặt Đông Timor thứ 142 trong các quốc gia trên thế giới.

Từ nguyên và các vấn đề về đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

"Timor" xuất phát từ timur, từ có nghĩa "đông" trong tiếng Indonesiatiếng Malay (vì thế từ tiếng Indonesia Timor Timur) đã trở thành Timor trong tiếng Bồ Đào Nha và xuất hiện trong tiếng Anh là Timor Bồ Đào Nha. Lorosa'e cũng là từ có nghĩa "đông" trong tiếng Tetum, dịch nghĩa "mặt trời mọc".

Các tên chính thức theo hiến pháp gồm República Democrática de Timor-Leste trong tiếng Bồ Đào Nha (phát âm [tiˈmoɾ ˈlɛʃtɨ]), hầu như được sử dụng trong toàn đất nước, và trong tiếng Tetum, Repúblika Demokrátika Timór Lorosa'e, ít khi được sử dụng và không phải là tiêu chuẩn trong nhiều phương ngữ Tetum[cần dẫn nguồn]. Sau khi giành độc lập, chính phủ đã yêu cầu tên chính thức trong mọi ngôn ngữ là Timor-Leste[cần dẫn nguồn], nhưng nó vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi trong các quốc gia nói tiếng Anh trên toàn thế giới, tại đó cái tên "East Timor" vẫn thường được sử dụng. Cái tên tiếng Indonesia Timor Timur, viết tắt là Timtim, hiện không được dùng nhiều, và chính phủ cùng truyền thông Indonesia hiện dùng Timor Leste.

Tên viết tắt chính thức của các nước trên thế giới do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO) đặt ra. Tên ngắn chính thức ISO 3166-1 trong tiếng Anh và mọi ngôn ngữ khác là Timor-Leste. Định nghĩa của ISO đã được Liên hiệp quốc,[3] tổ chức tiêu chuẩn quốc gia Pháp (AFNOR), Hoa Kỳ (ANSI), Anh Quốc (BSI), Đức (DIN) và Thuỵ Điển (SIS) chấp nhận và được sử dụng toàn cầu bởi các tổ chức phi chính phủ.[cần dẫn nguồn] Timor–Leste được dùng như một cái tên ngoại giao bởi các bộ ngoại giao nước ngoài của hầu hết các quốc gia, ví dụ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ[4] và Liên minh châu Âu,[5] trường hợp khác biệt đáng chú ý nhất là Australia, sử dụng "East Timor".

Cái tên ISO đã khiến xuất hiện tiêu chuẩn mã quốc gia ba chữ TLS và mã quốc gia hai chữ TL làm tên miền internet của quốc gia này. Mã quốc gia hai chữ cũ, TP, đang dần bị loại bỏ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Đông Timor

Buổi đầu lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hòn đảo Timor ban đầu được sinh sống như một phần của các chuyến di cư của con người từng hình thành nên Australasia ở một mức độ lớn hơn. Mọi người tin rằng những hậu duệ của ít nhất ba làn sóng di cư vẫn sống tại nước này. Đợt di cư đầu tiên liên quan tới các nhóm bản xứ chính của New GuineaAustralia, và đã tới trước 40,000 năm trước. Khoảng năm 3000 TCN, người Austronesian đã di cư tới Timor, và có lẽ liên quan tới sự phát triển của nông nghiệp tại đây.[cần dẫn nguồn] Đợt thứ ba, người proto-Malay đã tới từ nam Trung Quốc và bắc Đông Dương.[6] Địa hình núi non khiến các nhóm này bị chia tách với nhau, và điều này giải thích tại sao có sự đa dạng ngôn ngữ lớn ở Đông Timor ngày nay.

Timor được tích hợp vào các mạng lưới thương mại của Trung Quốc và Ấn Độ ở thế kỷ 14 như một nhà xuất khẩu gỗ đàn hương, nô lệ, mật ongsáp ong. Ghi chép lịch sử sớm nhất về hòn đảo TimorNagarakretagama ở thế kỷ 145, Canto 14, xác định Timur là một hòn đảo bên trong vương quốc của Majapahit. Những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên nói rằng hòn đảo có một số vị lãnh chúa hay hoàng thân ở đầu thế kỷ 16. Một trong những lãnh thổ lãnh chúa lớn nhất là vương quốc Wehali (Wehale) ở trung tâm Timor, có thủ đô tại Laran, Tây Timor, nơi các nhóm sắc tộc Tetum, BunaqKemak sinh sống.

Chế độ thuộc địa Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Timor Bồ Đào Nha

Người Bồ Đào Nha là những người châu Âu đầu tiên thực dân hoá Hàng hải Đông Nam Á khi họ tới đây vào thế kỷ 16.[7] Họ đã thiết lập các tiền đồn tại (hiện là của Indonesia) Đảo Maluku và Timor và các hòn đảo xung quanh. Trong thời Nhà Habsburg cai trị Bồ Đào Nha (1580-1640), tất cả các tiền đồn xung quanh đều mất và cuối cùng rơi vào sự kiểm soát của người Hà Lan ở giữa thế kỷ 17. Sự chiếm đóng hoàn toàn của châu Âu với một phần nhỏ lãnh thổ chỉ bắt đầu sau năm 1769, khi thành phố Dili, thủ đô của cái gọi là Timor Bồ Đào Nha, được thành lập.[8] Trong thế kỷ 19, người Hà Lan giành được chỗ đứng ở nửa phía tây hòn đảo Tây Timor, và chính thức nhận nó năm 1859 theo Hiệp ước Lisbon. Biên giới xác định được thành lập theo Hiệp ước Hague năm 1916, và nó vẫn tiếp tục là biên giới quốc tế giữa các nhà nước kế tục là Đông Timor và Indonesia.

Với người Bồ Đào Nha, Đông Timor không có giá trị gì nhiều ngoài việc là một cơ sở thương mại đã bị thất thời cho tới tận cuối thế kỷ 19. Đầu tư vào hạ tầng, y tế và giáo dục ở mức tối thiểu. Gỗ đàn hương vẫn là mặt hàng xuất khẩu chính và cà phê cũng trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng từ giữa thế kỷ 19. Tại những nơi chế độ cầm quyền Bồ Đào Nha có vị thế vững chắc, sự cai trị thường mang tính khai thác và tàn bạo.[9] Đầu thế kỷ 20, nền kinh tế suy giảm trong nước buộc người Bồ Đào Nha phải bòn rút nhiều hơn nữa từ các thuộc địa và điều này đã dẫn tới sự phản kháng của người Timor.[9]

Cuối năm 1941, Timor Bồ Đào Nha bị quân đội Hà Lan và Australia chiếm đóng trong một thời gian ngắn nhằm ngăn chặn trước một cuộc xâm lược của Nhật Bản vào hòn đảo này. Thống đốc người Bồ Đào Nha đã phản đối cuộc xâm lược, và các lực lượng Hà Lan đã quay trở về khu vực Hà Lan của hòn đảo.[10] Người Nhật đổ bộ và đẩy lùi lực lượng nhỏ của Australia ra khỏi Dili, và những vùng nội địa núi non bắt đầu trở thành chiến trường của một cuộc chiến tranh du kích, được gọi là Trận Timor. Cuộc chiến đấu giữa các lực lượng Đồng Minh và người tình nguyện Timor chống lại Nhật Bản đã khiến khoảng từ 40,000 tới 70,000 người Timor thiệt mạng.[cần dẫn nguồn] Sau khi chiến tranh chấm dứt, quyền cai trị của Bồ Đào Nha được tái lập.

Quá trình giải thực tại Timor Bồ Đào Nha bắt đầu năm 1974, sau sự thay đổi chính phủ tại Bồ Đào Nha trước Cách mạng Carnation. Trước sự bất ổn chính trị và những lo ngại ngày càng gia tăng về quá trình giải thực tại AngolaMozambique, Bồ Đào Nha đã hoàn toàn từ bỏ Đông Timor và nước này đơn phương tuyên bố nền độc lập của mình ngày 28 tháng 11 năm 1975.[cần dẫn nguồn] Chín ngày sau, Đông Timor bị các lực lượng Indonesia xâm lược và chiếm đóng trước khi tuyên bố độc lập được quốc tế công nhận.

Chiếm đóng của Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Khi các đảng chính trị bắt đầu hình thành và xuất hiện trong nước, quân đội Indonesia đã thực hiện một chiến dịch hỗ trợ Apodeti, một đảng ủng hộ Indonesia khuyến khích sự chia rẽ giữa các đảng ủng hộ độc lập của Đông Timor.[cần dẫn nguồn] Một cuộc nội chiến ngắn diễn ra năm 1975. Indonesia cho rằng đảng FRETILIN của Đông Timor, nhận được một số sự hỗ trợ từ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, là cộng sản. Sợ rằng một hiệu ứng domino cộng sảnĐông Nam Á và sau chiến dịch của họ ở Miền Nam Việt NamHoa Kỳ,[11] cùng với đồng minh của mình Australia,[12] ủng hộ các hành động của chính phủ Indonesia theo phương Tây. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã nhất trí bỏ phiếu đòi Indonesia ngừng cuộc xâm lược và rút quân lập tức khỏi các biên giới của Đông Timor, nhưng đã bị Mỹ ngăn cản không thể áp đặt bất kỳ lệnh cấm vận kinh tế hay các biện pháp nào để buộc thực hiện quyết định này.

Đông Timor được tuyên bố trở thành tỉnh thứ 27 của Indonesia vào 17tháng 7 năm 1976.[13] Vị thế danh nghĩa của nó tại Liên hiệp quốc còn lại là vị thế của một "lãnh thổ không tự quản dưới quyền hành chính của Bồ Đào Nha."

Biểu tình đòi độc lập khỏi Indonesia.

Sự cai trị của Indonesia ở Đông Timor thường ghi dấu bởi bạo lực và tàn bạo đặc biệt; ước tính số người Đông Timor chết trong thời gian chiếm đóng từ 60,000 đến 200,000 người,[14] Một báo cáo thống kê chi tiết được thực hiện cho Cao uỷ về Tiếp Nhận, Sự thật và Hoà giải tại Đông Timor đã chỉ ra con số tối thiểu 102,800 cái chết có liên quan tới cuộc xung đột trong giai đoạn 1974–1999, có nghĩa là, xấp xỉ 18,600 vụ giết hại và 84,200 cái chết 'thêm nữa' vì nạn đói và bệnh tật.[15]

Lực lượng du kích Đông Timor, Falintil, đã tổ chức một chiến dịch chống lại các lực lượng Indonesia trong giai đoạn 1975–1999, một số thành viên đã được các lực lượng đặc biệt của Bồ Đào Nha huấn luyện ở nước này.[cần dẫn nguồn] Vụ thảm sát Dili là thời điểm khiến sự nghiệp của người Đông Timor được biết đến trên trường quốc tế, và một phong trào đoàn kết Đông Timor tư sản đã phát triển ở Bồ Đào Nha, Australia và Hoa Kỳ.

Độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thoả thuận được Liên hiệp quốc bảo trợ giữa Indonesia, Bồ Đào Nhà và Hoa Kỳ và một quyết định đáng ngạc nhiên của Tổng thống Indonesia B. J. Habibie, một cuộc trưng cầu dân ý do Liên hiệp quốc giám sát đã được tổ chức ngày 30 tháng 8 năm 1999, để lựa chọn giữa quy chế Tự trị Đặc biệt bên trong Indonesia và độc lập. 78.5% cử tri lựa chọn độc lập, nhưng với những vụ xung đột bạo lực, chủ yếu gây ra bởi các thành phần bên trong quân đội Indonesia và được sự hỗ trợ của các du kích Timor ủng hộ Indonesia do Eurico Guterres lãnh đạo, diễn ra ngay sau đó. Một lực lượng gìn giữ hoà bình (INTERFET dưới sự chỉ huy của Australia) can thiệp để tái lập trật tự. Các chiến binh du kích bỏ chạy qua biên giới vào Tây Timor của Indonesia, và lấy đó làm căn cứ để thỉnh thoảng tổ chức các cuộc tấn công vũ trang. Khi các cuộc tấn công đó bị đẩy lùi và áp lực quốc tế buộc Indonesia phải rút lui sự hỗ trợ ngầm của họ,[cần dẫn nguồn] quân du kích đã giải tán. INTERFET đã được thay thế bằng một lực lượng Cảnh sát Quốc tế của Liên hiệp quốc, sứ mệnh này được gọi là UNTAET, và UNTAET Crime Scene Detachment được thành lập để điều tra những cáo buộc về những hành động tàn bạo. UNTAET được Sérgio Vieira de Mello lãnh đạo với tư cách Hành chính viên Chuyển tiếp của Liên hiệp quốc từ tháng 12 năm 1999 tới tháng 5 năm 2002. Ngày 2 tháng 12 năm 1999, De Mello thành lập Hội đồng Tư vấn Quốc gia (NCC), một cơ cấu chính trị gồm 11 người Đông Timor và bốn thành viên UNTAET có trách nhiệm giám sát quá trình ra quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp hướng tới độc lập. Tuy nhiên, ban đầu UNTAET đã gặp những khó khăn trong việc tạo lập sự tin cậy với nó trong giới lãnh đạo người Timor, dẫn tới tình trạng bạo lực đường phố. Một cuộc họp quan trọng ngày 1 tháng 3 năm 2000, đã tập hợp giới lãnh đạo người Timor và Liên hiệp quốc lại với nhau để đưa ra một chiến lược mới, và xác định những nhu cầu hiến pháp. Cuộc họp do Francis Martin O'Donnell [2] tổ chức, và phái đoàn Timor dưới sự lãnh đạo của José Ramos-Horta, và gồm cả Mari Alkatiri. Kết quả là một kế hoạch chi tiết được đồng thuận về một sự đồng quản lý quyền lực hành pháp, gồm cả các lãnh đạo của Đại hội Quốc gia vì sự Tái thiết Timor (CNRT), dưới sự lãnh đạo của tổng thống tương lai Xanana Gusmão. Các chi tiết khác nữa được vạch ra trong một hội nghị tháng 5 năm 2000. De Mello đã đệ trình kế hoạch chi tiết mới cho một hội nghị các nhà tài trợ tại Lisbon,[16] ngày 22 tháng 6 năm 2000, và tới Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ngày 27 tháng 7 năm 2000.[17] Ngày 12 tháng 7 năm 2000, NCC thông qua một quy tắc thành lập một Nội các Chuyển tiếp gồm bốn người Đông Timor và bốn đại diện của UNTAET.[18] Cơ quan hành chính mới đã thành công trong việc đặt ra các nền tảng hiến pháp cho độc lập, và vào ngày 27 tháng 9 năm 2002, Đông Timor gia nhập Liên hiệp quốc.

Hậu độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2006, những cuộc bạo động bùng phát ở Dili sau sự đối đầu giữa cảnh sát và quân đội; 40 người đã chết và 20,000 phải bỏ nhà cửa. Trận đánh giữa quân đội ủng hộ chính phủ và quân đội Falintil bất mãn nổ ra tháng 5 năm 2006.[19] Theo lời kêu gọi của vị Thủ tướng, Australia, Malaysia, New Zealand, và Bồ Đào Nha đã gửi quân tới Timor, tìm cách giải quyết bạo lực.[20] Ngày 26 tháng 6, Thủ tướng Mari Alkatiri từ chức, sau một tối hậu thư từ Tổng thống Xanana Gusmão rằng ông sẽ từ chức nếu Alkatiri không làm như vậy.[21] José Ramos-Horta được chỉ định làm người kế vị Alkatiri ngày 8 tháng 7 năm 2006.[22] Tháng 4 năm 2007, Gusmão thua khi tìm cách ở lại thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa. Trong thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống tháng 4 năm 2007 các đợt bạo lực lại bùng phát vào tháng 2 và tháng 3 năm 2007. José Ramos-Horta lên nhậm chức Tổng thống ngày 20 tháng 5 năm 2007, sau khi giành chiến thắng ở vòng hai cuộc bầu cử.[23] Gusmão tuyên thệ trở thành Thủ tướng ngày 8 tháng 8 năm 2007. Tổng thống Ramos-Horta đã bị thương nặng trong một âm mưu ám sát ngày 11 tháng 2 năm 2008, trong một cuộc đảo chính không thành công rõ ràng do Alfredo Reinado lãnh đạo, một binh sĩ phản bội đã chết trong vụ tấn công. Thủ tướng Gusmão cũng bị bắn ở một địa điểm khác nhưng ông đã thoát nạn và không bị thương. Chính phủ Australia lập tức gửi các lực lượng tăng cường tới Đông Timor để giữ gìn trật tự.[24]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà Chính phủ ở Dili

Đông Timor theo chế độ cộng hoà. Đứng đầu nhà nước là Tổng thống, được bầu lên bằng phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm. Mặc dù vai trò chỉ mang tính biểu tượng, tổng thống có quyền phủ quyết đối với một vài loại đạo luật. Sau bầu cử, tổng thống sẽ chỉ định người đứng đầu đảng đa số hoặc liên minh đa số làm thủ tướng. Là người đứng đầu chính phủ, thủ tướng chịu trách nhiệm lãnh đạo Hội đồng Quốc gia hoặc nội các.

Cơ quan lập pháp duy nhất ở Đông Timor là Nghị viện Quốc gia hay Parlamento Nacional, các Nghị sỹ được đầu phổ thông cho nhiệm kỳ 5 năm. Số ghế có thể thay đổi từ mức tối thiểu 52 đến mức tối đa 65 ghế, mặc dù có trường hợp ngoại lệ là 88 thành viên như hiện tại, do đây là nhiệm kỳ đầu tiên. Hiến pháp Đông Timor phỏng theo Bồ Đào Nha. Đất nước vẫn đang trong quá trình xây dựng hệ thống hành chính và cơ quan chính phủ.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ khác khu vực của Timor

Đông Timor được chia thành 13 quận hành chính:

1. Lautém
2. Baucau
3. Viqueque
4. Manatuto
5. Dili

6. Aileu
7. Manufahi
8. Liquiçá
9. Ermera

10. Ainaro
11. Bobonaro
12. Cova Lima
13. Oecusse



Quận Diện Tích (km2) Số hộ gia đình Dân số(2004) Dân số (Ước lượng năm 2008) Mật độ dân số (2004)
(/km2)
1 Lautém Bản mẫu:Number table sorting/positive1.702 Bản mẫu:Number table sorting/positive12.998 Bản mẫu:Number table sorting/positive55.921 Bản mẫu:Number table sorting/positive65.349 32.9
2 Baucau Bản mẫu:Number table sorting/positive1.494 Bản mẫu:Number table sorting/positive22.659 Bản mẫu:Number table sorting/positive100.326 Bản mẫu:Number table sorting/positive113.748 67.2
3 Viqueque Bản mẫu:Number table sorting/positive1.781 Bản mẫu:Number table sorting/positive15.115 Bản mẫu:Number table sorting/positive65.245 Bản mẫu:Number table sorting/positive72.950 36.6
4 Manatuto Bản mẫu:Number table sorting/positive1.706 Bản mẫu:Number table sorting/positive8.338 Bản mẫu:Number table sorting/positive36.719 Bản mẫu:Number table sorting/positive41.217 21.5
5 Dili Bản mẫu:Number table sorting/positive372 Bản mẫu:Number table sorting/positive31.575 Bản mẫu:Number table sorting/positive173.541 Bản mẫu:Number table sorting/positive212.469 466.5
6 Aileu Bản mẫu:Number table sorting/positive729 Bản mẫu:Number table sorting/positive7.745 Bản mẫu:Number table sorting/positive37.926 Bản mẫu:Number table sorting/positive45.724 52.0
7 Manufahi Bản mẫu:Number table sorting/positive1.325 Bản mẫu:Number table sorting/positive8.901 Bản mẫu:Number table sorting/positive44.950 Bản mẫu:Number table sorting/positive53.995 33.9
8 Liquiçá Bản mẫu:Number table sorting/positive543 Bản mẫu:Number table sorting/positive11.063 Bản mẫu:Number table sorting/positive54.834 Bản mẫu:Number table sorting/positive69.925 101.0
9 Ermera Bản mẫu:Number table sorting/positive746 Bản mẫu:Number table sorting/positive21.165 Bản mẫu:Number table sorting/positive103.199 Bản mẫu:Number table sorting/positive118.671 138.3
10 Ainaro Bản mẫu:Number table sorting/positive797 Bản mẫu:Number table sorting/positive11.527 Bản mẫu:Number table sorting/positive52.476 Bản mẫu:Number table sorting/positive62.407 65.8
11 Bobonaro Bản mẫu:Number table sorting/positive1.368 Bản mẫu:Number table sorting/positive18.397 Bản mẫu:Number table sorting/positive83.034 Bản mẫu:Number table sorting/positive93.787 60.7
12 Cova Lima Bản mẫu:Number table sorting/positive1.226 Bản mẫu:Number table sorting/positive11.820 Bản mẫu:Number table sorting/positive52.818 Bản mẫu:Number table sorting/positive62.764 43.1
13 Oecusse Bản mẫu:Number table sorting/positive815 Bản mẫu:Number table sorting/positive13.659 Bản mẫu:Number table sorting/positive57.469 Bản mẫu:Number table sorting/positive67.736 70.5

Các khu vực được chia thành 65 khu vực nhỏ, 443 sucos và 2.336 thị trấn, làng và thôn. [3]PDF (213 KiB)

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Đông Timor với biên giới và đường sá

Đảo Timor là một bộ phận của quần đảo Mã Lai và là phần lớn nhất và xa nhất về phía đông của cụm đảo Lesser Sunda. Về phía bắc của đảo nhiều núi đồi là eo biển Ombai and eo biển Wetar, về phía nam Biển Timor tách rời đảo với Úc, trong khi phía tây là tỉnh Đông Nusa Tenggara của Indonesia. Điểm cao nhất của Đông Timor là Núi Ramelau (còn được gọi là Núi Tatamailau ở độ cao 2.963 mét.

Đông Timor nằm trong vùng nhiệt đới, nói chung là nóng và ẩm, có hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Thủ đô, thành phố lớn nhất và là cảng chính là Dili, thành phố lớn thứ nhì là thành phố Baucau ở phía đông. Dili có sân bay quốc tế đang hoạt động duy nhất, mặc dù có các sân bay nhỏ ở Baucau và Oecusse được dùng cho các chuyến bay nội địa. Đường băng của sân bay Dili không thể chịu được các máy bay vận tải lớn[25].

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Đông Timor

Trước và trong thời kỳ thực dân, Timor nổi tiếng nhất về gỗ đàn hương.

Cuối năm 1999, khoảng 70% cơ sở hạ tầng kinh tế Đông Timor đã bị phá huỷ bởi quân đội Indonesia[cần dẫn nguồn] và các du kích chống độc lập, và 260,000 người đã phải bỏ chạy về phía tây. Từ năm 2002 tới năm 2005, một chương trình quốc tế do Liên hiệp quốc lãnh đạo, được quản lý bởi các cố vấn dân sự, 5,000 lính gìn giữ hoà bình (8,000 lúc cao điểm) và 1,300 sĩ quan cảnh sát, đã dần khôi phục cơ sở hạ tầng. Tới giữa năm 2002, hầu như toàn bộ 50,000 người tị nạn đã quay trở về.

Một dự án dài hạn nhiều hứa hẹn là việc liên doanh phát triển các nguồn tài nguyên dầu mỏkhí tự nhiên với Australia ở vùng lãnh hải phía đông nam Timor. Cơ quan hành chính thuộc địa Bồ Đào Nha đã nhượng cho Oceanic Exploration Corporation quyền khai thác các trầm tích này. Tuy nhiên, việc này đã bị cắt ngang bởi cuộc xâm lược của Indonesia năm 1976. Các nguồn tài nguyên đã được phân chia giữa Indonesia và Australia theo Hiệp ước đoạn nối Timor năm 1989.[26] Hiệp ước lập ra những hướng dẫn cho việc đồng khai thác các nguồn tài nguyên ở đáy biển tại khu vực "nối" khi ấy do Timor Bồ Đào Nha để lại tại biên giới biển được đồng thuận giữa hai nước năm 1972.[27] Các nguồn khu từ khu vực "chung" được chia 50%-50%. Woodside PetroleumConocoPhillips bắt đầu tìm kiếm một số nguồn tài nguyên ở Nối Timor thay cho hai chính phủ năm 1992.

Đông Timor không được thừa hưởng các biên giới biển cố định khi họ giành được độc lập, coi Hiệp ước Nối Timor là bất hợp pháp. Một thoả thuận tạm thời (Hiệp ước Biển Timor, đã được ký kết khi Đông Timor trở thành độc lập ngày 20 tháng 5 năm 2002) xác định một Vùng Cùng Khai thác Dầu khí (JPDA), và trao 90% nguồn thu từ các dự án hiện hữu trong khu vực đó cho Đông Timor và 10% cho Australia.[28] Phát triển đáng chú ý mới nhất trong JPDA từ khi Timor giành độc lập là nguồn dầu mỏ lớn nhất tại Biển Timor, Greater Sunrise gas field. Việc khai thác giếng dầu này là chủ đề của những thoả thuận riêng biệt năm 2003 và 2005. Chỉ 20% giếng dầu nằm trong JPDA và phần còn lại tại các lãnh hải không thuộc trong hiệp ước (dù được cả hai nước tuyên bố chủ quyền). Thoả thuận tạm thời ban đầu trao 82% nguồn thu cho Australia và chỉ 18% cho Đông Timor.[29][[]][liên kết hỏng]

Chính phủ Đông Timor đã tìm cách đàm phán một biên giới xác định với Australia tại đường một phần hai giữa hai nước, theo Công ước LIên hiệp quốc về Luật Biển. Chính phủ Australia thích thiết lập biên giới ở cuối thềm lục địa Australia rộng lớn, như đã đồng thuận với Indonesia năm 1972 và 1991. Thông thường một cuộc tranh cãi như thế sẽ được đưa ra trước Toà án Công lý Quốc tế hay Toà án Quốc tế về Luật Biển để tìm kiếm một quyết định công bằng,[30] nhưng chính phủ Australia đã rút khỏi quyền tài phán của các tổ chức pháp lý quốc tế đó (chỉ về các vấn đề liên quan tới các biên giới biển) ngay trước khi Đông Timor độc lập.[31] Tuy nhiên, dưới áp lực của công chúng và ngoại giao, chính phủ Australia thay vào đó đã đưa ra một nhượng bộ ở phút cuối cùng về riêng các khoản tiền chia tại Greater Sunrise gas field.[32] Ngày 7 tháng 7 năm 2005, một thoả thuận được ký kết theo đó cả hai nước sẽ đặt sang bên cạnh cuộc tranh cãi về biên giới biển, và Đông Timor sẽ nhận được 50% lợi nhuận (ước tính A$26 tỷ hay khoảng US$20 tỷ trong cả thời gian dự án)[33] từ việc khai thác giếng dầu Greater Sunrise. Tuy nhiên, các công việc khai thác khác bên trong vùng lãnh hải do Đông Timor tuyên bố chủ quyền nhưng bên ngoài JPDA (Laminaria-Corallina and Buffalo) tiếp tục do Australia đơn phương khai thác.[34]

Khu vực bị nạn đói năm 2007

Năm 2007 một vụ mất mùa khiến nhiều người chết ở nhiều vùng thuộc Timor-Leste. Tháng 11 năm 2007, mười một khu vực vẫn cần sự trợ giúp lương thực quốc tế.[35]

Đông Timor cũng có một ngành công nghiệp cà phê lớn và giàu tiềm năng, nước này bán cà phê cho nhiều nhà bán lẻ Fair Trade và trên thị trường tự do. [cần dẫn nguồn]

Hiện tại ba ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Dili: ANZ của Australia, Banco Nacional Ultramarino của Bồ Đào Nha, và Bank Mandiri của Indonesia.

Đông Timor không có luật sở hữu trí tuệ.[36]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Người Timor bản xứ trong trang phục truyền thốg.
Bài chi tiết: Nhân khẩu Timor

Dân số Đông Timor khoảng 1 triệu người. Gần đây đã có sự gia tăng khá mạnh vì tỷ lệ sinh cao, nhưng cũng bởi những người tị nạn quay trở về.[cần dẫn nguồn] Dân số đặc biệt tập trung tại các vùng xung quanh Dili.

Người Timor được gọi là Maubere bởi một số tổ chức chính trị của họ, một cái tên ban đầu có nghĩa xúc phạm đã biến thành một cái tên kiêu hãnh bởi Fretilin. Họ gồm một số sắc tộc riêng biệt, chủ yếu là hậu duệ lai của người Malayo-Polynesian và Melanesian/Papuan. Các nhóm sắc tộc Malayo-Polynesian lớn nhất là Tetum[37] (hay Tetun) (100,000), chủ yếu ở bờ biển phía nam và xung quanh Dili; người Mambae (80,000), ở vùng núi non trung tâm; người Tukudede (63,170), ở vùng quanh MaubaraLiquiçá; người Galoli (50,000), giữa các bộ lạc MambaeMakasae; người Kemak (50,000) ở hòn đảo trung bắc Timor; và người Baikeno (20,000), ở vùng quanh Pante Macassar. Các bộ tộc chính chủ yếu có nguồn gốc Papuan gồm Bunak (50,000), ở vùng nội địa trung tâm của đảo Timor; người Fataluku (30,000), ở mũi phía đông hòn đảo gần Lospalos; và người Makasae, ở phía đông cuối hòn đảo. Ngoài ra, như một số cựu thuộc địa Bồ Đào Nha khác nơi các cuộc hôn nhân giữa các sắc tộc thường diễn ra, có một phần nhỏ dân cư là người lai Timor và Bồ Đào Nha, được gọi trong tiếng Bồ Đào Nha là mestiço. Người mestiço Đông Timor nổi tiếng nhất thế giới là José Ramos-Horta, người phát ngôn phong trào kháng chiến hải ngoại, và hiện là Tổng thống Đông Timor. Mário Viegas Carrascalão, thống đốc được Indonesia chỉ định từ năm 1987 tới năm 1992, cũng là một mestiço. Đông Timor cũng có một số lượng nhỏ người Trung Quốc, chủ yếu là người Hakka. Đa số đã ra đi sau cuộc xâm lược của Indonesia, hầu hết sống ở Australia dù một số người Trung Quốc-Timor đã quay trở lại, gồm cả Pedro Lay, Bộ trưởng Hạ tầng.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi độc lập, Đông Timor trở thành nước thứ hai ở Châu Á mà số người theo Công giáo Rôma chiếm đa số (cùng với Philippines). Đa số dân chúng được xác định là theo Công giáo Rôma (90%), mặc dù truyền thống duy linh địa phương có một tác động vững chắc và mạnh mẽ lên văn hóa. Các tôn giáo khác bao gồm Hồi giáo(5%), là tôn giáo của cựu Thủ tướng Đông Timor Mari Alkatiri, và Tin Lành (3%). Còn lại là đạo Hindu (0,3%), đạo Phật (0,1%) và tín ngưỡng duy linh truyền thống. Số người theo Công giáo tăng nhanh chóng dưới thời trị vì của Indonesia, vì tư tưởng quốc gia của Indonesia Pancasila không công nhận đức tin truyền thống và yêu cầu tất cả công dân phải tin vào Chúa trời. Mặc dù sự đấu tranh không phải về tôn giáo, nhưng với tư cách là bộ phận ăn sâu vào nhân dân, Giáo hội Công giáo không chỉ tượng trưng cho sự khác biệt của Đông Timor với đa số Hồi giáo của Indonesia, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong các phong trào phản kháng, đại diện là Linh mục Carlos Filipe Ximenes Belo, người đoạt giải Nobel Hòa bình[38]. Hiến pháp hiểu được vai trò của Giáo hội trong nhân dân Đông Timor mặc dù họ cũng quy định nguyên tắc không đổi là đảm bảo tự do tôn giáo cho mọi người.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Có khoảng 16 ngôn ngữ bản địa, trong đó tiếng Tetum (ngôn ngữ chính thức), Galole, Mambae và Kemak được nhiều người sử dụng nhất. Ngoài ra, tiếng Bồ Đào Nha (ngôn ngữ chính thức), tiếng Indonesia, tiếng Anh cũng được sử dụng.

Hai ngôn ngữ chính thức của Đông Timor là tiếng Bồ Đào NhaTetum, một ngôn ngữ thuộc nhóm Mã lai đa đảo. Một dạng ngôn ngữ Tetum chiếm ưu thế, còn được biết đến như Tetun-Dili, phát triển như một phương ngữ được dùng bởi thực dân ở Dili, và do đó bị tác động mạnh bởi tiếng Bồ, nhưng những phương ngữ khác của Tetum vẫn còn được dùng khắp đất nước, trong đó Tetun-Terik ở bờ biển tây nam. Tiếng Indonesia và tiếng Anh được xem là ngôn ngữ đi làm theo Hiến pháp trong Điều khoản Cuối cùng và Chuyển tiếp, mà không có hạn chót. Mặc dù đất nước có khoản 1 triệu cư dân (tháng 8 năm 2005; ước lượng của UNDP ở Dili), có đến 15 ngôn ngữ bản xứ khác được nói: Bekais, Bunak, Dawan, Fataluku, Galoli, Habun, Idalaka, Kawaimina, Kemak, Lovaia, Makalero, Makasai, Mambai, TokodedeWetarese.

Dưới thời của Indonesia, việc sử dụng tiếng Bồ Đào Nha bị cấm, nhưng nói được dùng trong sự phản kháng bí mật, đặc biệt khi liên lạc với thế giới bên ngoài. Ngôn ngũ, cùng với Tetum, có được tầm quan trọng như một biểu tượng của sự chống đối và tự do và được quy định là một trong hai ngôn ngữ chính thức vì lý do này, và như một liên kết tới những quốc gia trên thế giới. Hiện nay nó được dạy và đề cao rộng rãi với sự giúp đỡ của Brasil, Bồ Đào NhaHiệp hội Latinh, mặc dù sự đề cao nó trong khu vực công cộng và hành chính đã gặp phải sự phản đối của những người Timor trẻ được giáo dục dưới thời Indonesia.

Theo Báo cáo Phát triển LHQ năm 2006 (sử dụng dữ liệu từ điều tra dân số chính thức), dưới 5%[39] dân số Timor thành thạo tiếng Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, giá trị của bảng báo cáo này bị nghi vấn bởi những thành viên của Viện Ngôn ngữ Quốc gia Timor,[40] dứt khoát rằng tiếng Bồ Đào Nha được nói đến 25%, với lượng người nói gấp đôi so với 5 năm trước. Cùng với ngôn ngữ bản địa khác, Tetum vẫn là phương thức liên lạc phổ biến nhất giữa người Timor bình thường, trong khi tiếng Indo vẫn được dùng rộng rãi trong truyền thông và nhà trường từ Trung học đến Đại học. Phần lớn từ vựng trong tiếng Tetum xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha, nhưng nó cũng chia sẻ nhiều từ xuất phát từ tiếng Mãlai của Indonesia. Nhiều từ Indonesia vẫn còn đường dùng thường xuyên trong Tetum và những ngôn ngữ Timor khác, đặc biệt là số đếm.

Đông Timor là thành viên của Cộng đồng các Quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP), còn được biết tới như Khối Thịnh vượng chung Lusophone, và là thành viên của Liên hiệp Latinh. Nó là quốc gia độc lập duy nhất ở Châu Á mà ngôn ngữ chính thức là tiếng Bồ Đào Nha, mặc dù nó cũng là một trong những ngôn ngữ chính thức của Đặc khu Hành chính Ma Cao của Trung Quốc.

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hoá Đông Timor

Văn hoá Đông Timor phản ánh nhiều ảnh hưởng, gồm Bồ Đào Nha, Công giáo La mã, và Malaysia, trên các văn hoá AustronesianMelanesia của Timor. Truyền thuyết cho rằng một con cá sấu khổng lồ đã biến thành hòn đảo Timor, hay Đảo Cá sấu, như nó thường được gọi. Văn hoá Đông Timor bị ảnh hưởng mạnh bởi các truyền thuyết Austronesian, dù ảnh hưởng của Ki-tô giáo cũng mạnh mẽ. Nước này có truyền thống mạnh về thi ca. Ví dụ, Thủ tướng Xanana Gusmão, là một nhà thơ nổi tiếng. Về kiến trúc, có một số công trình kiến trúc Bồ Đào Nha, cùng với những ngôi nhà totem truyền thống ở vùng phía đông. Chúng được gọi là uma lulik (những ngôi nhà linh thiêng) trong tiếng Tetum, và lee teinu (những ngôi nhà có chân) tại Fataluku. Nghề thủ công cũng phổ biến, như dệt khăn quàng truyền thống hay tais.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng một nửa dân số trưởng thành mù chữ.[41] Tỷ lệ mù chữ ở nữ giới cao hơn. [42] Mù chữ chiếm 90% ở cuối thời kỳ cai trị Bồ Đào Nha [cần dẫn nguồn]. Năm 2006, 10-30% trẻ em ở độ tuổi đi học tiểu học không tới trường. [42] Nước này có Đại học Quốc gia Đông Timor. Tiếng Indonesia đóng một vai trò quan trọng trong ngành giáo dục [cần dẫn nguồn].

Sức khoẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thọ khi sinh khoảng 60.7 tuổi năm 2007.[41] Tỷ lệ sinh khoảng 6 trẻ trên một phụ nữ.[41] Tuổi thọ khoẻ mạnh khi sinh là 55 tuổi năm 2007.[41] Chi tiêu chính phủ cho y tế ở mức US$ 150 (PPP) trên đầu người năm 2006.[41] Nhiều người ở Đông Timor thiếu nước sạch.[42]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Timor đã gia nhập nhiều hiệp hội thể thao quốc tế, gồm cả Hội đồng Olympic Quốc tế (IOC). Ban giám đốc IOC đã trao quyền công nhận đầy đủ cho Uỷ ban Olympic Đông Timor (COTL). IOC đã cho phép một đội bốn thành viên chủ yếu mang tính biểu tượng tham gia Olympic Sydney năm 2000 dưới lá cờ Olympic "Các vận động viên Olympic độc lập." Federação de Timor-Leste de Atletismo đã gia nhập Hiệp hội các Liên đoàn Điền kinh Quốc tế (IAAF). Federação de Badminton de Timor-Leste đã gia nhập Liên đoàn Cầu lông Quốc tế (IBF) vào tháng 4 năm 2003. Liên đoàn Đua xe đạp Đông Timor đã gia nhập Union Cycliste Internationale. Confederação do Desporto de Timor Leste đã gia nhập Liên đoàn Cử tạ Quốc tế. Đông Timor cũng là một thành viên đầy đủ của Liên đoàn Bóng bàn Quốc tế (ITTF). Tháng 9 năm 2005, Đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Timor đã gia nhập FIFA.

Đông Timor đã tham gia vào nhiều sự kiện thể thao. Dù không đạt được huy chương, các vận động viện Đông Timor đã có cơ hội cạnh tranh với các vận động viên Đông Nam Á khác tại SEA Games 2003 được tổ chức tại Việt Nam năm 2003. Trong Paralympics Games 2003 ASEAN, cũng được tổ chức ở Việt Nam, Đông Timor đã giành một huy chương đồng. Tại Olympic Athens năm 2004, sáu vận động viên nước này đã tham gia ba môn: điền kinh, cử tạ và đấm bốc. Đông Timor đã giành ba huy chương môn Arnis tại SEA Games 2005. Đông Timor cũng là một trong các quốc gia tranh tài tại Lusophony Games đầu tiên, giành được một huy chương đồng môn bóng chuyền nữ (đứng thứ ba trong ba đội), dù thực tế đội tuyển đã thua cả ba trận đấu. Ngày 30 tháng 10 năm 2008, Đông Timor đã giành được điểm quốc tế đầu tiên trong một trận đấu của FIFA với tỷ số hoà 2-2 trước Campuchia.Tại Sea Games 26 tổ chức tại Indonesia, đội tuyển U23 Đông Timor đã gây bất ngờ khi lần lượt đánh bại hai đối thủ là U23 BruneiU23 Philippines. Đây là những chiến thắng đầu tiên của U23 Đông Timor tại đấu trường này.[43]

Ngày lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Timor hiện có những ngày lễ kỷ niệm các sự kiện lịch sử trong cuộc đấu tranh giành độc lập, cũng như những ngày lễ của Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Chúng được xác định trong Timor-Leste Law no. 10/2005PDF (16.7 KiB).

Ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 Năm mới
ngày khác biệt Eid al-Adha
Tháng 3-4 Thứ sáu Tuần Thánh
1 tháng 5 Ngày quốc tế lao động
20 tháng 5 Ngày phục hồi độc lập Kỷ niệm chuyển giao chủ quyền từ chính phủ chuyển tiếp Liên hiệp quốc, 2002
Tháng 5-6 Corpus Christi
30 tháng 8 Ngày hỏi ý kiến nhân dân Kỷ niệm ngày hỏi ý kiến nhân dân, 1999
1 tháng 11 Lễ Các Thánh
2 tháng 11 Lễ Các Đẳng
12 tháng 11 Ngày thanh niên quốc gia Kỷ niệm thảm sát Santa Cruz, 1991
28 tháng 11 Ngày tuyên bố độc lập 1975
ngày khác biệt Idul Fitri
7 tháng 12 Ngày các anh hùng quốc gia Kỷ niệm cuộc xâm lược của Indonesia vào Đông Timor, 1975
8 tháng 12 Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm
25 tháng 12 Lễ Giáng sinh

Ngoài ra, luật xác định "các ngày kỷ niệm chính thức" không được coi là ngày lễ nhưng có thể được nghỉ làm:

Ngày Tên
Tháng 2-3 Chúa nhật Lễ Lá
Tháng 3-4 Thứ Năm Tuần Thánh
Tháng 5-6 Lễ Thăng Thiên
1 tháng 6 Ngày quốc tế thiếu nhi
20 tháng 8 Ngày của Các lực lượng vũ trang vì sự giải phóng Timor-Leste (FALINTIL)
3 tháng 11 Ngày phụ nữ quốc gia
10 tháng 12 Ngày Nhân quyền Quốc tế

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đề cương East Timor



Các danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/
  2. ^ “East Timor”. The World Factbook. CIA. 
  3. ^ United Nations Member States
  4. ^ USA Department of State: Timor Leste Country Page
  5. ^ European Union deploys Election Observation Mission to Timor Leste
  6. ^ “Brief History of Timor-Leste”. Official Web Gateway to the Government of Timor-Leste. Government of the Democratic Republic of Timor-Leste. 2006. [[]][liên kết hỏng]; A. Barbedo de Magalhães (24 tháng 10 năm 1994). “Population Settlements in East Timor and Indonesia”. University of Coimbra website. University of Coimbra. 
  7. ^ CIA - The World Factbook - Timor-Leste
  8. ^ http://www.lusotopie.sciencespobordeaux.fr/carneiroSousa.rtf
  9. ^ a ă Schwarz, A. (1994). A Nation in Waiting: Indonesia in the 1990s. Westview Press. tr. page 198. ISBN 1-86373-635-2. 
  10. ^ http://www.awm.gov.au/cms_images/histories/20/chapters/21.pdf
  11. ^ Hai ngày trước cuộc xâm lược Dili, Tổng thống Hoa Kỳ Gerald FordNgoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger đã gặp Tổng thống Suharto tại Jakarta nơi Ford đã nói "Chúng tôi sẽ hiểu và sẽ không thúc ép ông về vấn đề. Chúng tôi hiểu vấn đề và những ý định của ông." Kissinger thêm: "Điều quan trọng là bất kỳ điều gì ông làm đều phải thành công nhanh [bởi] việc sử dụng các vũ khí của Mỹ có thể tạo ra các vấn đề." (William Burr and Michael L. Evans (eds.),"East Timor Revisited", National Security Archive, December 6, 2001) Jimmy Carter, trong năm đầu tiên giữ chức tổng thống, đã cho phép cung cấp vũ khí trị giá 112 triệu dollar cho Indonesia.(Shelton)
  12. ^ Fernandes, Clinton (2004) Reluctant Saviour: Australia, Indonesia and East Timor
  13. ^ Districts, Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đông Timor
  14. ^ Nunes, Joe (1996). “East Timor: Acceptable Slaughters”. The architecture of modern political power. ; Ân xá Quốc tế ước tính số người chết ở mức 200,000 (“"POWER AND IMPUNITY" Human rights under the new order”. Amnesty International. September năm 1994. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2006. ); Ben Kiernan đã viết trong War, Genocide, and Resistance in East Timor, 1975–99: Comparative Reflections on Cambodia rằng "các tội ác diễn ra... ở Đông Timor, với con số 150,000 trên dân số 650,000 người, rõ ràng đạt rất nhiều tiêu chí định nghĩa xã hội học về một cuộc diệt chủng được hầu hết các học giả sử dụng cho hiện tượng này, họ coi cả các nhóm chính trị và sắc tộc đều có thể là nạn nhân của diệt chủng." Từ đầu cuộc xung đột năm 1975, số lượng những vụ giết hại xảy ra đã tăng lên, với hàng trăm người bị hành quyết trên bờ cảng Dili và bị ném xuống biển (Charny,Israel W. Encyclopedia of Genocide Volume I. Denver: Abc Clio), tới 60,000 người bị giết hại trong những tháng đầu tiên của cuộc xâm lược. Từ năm 1975 tới năm 1993, những vụ tấn công vào dân thường chỉ được thông tin một cách bình thường trên báo chí phương Tây. Bởi mỗi nguồn dữ liệu đều sử dụng các con số dưới số thực, được coi là tối thiểu.
  15. ^ Benetech Human Rights Data Analysis Group (9 tháng 2 năm 2006). “The Profile of Human Rights Violations in Timor-Leste, 1974-1999”. A Report to the Commission on Reception, Truth and Reconciliation of Timor-Leste. Human Rights Data Analysis Group (HRDAG). 
  16. ^ Dili, 21 June 2000
  17. ^ [27 Jun 2000] SC/6882: SECURITY COUNCIL BRIEFED BY SERGIO VIEIRA DE MELLO, SPECIAL REPRESENTATIVE FOR EAST TIMOR
  18. ^ http://www.unmit.org/UNMISETWebSite.nsf/TimeLineofUNMISET.htm?OpenPage
  19. ^ BBC News
  20. ^ www.iol.co.za;RTE News;The Sydney Morning Herald,RTE News
  21. ^ Herald Sun
  22. ^ ABC News Online
  23. ^ guardian.co.uk
  24. ^ BBC News
  25. ^ A Boeing 737 or C-130 Hercules the largest.
  26. ^ atns.net.au
  27. ^ “Radio Australia”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2007. 
  28. ^ aph.gov.au
  29. ^ transparency.gov.tl
  30. ^ etan.org East Timor and Indonesia Action Network
  31. ^ austlii.edu.au; http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/convention_declarations.htm#Australia%20after%20ratification United Nations]
  32. ^ “Downer's spin and the East Timor talks”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2005. 
  33. ^ canb.auug.org.au
  34. ^ pm.gov.tp
  35. ^ Voice of America, 24.06.07, East Timor Facing Food Crisis and Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Timor-Leste
  36. ^ Gazetteer - Patents
  37. ^ Taylor, Jean Gelman (2003). Indonesia: Peoples and Histories. New Haven and London: Yale University Press. tr. page 378. ISBN 0-300-10518-5. 
  38. ^ See also Liquiçá Church Massacre.
  39. ^ JSMP ReportPDF (295 KiB)
  40. ^ Dr. Geoffrey Hull's reply to the article "The article by Alfred Deakin and the reply from Geoffrey Hull deserve comment", by Sean Foley
  41. ^ a ă â b c http://hdrstats.undp.org/en/countries/data_sheets/cty_ds_TMP.html
  42. ^ a ă â http://content.undp.org/go/newsroom/march-2006/timor-leste-hdr20060309.en?g11n.enc=ISO-8859-1
  43. ^ [1][[]][liên kết hỏng]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cashmore, Ellis (1988). Dictionary of Race and Ethnic Relations. New York: Routledge. ASIN B000NPHGX6
  • Charny, Israel W. Encyclopedia of Genocide Volume I. Denver: Abc Clio.
  • Dunn, James (1996). East Timor: A People Betrayed. Sydney: ABC Books.
  • Levinson, David. Ethnic Relations. Denver: Abc Clio.
  • Rudolph, Joseph R. Encyclopedia of Modern Ethnic Conflicts. Westport: Greenwood P, 2003. 101-106.
  • Shelton, Dinah. Encyclopedia of Genocide and Crimes Against Humanity. Thompson Gale.
  • Taylor, John G. (1999). East Timor: The Price of Freedom. Australia: Pluto Press. ISBN 1-85649-840-9.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ
Thông tin chung