Suharto

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Indonedia; nó không có họ.
Suharto
Soeharto.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 12 tháng 3 năm 1967 – 21 tháng 5 năm 1998
Tiền nhiệm Sukarno
Kế nhiệm Jusuf Habibie
Thông tin chung
Đảng Golkar
Sinh 8 tháng 6 năm 1921
Kemusuk, Đông Ấn thuộc Hà Lan
Mất 27 tháng 1 năm 2008
Jakarta, Indonesia
Nghề nghiệp quân sự
Vợ Tien Soeharto

Suharto (8 tháng 6 năm 1921 – 27 tháng 1 năm 2008) là cựu lãnh đạo quân sự và chính trị của Indonesia. Ông đã là sỹ quan của Cách mạng Dân tộc Indonesia nhưng nổi tiếng hơn với cương vị Tổng thống Indonesia nhiệm kỳ hai trong thời gian dài, từ năm 1967 đến 1998. Giống như nhiều người Java khác, ông chỉ có một tên gọi. Trong những ngữ cảnh khi đề cập về tôn giáo, đôi khi ông được gọi là Haji hay el-Haj Mohammed Suharto, nhưng danh hiệu Hồi giáo không phải là một tên gọi chính thức của ông hay được sử dụng rộng rãi. Tên gọi "Suharto" đã được sử dụng chính thức từ năm 1947 nhưng tên gọi cũ hơn là Soeharto vẫn được thường xuyên sử dụng.

Suharto đã đoạt quyền lực từ người tiên nhiệm và cũng là tổng thống đầu tiên của Indonesia là Sukarno thông qua một thủ đoạn hỗn hợp cả chính trị và vũ lực để đối phó với sự bất ổn của dư luận trong nước và quốc tế. Dưới 3 thập kỷ của chế độ "Trật tự Mới", Suharto đã xây dựng một chính quyền trung ương mạnh theo đường lối quân phiệt. Khả năng duy trì sự ổn định và lập trường công khai chống Cộng đã khiến cho ông được nhiều chính phủ phương Tây ủng hộ về mặt kinh tế và ngoại giao trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Trong thời kỳ cai trị suốt 3 thập kỷ, Indonesia đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế đáng kể[1]. Tuy nhiên, chế độ cai trị của ông đã dẫn đến các cuộc thanh trừng chính trị và các chết của hàng triệu đảng viên của Đảng Cộng sản Indonesia và những người Indonesia gốc Hoa[2] và ban hành Luật chống người Trung Quốc tại Indonesia đặt những người cộng sản và gốc Hoa ngoài vòng pháp luật[3].

Tuy nhiên, đến thập niên 1990, sự gia tăng tha hóađộc tài của thực tiễn chính sách Trật tự Mới của Suharto đã trở thành khởi nguồn của nhiều bất bình. Quyền hạn hầu như không bị chất vấn đối với quốc gia đại sự của Indonesia đã bị suy giảm nghiêm trọng khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã làm giảm mức sống của dân Indonesia và làm rạn nứt ủng hộ giữa các thể chế dân sự, chính trị và quân sự. Sau sự bất ổn về chính trị, sự cô lập về ngoại giao đã rút cạn các ủng hộ dành cho ông vào giữa cuối thập niên 1990. Suharto đã bị buộc phải từ chức vào tháng 5 năm 1998 sau cuộc các cuộc biểu tình hàng loạt.

Sau khi thời gian cầm quyền hơn 30 năm, Suharto đã sống những năm tháng hậu tổng thống ẩn dật. Các nỗ lực xét xử ông dựa trên các cáo buộc diệt chủng đã thất bại do sức khỏe tồi tệ của ông. Di sản của ông để lại vẫn đang được tranh cãi và bàn luận gay gắt ở Indonesia và ở các cuộc tranh luận chính sách đối ngoại ở phương Tây.

Lý lịch và con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Suharto được sinh ra dưới thời Indonesia đang là thuộc địa của thực dân Hà Lan, tại thôn Kemusuk, một phần của xã Godean, cácch Yogyakarta 15 km về phía Tây, ở miền Trung của Java.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Miguel, Edward; Paul Gertler, David I. Levine (January 2005). "Does Social Capital Promote Industrialization? Evidence from a Rapid Industrializer". Econometrics Softare Laboratory, University of California, Berkeley. 
  2. ^ Robert Cribb (2002). “Unresolved Problems in the Indonesian Killings of 1965-1966”. Asian Survey 42 (4): 550–563. 
  3. ^ Leo Suryadinata (1976). “Indonesian Policies toward the Chinese Minority under the New Order”. Asian Survey 16 (8): 770–787.