Jakarta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đặc khu Thủ đô Jakarta
Daerah Khusus Ibukota Jakarta Raya
Khẩu hiệu: Jaya Raya
(nghĩa: "Thịnh vượng và Vĩ đại")
Jakarta trên bản đồ Indonesia
Jakarta
Jakarta
Jakarta (Indonesia)
Tỉnh lỵ Jakarta
Tỉnh trưởng Fauzi Bowo
Diện tích 661,52 km²
Dân số 8.792.000 (năm 2004)
Các dân tộc Javanese (35%), Betawi (28%), Sundanese (15%), người Hoa (6%), Batak (4%), Minangkabau (3%) [1]
Tôn giáo Hồi giáo (86%), Tin Lành (6%), Công giáo (4%), Phật giáo (4%), Ấn Độ giáo
Ngôn ngữ tiếng Indonesia, tiếng lóng Betawi, tiếng Java, tiếng Sunda
Múi giờ WIB (UTC+7)
Trang Web www.jakarta.go.id

Jakarta (phiên âm tiếng Việt: Gia-các-ta) tên đầy đủ là Tỉnh Đặc khu Thủ đô Jakarta (tiếng Indonesia: Propinsi Daerah Khusus Ibukota Jakarta, viết tắt là Propinsi DKI Jakarta hoặc DKI Jakarta) là thủ đô của Indonesia. Nó là một tỉnh của Indonesia. Trước đây được biết đến như là Sunda Kelapa, JayakartaBatavia. Jakarta tọa lạc trên bờ tây bắc của Đảo Java, có diện tích 661,52 km² và dân số 8.792.000 người năm 2004. Jakarta đã phát triển hơn 490 năm và hiện là vùng đô thị có mật độ dân cư xếp thứ 9 thế giới với 44.283 người/dặm vuông. Vùng đô thị Jakarta được gọi là Jabotabek và có 23 triệu người và nó bao gồm Vùng Đại đô thị Jakarta-Bandung.

Jakarta có Sân bay Quốc tế Soekarno-Hatta. Từ năm 2004, dưới trào Sutiyoso đã phát triển hệ thống giao thông vận tải mới. Đến năm 2007, Jakarta sẽ có xe điện trên cao Monorail. Jakarta có Sở giao dịch chứng khoán Jakarta.

Khu cao ốc của Jakarta

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

(Từ trên xuống, từ trái qua phải,): Jakarta Skyline, Jakarta cũ, khách san Indonesia Roundabout, Đài tưởng niệm quốc gia, Harmoni, Thánh đường Istiqlal

Các bản ghi chép về vùng đất mà ngày nay là Jakarta là một cảng có nguồn gốc có thể truy nguyên là một khu định cư của người Ấn giáo thế kỷ 4. Đến thế kỷ 14, đây đã là một cảng lớn của vương quốc Ấn giáo Sunda. Đội tàu châu Âu đầu tiên đã đến đây năm 1513 gồm 4 con tàu Bồ Đào Nha từ Malacca. Malacca bị Alfonso d'Albuquerque xâm lược năm 1511 khi người Bồ Đào Nha tìm kiếm gia vị và đặc biệt là hồ tiêu. Mối quan hệ giữa vương quốc Sunda và người Bồ Đào Nha được tăng cường khi một người Bồ Đào Nha khác tên là Enrique Leme viếng thăm Sunda với ý định tặng quà. Ông ta đã được đón tiếp nồng nhiệt năm 1522, và nhờ đó, người Bồ Đào Nha đã nhận được quyền xây kho và mở rộng pháo đài ở Kalapa (tên của vị trí). Đây được những cư dân Sunda xem như sự củng cố địa vị của họ chống lại các đội quân Hồi Giáo đang có thế lực tăng lên của Sultanate (vương quốc Hồi Giáo) Demak ở Trung Java.

Năm 1527, những đội quân Hồi Giáo đến từ CirebonDemak dưới sự lãnh đạo của Fatahillah đã tấn công Vương quốc Sunda. Nhà vua đã mong đợi người Bồ Đào Nha đến và giúp giữ quân đội của Fatahillah, do một hiệp ước đã được ký kết giữa Sunda và người Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, quân đội Fatahillah đã thành công và đã chiếm thành ngày 22 tháng 6 năm 1557 và Fatahillah đã quyết định đổi tến "Sunda Kelapa" thành "Jayakarta" ("Chiến thắng huy hoàng").

Batavia năm 1897.

Người theo Sultan Banten (vị trí của Jayakarta), Hoàng tử Jayawikarta, cũng góp phần chính trong lịch sử của Jakarta. Năm 1596, nhiều tàu Hà Lan đã đến Jayakarta với ý định buôn bán gia vị, gần giống như người Bồ Đào Nha vậy. Năm 1602, chuyến đi đầu tiên của Công ty Đông Ấn Anh, dưới quyền chỉ huy của Sir James Lancaster, đã đến Aceh và giương buồm đi Bantam nơi ông ta đã được phép xây đồn trạm và đã trở thành trung tâm mậu dịch của Anh ở Indonesia cho đến năm 1682. Trong trường hợp này, Hoàng tử đã xem việc người Hà Lan đến đây một cách nghiêm trọng do người người Hà Lan trước đó đã xây nhiều tòa nhà quân sự. Hoàng tử Jayawikarta rõ ràng trước đó cũng đã có mối liên hệ với người Anh và đã cho phép họ xây nhiều ngôi nhà trực tiếp ngang qua các tòa nhà của người Hà Lan năm 1615. Khi các mối quan hệ giữa Hoàng tử Jayawikarta và người Hà Lan sau đó xấu đi, những người lính của ông đã tấn công pháo đài của Hà Lan với hai tòa nhà chính, Nassau và Mauritus. Nhưng thậm chí với sự trợ giúp của 15 tàu từ Anh, quân đội của Hoàng tử Jayakarta cũng không thể đánh bại người Hà Lan vì Jan Pieterszoon Coen (J.P. Coen) đã đến Jayakarta vừa kịp lúc, đẩy lui tàu Anh và đốt cháy các đồn trạm buôn của người Anh.

Mọi việc đã thay đổi đối với Hoàng tử khi Sultan (vương quốc Hồi Giáo) Banten phái lính và triệu mời Hoàng tử Jayawikarta đến để thiết lập mối quan hệ gần gũi với người Anh mà không có sự chấp thuận của chính quyền Banten. Quan hệ giữa cả Hoàng tử Jayawikarta và người Anh với chính quyền Banten trở nên xấu hơn và dẫn đến quyết định của Hoàng tử dời đến Tanara, một nơi nhỏ ở Banten, cho đến khi ông qua đời. Điều này giúp người Hà Lan trong những nỗ lực của họ thiết lập quan hệ gần gũi với Banten. Người Hà Lan đến lúc này đã đổi tên thành "Batavia", và duy trì tên này cho đến 1942.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt chính thức, Jakarta không phải là một thành phố mà là một tỉnh với tư cách đặc biệt là thủ đô của Indonesia. Jakarta gồm năm thành phố (kotamadya) và một huyện. Jakarta được quản lý như nhiều tỉnh khác của Indonesia. Đứng đầu bộ máy hành pháp Jakarta là tỉnh trưởng. Còn mỗi thành phố của nó được đứng đầu bởi một thị trưởng. Đứng đầu mỗi huyện là một huyện trưởng.

Các thành phố của Jakarta:

Huyện duy nhất của Jakarta là:

Địa lý và khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Jakarta nằm trên bờ biển tây bắc của Java, tại cửa sông Ciliwung đổ ra vịnh Jakarta Bay, nối với biển Java. Chính thức thì khu vực quận đặc biệt Jakarta có diện tích đất liền là 662 km2 (256 sq mi) và 6,977 km2 (3 sq mi) diện tích mặt nước.[2] Nghìn đảo là một đơn vị hành chính của Jakarta, nằm trong vịnh Jakarta ở phía bắc của thành phố.

Jakarta nằm ở phần thấp và bằng phẳng của lưu vực với độ cao trung bình 7 mét (23 ft) trên mực nước biển trung bình; 40% của Jakarta, đặc biệt là phía bắc thấp hơn mực nước biển,[3] trong khi phần phía nam chủ yếu là đồi. Các sông đổ ra từ cao nguyên Puncak ở phía nam của thành phố, chảy qua thành phố về phía bắc đổ ra biển Java; sông Ciliwung chia thành ph61 thành phía tây và đông. Các sông khác gồm Pesanggrahan, và Sunter.

Tất cả các sông này kết hợp với mùa mưa ẩm ướt và hệ thống thoát nước không đủ làm cho Jakarta phản đối mặt với lũ. Hơn nữa, Jakarta đang chìm với tốc độ 5–10 cm mỗi năm, thậm chí lên đến 20 cm ở các khu vực bờ biển phía bắc. Để giải quyết vấn đề này, Hà Lan sẽ chi 4 tỉ USD cho nghiên cứu khả thi để xây dựng một đê xung quanh vịnh Jakarta.[4]

Toàn cảnh trung tâm Jakarta nhìn từ tượng đài Quốc gia

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Jakarta có khí hậu ẩm nóng trên ranh giới giữa gió mùa nhiệt đo81i (Am) và khí hậu savanna (Aw) theo phân loại của Köppen. Do nằm tương đối gần xích đạo, thành phố có các mùa khô và ẩm rõ rệt. Mùa ẩm ở Jakarta từ tháng 11 đến tháng 6 và mùa khô diễn ra trong các tháng còn lại. Nằm trên bờ tây Java, mùa ẩm ở Jakarta đạt đỉnh vào thàng 1 với lượng mưa trung bình tháng đạt 389 milimét (15,3 in), và mù khô lượng mưa thấp nhất vào tháng 9 với lượng mưa trung bình 30 milimét (1,2 in).

Dữ liệu khí hậu của Jakarta
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 31.5 32.3 32.5 33.5 33.5 34.3 33.3 33.0 32.0 31.7 31.3 32.0 32,6
Trung bình thấp, °C (°F) 24.2 24.3 25.2 25.1 25.4 24.9 25.1 24.9 25.5 25.5 24.9 24.9 24,8
Lượng mưa, mm (inches) 389.7
(15.343)
309.8
(12.197)
100.3
(3.949)
257.8
(10.15)
139.4
(5.488)
83.1
(3.272)
30.8
(1.213)
34.2
(1.346)
30.0
(1.181)
33.1
(1.303)
175.0
(6.89)
123.0
(4.843)
1.706,2
(67,173)
độ ẩm 85 85 83 82 82 81 78 76 75 77 81 82 81
Số ngày mưa TB 26 20 15 18 13 17 5 5 6 9 22 12 168
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 189 182 239 255 260 255 282 295 288 279 231 220 2.975
Nguồn #1: Tổ chức Khí tượng thế giới[5]
Nguồn #2: Viện Khí tượng Đan Mạch (giờ nắng và độ ẩm tương đối)[6]

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Một vài hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Indonesia's Population: Ethnicity and Religion in a Changing Political Landscape. Institute of Southeast Asian Studies. 2003. 
  2. ^ Based on Governor Decree in 2007, No. 171. taken from Statistics DKI Jakarta Provincial Office, Jakarta in Figures, 2008, BPS, Province of DKI Jakarta
  3. ^ “The Tides: Efforts Never End to Repel an Invading Sea”. Jakarta Globe. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  4. ^ Dutch to study new dike for Jakarta Bay | The Jakarta Post
  5. ^ “World Weather Information Service – Jakarta”. World Meteorological Organization. Tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ Cappelen, John; Jensen, Jens. “Indonesien - Jakarta, Java”. Climate Data for Selected Stations (1931-1960) (bằng Danish). Danish Meteorological Institute. tr. 128. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012. 
Flag of Indonesia Tỉnh của Indonesia Coat of arm of Indonesia
Sumatra: Aceh | Bắc Sumatera | Tây Sumatera | Bengkulu | Riau | Quần đảo Riau | Jambi | Nam Sumatera | Lampung | Bangka-Belitung
Java: Jakarta | Tây Java | Banten | Trung Java | Yogyakarta | Đông Java
Kalimantan: Tây Kalimantan | Trung Kalimantan | Nam Kalimantan | Đông Kalimantan | Bắc Kalimantan
Quần đảo Nusa Tenggara: Bali | Tây Nusa Tenggara | Đông Nusa Tenggara
Sulawesi: Tây Sulawesi | Bắc Sulawesi | Trung Sulawesi | Nam Sulawesi | Đông Nam Sulawesi | Gorontalo
Quần đảo MalukuTây New Guinea: Maluku | Bắc Maluku | Tây Papua | Papua