Đức
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Đức (định hướng).
| Bundesrepublik Deutschland Cộng hoà Liên bang Đức |
||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||
| Khẩu hiệu Einigkeit und Recht und Freiheit (Tiếng Đức: "Đoàn kết và Công lý và Tự do") |
||||||
| Quốc ca Das Lied der Deutschen (Khổ 3) |
||||||
| Thủ đô (và là thành phố lớn nhất) |
Berlin |
|||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Đức¹ | |||||
| Chính phủ | Cộng hòa liên bang | |||||
| - | Tổng thống Thủ tướng |
Horst Köhler Angela Merkel (Dân chủ Thiên chúa giáo) |
||||
| Thành lập | ||||||
| - | Thánh chế La Mã Đế chế Đức Cộng hòa Weimar Cộng hòa Liên bang Đức Cộng hòa Dân chủ Đức Tái Thống nhất |
|||||
| Diện tích | ||||||
| - | Tổng số | 357,050 km² (hạng 61) |
||||
| - | Nước (%) | 2,416% | ||||
| Dân số | ||||||
| - | Ước lượng 2005 | 82.443.000 (hạng 14) | ||||
| - | Mật độ | 230 /km² (hạng 34) |
||||
| GDP (PPP) | Ước tính 2005 | |||||
| - | Tổng số | 2.498 tỉ USD (hạng 5) | ||||
| - | Theo đầu người | 30.150 USD (hạng 17) | ||||
| HDI (2006) | 0,938 (cao) (hạng 16) | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Euro² (EUR) |
|||||
| Múi giờ | CET (UTC+1) | |||||
| - | Mùa hè (DST) | CEST (UTC+2) | ||||
| Tên miền Internet | .de | |||||
| Mã số điện thoại | +49 | |||||
| Biển số xe quốc tế: D ¹ Nhiều ngôn ngữ được công nhận dưới Hiến chương Âu Châu về Ngôn ngữ Miền và Thiểu số ² Trước 2002 là Mark Đức |
||||||
Cộng hoà Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) ngày nay là một nước Đức thống nhất do sự sáp nhập của nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) vào nước Cộng hòa Liên bang Đức cũ (Tây Đức) vào năm 1990. Cộng hòa Liên bang Đức thống nhất hiện nay là một quốc gia liên bang nằm ở Trung Âu và có chung đường biên giới với các nước Đan Mạch (về phía bắc), Ba Lan và Séc (phía đông), Áo và Thụy Sĩ (về phía nam), Pháp, Luxembourg, Bỉ và Hà Lan (về phía tây). Ở phía bắc, Đức nằm giáp ranh với biển Baltic và Bắc Hải. ('Aus der Mitten Europa' - DW_TV)
Thủ đô và trụ sở của chính phủ Đức nằm tại Berlin nhưng đa số nhân viên của các bộ và nhiều cơ quan liên bang vẫn còn ở tại Bonn, là thủ đô liên bang trước đây (hiện nay là thành phố liên bang). Hệ thống chính trị được tổ chức theo lối liên bang và dân chủ nghị viện: theo điều 20 của Hiến pháp, nước Đức là một quốc gia liên bang dân chủ và xã hội và là một quốc gia pháp quyền. Vào ngày 3 tháng 10 năm 1990 nước Cộng hòa Dân chủ Đức sáp nhập vào quốc gia liên bang này tạo nên nước Đức thống nhất ngày nay bao gồm 16 bang độc lập trên cơ sở hệ thống pháp luật liên bang cũ. Nước Đức với dân số hơn 82 triệu là quốc gia có dân số lớn thứ nhì của châu Âu sau Nga. Đức là một trong những thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu và là nước đông dân nhất trong khối này. Cộng hòa Liên bang Đức là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ 18 tháng 9 năm 1973. Ngoài ra Đức còn là thành viên trong khối NATO và G8.
Đức lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 23 tháng 9 năm 1975.
[sửa] Địa lý
[sửa] Vị trí
Nước Đức nằm trong Trung Âu, giữa 47°16′15″ và 55°03′33″ vĩ độ bắc và 5°52′01″ và 15°02′37″ kinh độ đông. Về phía bắc Đức có ranh giới với Đan Mạch (có chiều dài 67 km), về phía đông-bắc là Ba Lan (442 km), về phía đông là Séc 811 km), về phía đông nam là Áo (815 km không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía nam là Thụy Sĩ (316 km, với biên giới của lãnh thổ bên ngoài (tiếng Anh: exclave) Büsingen nhưng không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía tây nam là Pháp (448 km), về phía tây là Luxembourg (135 km) và Bỉ (156 km) và về phía tây bắc là Hà Lan (567 km). Chiều dài ranh giới tổng cộng là 3.757 km. Trong khi ở phía Tây-Bắc bờ biển của biển Bắc và ở phía Đông-Bắc là biển Baltic tạo thành biên giới quốc gia tự nhiên thì về phía Nam nước Đức là một phần của dãy núi Alpen.
Lãnh thổ bên ngoài duy nhất của Đức là Büsingen nằm trong vùng thượng lưu sông Rhein thuộc về huyện Konstanz của bang Baden-Württemberg. Büsingen có diện tích là 7,62 km² và được bao bọc hoàn toàn bởi 3 bang là Schaffhausen, Thurgau và Zürich. Ngoài ra còn có Kleinwalsertal thuộc Áo và nếu bằng đường bộ hay bằng đường thủy thì chỉ xuyên qua lãnh thổ quốc gia Đức mới có thể đến được.
[sửa] Điểm trung tâm và các điểm ngoài cùng của Đức
Theo Sách thống kê hằng năm Đức (Statistisches Jahrbuch Deutschland – thời điểm năm 2000) điểm trung tâm về địa lý của Đức nằm trong làng Niederdorla thuộc bang Thüringen, giữa đoạn đường từ Erfurt đến Göttingen, trên 51°09´54´´ vĩ độ bắc và 10°27´19´´ kinh độ đông.
Điểm cực bắc của Đức nằm trên bán đảo Elenbogen thuộc đảo Sylt, điểm cực bắc trên đất liền của quốc gia nằm trên bờ biển tây của bang Schleswig-Holstein tại Rickelsbüller Koog, điểm cực nam là Haldenwanger Eck nằm về phía Nam của Oberstdorf (Bayern) trên núi Alpen. Từ Ellenbogen đến Haldenwanger Eck là khoảng 886 km (đường chim bay).
Điểm cực tây của Đức nằm trong bang Nordrhein-Westfalen, không xa Isenbruch (là địa danh cực tây của quốc gia), điểm cực đông nằm giữa Neißeaue-Deschka (làng cực đông của quốc gia) và Neißeaue-Zentendorf trong một vòng cung của sông Neiße. Từ Isenbruch đến vòng cung này của sông Neiße gần Zentendorf là tròn 636 km (đường chim bay).
[sửa] Địa hình
Địa hình thay đổi đặc biệt là theo hướng từ Bắc vào Nam vì địa thế có chiều hướng cao hơn và dốc hơn về phía Nam. Phần miền Bắc của nước Đức, vùng đồng bằng Bắc Đức, là một vùng đồng bằng mà phần lớn được tạo thành từ thời kỳ Băng hà, kế tiếp về phía nam là vùng đồi núi có rừng ở trung tâm và các phần đất miền Nam của Đức. Đặc biệt là tại bang Bayern nhưng cũng ở tại bang Baden-Württemberg địa hình này chuyển tiếp đến vùng Alpenvorland Bắc tương đối cao, vùng mà sau đấy lại chuyển tiếp đến vùng núi cao của dãy núi Alpen.
[sửa] Địa chất
Nước Đức đa dạng về địa chất. Trong khi các phong cảnh mang dấu ấu của thời kỳ Băng hà, các vùng đất thấp và các lưu vực sông chỉ thành hình từ niên đại Phân đại đệ tam thì vùng đồi núi trung bình có niên đại lâu đời hơn rất nhiều.
Các vùng đồi núi đã bị xói mòn, thí dụ như vùng Rừng Đen (Schwarzwald), đã hình thành từ thời Đại Cổ sinh và được cấu thành chủ yếu từ loại đá xâm nhập (tiếng Anh: plutonic rock) như đá gơnai và granite. Vùng Rheinisches Schiefergebirge cũng có niên đại tương tự, được thành hình trong kỷ Silur và kỷ Devon. Tại ranh giới về phía Bắc của vùng này còn có các thành hệ từ kỷ Than đá, trong đó vùng Ruhr có các mỏ than đá có trữ lượng lớn.
Diện mạo địa hình miền Nam nước Đức phần lớn do những phát triển trong kỷ Đại Trung Sinh: trong khi Pfalz, Thüringen, nhiều phần của Bayern và Sachsen được tạo thành về mặt địa chất trong kỷ Trias thì vùng Schwäbische Alb và Fränkische Alb chạy ngang qua miền Nam nước Đức là kết quả của việc đáy biển nâng lên trong kỷ Juras. Các vùng được nhắc đến đầu tiên có sa thạch, các vùng sau có đá vôi là những thành hệ địa chất chiếm ưu thế.
Hoạt tính núi lửa không được quan sát thấy tại Đức. Tuy vậy trong một số vùng vẫn có đá núi lửa xuất phát từ hoạt động núi lửa trước đây, đặc biệt là trong Vulkaneifel và trên Vogelsberg trong bang Hessen. Nước Đức nằm hoàn toàn trên mảng Âu Á vì vậy không có những trận Động đất với hậu quả nặng nề. Mặc dầu vậy Vết nứt gãy Rhein (Rheingraben) trong bang Nordrhein-Westfalen được xếp vào vùng nguy hiểm động đất trung bình, kéo dài đến các nước láng giềng Bỉ và Hà Lan (đọc vùng động đất Kölner Bucht).
[sửa] Sông ngòi
Nước Đức giáp biển Bắc tại các bang Niedersachsen và Schleswig-Holstein. Đây là một biển nằm trên thềm lục địa thuộc Đại Tây Dương. Cùng với eo biển Manche, vùng phía nam của biển Bắc là vùng biển có mật độ giao thông cao nhất thế giới. Các bang Mecklenburg-Vorpommern và Schleswig-Holstein nằm cạnh biển Baltic, là một biển nội địa được nối liền với biển Bắc qua eo biển Skagerrak. Độ thay đổi thủy triều ở biển Baltic ít hơn ở biển Bắc rất nhiều.
Những sông chính là các sông Rhein, Donau, Elbe, Oder, Weser và Ems. Dài nhất trong các sông này là sông Donau (tiếng Anh: Danube). Với 2.845 km từ nơi giao lưu của hai sông Brigach và Breg và là nguồn của sông Donau tại Donaueschingen hay với 2.888 km từ nguồn của sông Breg tại vùng ranh của Rừng Đen (Schwazwald) sông Donau là sông dài thứ nhì trong châu Âu sau sông Volga. Thế nhưng chỉ một phần nhỏ của toàn bộ đoạn đường của sông Donau là chảy qua Đức (47 km). Sông Donau đổ ra biển Đen.
Tất cả những sông Đức khác chảy ra biển Bắc hay biển Baltic. Đường phân thủy châu Âu qua nước Đức chạy về phía Đông của vùng đồng bằng thượng lưu sông Rhein trên chỏm núi chính của vùng Rừng Đen. Trong những sông này sông Rhein chính là con sông có đoạn đường dài nhất trong nước Đức. Trong số 1.320 km đường sông có 865 km nằm trong nước Đức. Thêm vào đó sông này còn có một vai trò tạo cá tính riêng cho người Đức, được kết tụ từ lịch sử và nhiều thần thoại cũng như truyền thuyết. Chức năng kinh tế của con sông này cũng rất quan trọng: sông Rhein là một trong những đường thủy có mật độ giao thông nhiều nhất châu Âu.
Sông Elbe bắt nguồn từ Riesengebirge (tiếng Séc: Krkonoše) tại biên giới của Séc và Ba Lan và đổ ra biển Bắc tại Cuxhaven sau khoản 1.165 km, trong đó là 725 km nằm trong nước Đức. Đã có thời gian sông này là một trong những sông bị ô nhiễm chất độc hại nhiều nhất châu Âu, nhưng trong thời gian gần đây chất lượng nước đã tốt hơn rõ rệt.
Nguồn sông Oder nằm tại Beskiden (tiếng Séc: Beskydy) của Séc. Sau vài ki lô mét sông Oder chảy sang Ba Lan và trung lưu của nó chạy qua Schlesien (tiếng Ba Lan: Śląsk, tiếng Séc: Slezsko). Hạ lưu sông này tạo thành biên giới Đức-Ba Lan để rồi lại đổ vào vùng nước đông Stettin trong lãnh thổ Ba Lan. Qua eo biển Świna dòng sông này chảy qua giữa các đảo Usedom và Wollin đổ vào biển Baltic.
Các hồ trong nước Đức phần lớn thành hình sau khi thời kỳ Băng hà chấm dứt. Do vậy mà đa số các hồ lớn nằm trong các vùng đã từng bị băng tuyết bao phủ hay vùng đất cạnh trước đó, đặc biệt là tại Mecklenburg và Alpenvorland. Hồ lớn nhất có phần thuộc Đức là Bodensee, hồ cũng là biên giới của Áo và Thụy Sĩ. Hồ lớn nhất hoàn toàn thuộc về lãnh thổ quốc gia của Đức là Müritz.
[sửa] Núi và vùng thấp
Núi Alpen là dãy núi cao duy nhất mà một phần thuộc về nước Đức.Tại đấy là ngọn Zugspitze (2.962 m), ngọn núi cao nhất Đức. Vùng núi với độ cao trung bình có khuynh hướng cao dần và rộng ra từ Bắc xuống Nam. Ngọn núi cao nhất ở đấy là Feldberg trong vùng Rừng Đen (Schwarzwald) với 1.493 m, kế tiếp là Arber Lớn (Große Arber) trong Rừng Bayern (Bayerischer Wald) với 1.456 m. Ngoài ra, có các ngọn núi trên 1.000 m là các vùng Erzgebirge, Fichtelgebirge, Schwäbische Alb và trường hợp đặc biệt là Harz bị cô lập hẳn như là vùng đồi núi ở về phía Bắc nhiều nhất trong các vùng đồi núi của nước Đức với ngọn Brocken nhô cao đến 1.142 m. Về phía bắc của đợt đồi núi này chỉ còn một vài thành hệ địa chất cao hơn 100 m, trong số đó có Hagelberg trong Fläming với 200 m là ngọn cao nhất.
Địa điểm thấp nhất vẫn còn có thể đi được của Đức nằm dưới mực nước biển 3,54 m trong một vùng trũng gần Neuendorf-Sachsenbande trong Wilstermarsch (bang Schlewig-Holstein). Cũng nằm trong bang này là điểm thấp nhất với 39,10 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của hồ Hemmelsdorf về phía bắc-đông bắc của Lübeck. Điểm nhân tạo thấp nhất với 293 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của mỏ lộ thiên Hambach về phía đông của Jülich trong bang Nordrhein-Westfalen.
[sửa] Đảo
So với chiều dài bờ biển thì Đức có một số lượng đảo đáng kể. Các đảo này trong biển Bắc phần lớn nằm trong dạng hình chuỗi trước đất liền. Chúng được chia ra thành các đảo bắc Friesen và đông Friesen, là một phần của bãi bồi Wattenmeer Đức. Các đảo bắc Friesen của Đức thuộc bang Schleswig-Holstein và bao gồm các đảo lớn Sylt, Föhr, Amrum và Pellworm cũng như là các đảo Hallig nhỏ hơn rất nhiều. Từ khi đắp đập Beltringharder Koog thì Nordrand đã trở thành một bán đảo. Các đảo đông Friesen thuộc bang Niedersachsen có độ lớn tương tự. Các đảo này hình thành từ những bãi cát bồi do tác động của sóng biển. Lớn nhất trong các đảo này là Borkum. Một trường hợp ngoại lệ là đảo Helgoland nằm ngoài khơi xa của biển Bắc.
Các đảo trong biển Baltic nằm gần bờ biển Bodden của Đức có chiều hướng lớn hơn và có địa hình thay đổi nhiều hơn. Đảo lớn nhất trong các đảo này và đồng thời cũng là hòn đảo lớn nhất của Đức là Rügen, tiếp theo đó là Usedom mà đầu mũi đảo về phía đông đã thuộc về Ba Lan. Cũng như các đảo trên biển Bắc, các đảo của biển Baltic là điểm đến du lịch được ưa thích.
Trong một số sông hồ nội địa Đức cũng có đảo mà trong đó được biết đến nhiều nhất là Mainau và Reichenau trên Bodensee cũng như là Herrenchiemsee trên Chiemsee.
[sửa] Khí hậu
Nước Đức thuộc về vùng khí hậu ôn hòa Trung Âu, trong khu vực của vùng gió Tây và nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa khí hậu biển trong Tây Âu và khí hậu lục địa trong Đông Âu. Ngoài những yếu tố khác, khí hậu chịu ảnh hưởng của dòng hải lưu Golfstream tạo nên những trị khí hậu ấm áp khác thường so với vị trí vĩ độ này.
Điều kiện thời tiết khắt nghiệt như hạn hán kéo dài, gió xoáy (Tornado), băng giá lạnh với nhiệt độ cực thấp hay nóng cao độ tương đối hiếm. Thế nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện giông bão mà đã gây ra nhiều thiệt hại nặng như trong năm 2000 và 2002. Tại Đức cũng thường hay xảy ra nước lũ sau thời gian mưa nhiều trong mùa hè (lũ lụt Oder năm 1997, lũ lụt Elbe năm 2002) hay sau khi tan tuyết trong mùa đông mà có thể dẫn đến lụt và gây tàn phá nặng. Việc hay có nước lũ tại sông Rhein có thể là do việc đắp đập và đào thẳng sông Rhein trong thế kỷ 19 dưới sự lãnh đạo của Tulla đã xóa bỏ các vùng ngập nước tự nhiên trước kia của con sông này. Hạn hán chủ yếu chỉ xảy ra ở vùng đông bắc nước Đức nhưng đôi lúc cũng ảnh hưởng đến trên toàn nước Đức như lần cuối cùng là trong đợt nóng năm 2003.
Số liệu khí hậu (giá trị trung bình của các năm 1961–1990):
| Cả năm | Tháng trong năm | ||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 3 đến 5 | 6 đến 8 | 9 đến 11 | 12 đến 2 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | ||
| Nhiệt độ trung bình (°C) | 8,4 | 7,8 | 16,5 | 9,1 | 0,9 | −0,5 | 0,5 | 3,7 | 7,6 | 12,2 | 15,5 | 17,1 | 16,9 | 13,8 | 9,4 | 4,2 | 0,9 |
| Nhiệt độ thấp nhất (°C) | 4,6 | 3,4 | 11,6 | 5,5 | −2,4 | −3,0 | −2,5 | 0,0 | 3,0 | 7,3 | 10,6 | 12,3 | 12,0 | 9,3 | 5,7 | 1,6 | −1,5 |
| Nhiệt độ cao nhất (°C) | 12,4 | 12,3 | 21,4 | 12,8 | 2,9 | 2,0 | 3,4 | 7,5 | 12,1 | 17,2 | 20,4 | 22,0 | 21,9 | 18,4 | 13,1 | 6,9 | 3,2 |
| Biên độ nhiệt (°C) | 7,8 | 8,8 | 9,8 | 7,3 | 5,2 | 5,0 | 5,9 | 7,4 | 9,1 | 9,9 | 9,8 | 9,7 | 9,8 | 9,0 | 7,5 | 5,3 | 4,7 |
| Số ngày có tuyết | 103,9 | 27,5 | 0,7 | 16,9 | 58,7 | 21,0 | 19,3 | 16,4 | 9,0 | 2,2 | 0,3 | 0,2 | 0,2 | 0,8 | 4,5 | 11,6 | 18,4 |
| Số ngày mưa | 178,2 | 44,0 | 44,3 | 43,0 | 46,8 | 16,6 | 13,4 | 14,9 | 14,3 | 14,9 | 15,1 | 14,8 | 14,4 | 13,6 | 13,5 | 15,9 | 16,8 |
| Lượng nước mưa (mm) | 700 | 163 | 221 | 166 | 150 | 51 | 40 | 48 | 51 | 65 | 77 | 72 | 71 | 57 | 50 | 58 | 59 |
| Áp suất không khí (hPa−1000) | 9,3 | 8,1 | 13,7 | 9,9 | 5,7 | 5,5 | 5,5 | 6,4 | 7,6 | 10,2 | 12,9 | 14,2 | 14,2 | 12,4 | 9,9 | 7,3 | 6,0 |
| Mây (%) | 72,0 | 69,3 | 63,0 | 73,8 | 81,9 | 83,5 | 78,0 | 74,8 | 69,3 | 63,8 | 64,8 | 63,5 | 60,6 | 66,9 | 72,9 | 81,5 | 84,3 |
| Nguồn: Tyndall Centre for Climate Change Report | |||||||||||||||||
Tùy theo vùng mà các trị về khí hậu vượt quá hay thấp dưới giá trị trung bình về khí hậu của toàn nước Đức rất nhiều. Miền Nam Baden ghi nhận nhiệt độ trung bình cả năm cao nhất là 11°C trong khi ở Oberstdorf trị trung bình nằm dưới 6°C. Thêm vào đó một xu hướng nóng lên đang hình thành: theo số liệu của Deutscher Wetterdienst (Nha khí tượng quốc gia Đức) thì ngoại trừ năm 1996 nhiệt độ trung bình của tất cả các năm từ 1988 đều trên nhiệt độ trung bình lâu năm là 8,3°C, trong năm 2003 còn đạt đến 9,9°C. Đặc biệt là mùa hè đã nóng hơn rõ rệt. Thêm vào đó là mùa xuân cứ đến sớm hơn 5 ngày mỗi một thập niên. Chim di trú ở lại Đức lâu hơn gần 1 tháng so với thập niên 1970. Nhiệt độ thấp nhất từng được đo ở Đức là -45,9°C được ghi nhận vào ngày 24 tháng 12 năm 2003 tại Funtensee. Nhiệt độ cao nhất cho đến nay là 40,3°C vào ngày 8 tháng 8 năm 2003 tại Nennig.
[sửa] Đất và sử dụng đất
Thành phần và chất lượng đất rất khác nhau tùy theo vùng. Tại miền Bắc Đức một vòng đai gần biển từ đất đầm lầy màu mỡ tạo cơ sở cho một nền nông nghiệp có sản lượng cao trong khi vùng đất cát nằm tiếp sau đó chịu nhiều ảnh hưởng của thời kỳ Băng hà chỉ có đất rất cằn cỗi. Tại Lüneburger Heide đất này đã bị thoái hóa trở thành đất podsol vì trồng cỏ qua nhiều thế kỷ nên gần như không còn có thể trồng trọt được nữa. Cũng rất cằn cỗi là các vùng băng tích cũ và mới có cát bồi tụ lại. Thí dụ như Brandeburg trong lịch sử đã nổi tiếng như là "hộp cát rải của Thánh Chế".
Giữa những vùng băng tích và vùng núi cao trung bình là một dãy đất hoàng sa màu mỡ chạy từ Tây sang Đông và được sử dụng nông nghiệp cao độ. Trong vùng núi cao trung bình ở miền trung nước Đức phần nhiều là đất không màu mỡ, phần lớn diện tích là rừng. Trong miền Nam nước Đức các vùng đất tốt đặc biệt là nằm dọc theo các sông Rhein, Main và Donau.
Tổng cộng có 53,5% diện tích nước Đức là đất nông nghiệp, 29,5% diện tích là đất rừng, 12,3% diện tích là đất ở và đất giao thông (với xu hướng ngày càng tăng) và 1,8% diện tích là nước mặt.[cần chú thích]
[sửa] Hệ thực vật và hệ động vật
[sửa] Hệ thực vật
Vì nước Đức nằm trong vùng khí hậu ôn hòa nên hệ thực vật chủ yếu là rừng lá rộng và rừng lá kim. Trường hợp ngoại lệ độc nhất của hệ thực vật rất đồng nhất này là vùng Lüneburger Heide nổi tiếng thế giới. Rừng cây lá rộng phần nhiều là cây dẻ gai đỏ (còn gọi là dẻ gai hay sồi châu Âu-Fagus sylvatica), bên cạnh đó có đặc trưng là những rừng ngập nước trong vùng sông hồ mà ngay nay đã trở thành hiếm có và rừng pha trộn dẻ gai và sồi. Thế nhưng những rừng cây lá rộng ngày xưa rất phổ biến thường được thay thế bằng rừng gỗ vân sam (Picea).
Nếu không có tác động của con người thì nước Đức cũng như phần lớn các nước trên thế giới sẽ có chủ yếu là rừng. Bên cạnh những loại cây cỏ trong tự nhiên, một loạt những loại được nhập vào như bồ kết ba gai (Robinia) đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thực vật. Cây trồng nhiều là những cây nhập từ châu Mỹ như khoai tây, ngô và cây táo.
[sửa] Hệ động vật
Phần lớn những loài thú tại Đức sống trong các rừng cây lá rộng ôn hòa. Ngoài những loài thú khác có nhiều giống chồn marten (Mustelidae) khác nhau, hươu dama (Dama dama), hưu đỏ (Cervus elaphus), nai, lợn rừng và cáo. Hải ly và rái cá đã trở thành dân cư hiếm có trong những vùng ngập nước cạnh sông.
[sửa] Chính trị
[sửa] Hệ thống hành chính
Thủ đô và trụ sở chính phủ của Cộng hòa Liên bang Đức là Berlin. Theo điều 20 của Hiến pháp Đức thì Cộng hòa Liên bang Đức là một quốc gia dân chủ, xã hội và có pháp quyền. Nước Đức có tất cả 16 bang mà trong đó có 5 bang được chia thành 22 tỉnh (Regierungsbezirk). Mỗi bang trong số 16 bang, tùy theo số dân, có 3,4 hoặc 6 đại biểu của mình trong Thượng viện hay còn gọi là Hội đồng liên bang. Thượng viện gồm 68 thành viên được bổ nhiệm với nhiệm kỳ nhất định. Hạ nghị viện (Nghị viện liên bang) gồm 656 thành viên có nhiệm kỳ 4 năm, được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo nguyên tắc kết hợp giữa chế độ cử tri duy nhất và cử tri theo tỷ lệ. Hiến pháp quy định trật tự quốc gia. Nguyên thủ quốc gia là tổng thống liên bang với nhiệm vụ đại diện. Nhìn theo nghi thức thì sau tổng thống là Chủ tịch Quốc hội Liên bang, thủ tướng và Chủ tịch Hội đồng Liên bang mà căn cứ vào Hiến pháp là người đại diện cho tổng thống. Lãnh đạo chính phủ là thủ tướng liên bang, người có thẩm quyền quyết định đường lối chính trị của chính phủ liên bang. Thủ tướng do Nghị viện liên bang bầu ra. Tổng thống do Hội đồng liên bang và số đại cử tri bằng nhau của các bang bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm.
Nước Đức là một liên bang, điều đó có nghĩa là hệ thống chính trị của Đức được chia ra làm hai cấp: cấp liên bang, đại diện cho quốc gia về mặt đối ngoại, và cấp tiểu bang của từng bang một. Mỗi cấp đều có cơ quan nhà nước riêng của hành pháp, lập pháp và tư pháp.
Quốc hội Liên bang và Hội đồng Liên bang cùng quyết định về luật lệ của liên bang và có quyền sửa đổi Hiến pháp với đa số 2/3 trong cả hai cơ quan. Quốc hội tiểu bang quyết định về luật lệ cho từng tiểu bang. Mặc dầu các nghị sĩ không phải tuân theo chỉ thị nhưng những quyết định trước đó trong các đảng phái chiếm ưu thế trong việc ban hành luật lệ.
Hành pháp ở cấp liên bang được hình thành bởi chính phủ liên bang do thủ tướng liên bang lãnh đạo. Thủ hiến tiểu bang (Ministerpräsident) lãnh đạo hành pháp ở cấp tiểu bang. Các cơ quan hành chính ở cấp liên bang và tiểu bang được điều hành bởi các bộ trưởng đứng đầu các cơ quan nhà nước.
Toà án Hiến pháp Liên bang Đức tại Karlsruhe giám sát việc tuân thủ hiến pháp. Các tòa án tối cao của Đức là Tòa án Liên bang (Bundesgerichtshof) với trụ sở chính tại Karlsruhe, Tòa án Hành chánh Liên bang Đức tại Leipzig, Tòa án Lao động Liên bang tại Erfurt, Tòa án Xã hội Liên bang tại Kassel và Tòa án Tài chính Liên bang tại München. Phần lớn việc hành luật là trách nhiệm của các tiểu bang. Các tòa án liên bang gần như luôn luôn là tòa án kháng cáo thượng thẩm và xem xét các các quyết định của tòa án tiểu bang theo tính hợp pháp về hình thức và nội dung.
[sửa] Các bang và các thành phố
Các thành phố lớn nhất của Đức là Berlin, Hamburg, München, Köln (Cologne), Frankfurt am Main, Dortmund, Essen, Stuttgart và Düsseldorf.
| Bang | Thủ đô | Diện tích (km²) | Dân số(2) | ||
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Baden-Württemberg | Stuttgart | 35.751,65 | 10.717.000 | |
| 2 | Bayern | München | 70.549,19 | 12.444.000 | |
| 3 | Berlin | (1) | 891,75 | 3.388.000 | |
| 4 | Brandenburg | Potsdam | 29.477,16 | 2.568.000 | |
| 5 | Bremen | Bremen(1) | 404,23 | 663.000 | |
| 6 | Hamburg | (1) | 755,16 | 1.735.000 | |
| 7 | Hessen | Wiesbaden | 21.114,72 | 6.098.000 | |
| 8 | Mecklenburg-Vorpommern | Schwerin | 23.174,17 | 1.720.000 | |
| 9 | Niedersachsen | Hannover | 47.618,24 | 8.001.000 | |
| 10 | Nordrhein-Westfalen | Düsseldorf | 34.042,52 | 18.075.000 | |
| 11 | Rheinland-Pfalz | Mainz | 19.847,39 | 4.061.000 | |
| 12 | Saarland | Saarbrücken | 2.568,65 | 1.056.000 | |
| 13 | Sachsen | Dresden | 18.414,82 | 4.296.000 | |
| 14 | Sachsen-Anhalt | Magdeburg | 20.445,26 | 2.494.000 | |
| 15 | Schleswig-Holstein | Kiel | 15.763,18 | 2.829.000 | |
| 16 | Thüringen | Erfurt | 16.172,14 | 2.355.000 | |
|
(1) Tiểu bang Berlin và Hamburg chỉ bao gồm thành phố cùng tên; Bremen cũng được xem là bang thành phố mặc dầu còn thành phố Bremerhaven cũng thuộc về bang Bremen. |
|||||
[sửa] Đảng phái
Liên Minh Dân chủ Thiên chúa giáo Đức (Christlich Demokratische Union Deutschlands-CDU) được thành lập năm 1945 như là đảng kế thừa không phân biệt tôn giáo của nhiều đảng mang tính tôn giáo và của giới trung lưu. Trong đảng chủ yếu là những lực lượng được thống nhất từ Đảng Trung tâm Đức (Deutsche Zentrumspartei). Đảng có khuynh hướng bảo thủ. Ngoại trừ bang Bayern, CDU hoạt động trên toàn nước Đức. Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo (Christlich Soziale Union-CSU) có đường lối bảo thủ tương tự nhưng chỉ hoạt động tại Bayern. Hai đảng này cùng nhau tạo thành một phái chung trong Quốc hội Liên bang Đức, thường được gọi chung là "liên minh" hay "các đảng liên minh".
Đảng Dân chủ Xã hội Đức (Sozialdemokratische Partei Deutschlands-SPD), kể cả các tổ chức tiền thân, tồn tại từ năm 1863 và vì thế là đảng chính trị lâu đời nhất vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay của Đức. Đảng đã thành lập truyền thống của Phong trào Dân chủ Xã hội. Sau khi bị cấm trong thời gian của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia(phát xít), đảng được tái thành lập vào năm 1945. Từ Chương trình Godesberg năm 1959 đảng tự hiểu mình chính thức không còn chỉ là một đảng công nhân nữa mà là một đảng quần chúng, muốn được sự chọn lựa từ nhiều tầng lớp quần chúng rộng rãi. Niềm tin của đảng là "Tự do, Công bằng và Đoàn kết".
Đảng Dân chủ Tự do (Freie Demokratische Partei–FDP) được thành lập năm 1948 và trong tự nhận thức đã dựa trên truyền thống của phong trào chủ nghĩa tự do Đức, phong trào mà ngay từ năm 1861 đã thành lập Đảng Tiến bộ Đức tại vương quốc Phổ như là đảng chính trị đầu tiên của Đức trong ý nghĩa đảng phái được hiểu theo quan niệm ngày nay. Đảng Dân chủ Tự do ủng hộ việc từng cá nhân có tự do và trách nhiệm nhiều hơn nữa, đặc biệt là trong các vấn đề về kinh tế và về quyền công dân cũng như là việc nhà nước đặc biệt nên thận trọng nhiều hơn nữa trong những việc có liên quan đến kinh tế. Với tổng cộng 42 năm, FDP chính là đối tác liên minh nhỏ tham gia chính phủ lâu nhất của liên bang.
Đảng Xanh (Die Grünen) hình thành năm 1979/1980 trên toàn liên bang từ các phong trào xã hội mới thời bấy giờ, thí dụ như phong trào phụ nữ, phong trào hòa bình và phong trào sinh thái của những năm 1970. Năm 1983 đảng được bầu vào quốc hội liên bang lần đầu tiên. Năm 1990 đảng Xanh hòa nhập với phong trào nhân dân Đông Đức Liên minh 90 (Bündnis 90) trở thành Liên minh 90/Đảng Xanh (Bündnis 90/Die Grünen).
Đảng Chủ nghĩa xã hội Dân chủ (Partei des Demokratischen Sozialismus–PDS) là đảng kế thừa của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức (Sozialistische Einheitspartei Deutschlands-SED), là đảng độc quyền lãnh đạo của Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây. Về nội dung, đảng dựa trên lý tưởng xã hội chủ nghĩa và trong các đảng phái đứng về phía cánh tả của SPD. Thắng lợi quan trọng trong bầu cử hiện nay được giới hạn trong miền Đông của nước Đức. Trong năm 2005, từ những chống đối chính sách cải tổ của chính phủ liên bang do SPD và đảng Xanh cầm quyền "Lựa chọn bầu cử Lao động và Công bằng Xã hội" (Wahlalternative Arbeit und Soziale Gerechtigkeit-WASG) được thành lập từ sáng kiến của công đoàn và những thành viên bị thất vọng của SPD. Trong cuộc bầu cử quốc hội liên bang năm 2005 PDS đã đưa thành viên của WASG vào danh sách ứng cử của đảng. Từ lý do này PDS hiện đã đổi tên thành Đảng Cánh tả (Đức)Đảng Cánh tả (Die Linkspartei). Cả hai đảng đang cố gắng hòa nhập thành một.
Những đảng cực hữu, ngoại trừ Đảng Đế quốc Đức (Deutsche Reichspartei) trong Quốc hội Liên Bang lần thứ nhất (1949-1953), chưa từng có đại diện trong Quốc hội Liên bang Đức, nhưng có thời gian đã có thể vào các quốc hội tiểu bang. Các đảng này trải qua một thời kỳ nở rộ tương đối vào cuối thập niên 1960 và từ khi tái thống nhất. Những đảng thuộc khuynh hướng này là Người Cộng hòa (Die Republikaner-REP), Liên minh Nhân dân Đức (Deutsche Volksunion-DVU) và Đảng Dân chủ Quốc gia Đức (Nationaldemokratische Partei Deutschlands-NPD).
Trong lịch sử của Cộng hòa Liên bang Đức đã có 2 lần cấm đảng phái đối với Đảng Đế quốc Xã hội chủ nghĩa (Sozialistische Reichspartei-SRP) cực hữu vào năm 1952 và Đảng Cộng sản Đức (Kommunistische Partei Deutschlands-KPD) vào năm 1956. Việc cấm đảng NPD năm 2004 thất bại chủ yếu là do lỗi lầm trong kết hợp giữa cơ quan liên bang về bảo vệ hiến pháp và các cơ quan bảo vệ hiến pháp của các tiểu bang.
Gần như tất cả các đảng có nhiều ảnh hưởng đều có tổ chức thanh niên - ít nhiều độc lập - đứng bên cạnh. Các tổ chức quan trọng nhất là Liên minh Trẻ (Junge Union) của CDU/CSU, Jusos của SPD, Người Tự do Trẻ (Junge Liberale) của FDP, Thanh niên Xanh (Grüne Jugend) của Bündnis 90/Die Grüne cũng như là tổ chức thanh niên 'solid-Thanh niên Xã hội chủ nghĩa (['solid] - die sozialistische jugend) của Đảng Cánh tả.
[sửa] Ngoại giao
Các đường lối định hướng quan trọng nhất của chính sách đối ngoại liên bang Đức là "hội nhập phía Tây" và hội nhập châu Âu. Nước Đức góp phần quyết định trong việc xây dựng những tổ chức châu Âu, cũng với mục đích là lấy đi sự lo ngại của các nước láng giềng về nước Đức và làm cho các giới hạn từ các lực lượng chiếm đóng trở nên không cần thiết. Cộng hòa Liên bang Đức là thành viên của Hội đồng châu Âu từ năm 1950 và tham gia Hiệp ước Roma vào năm 1957 (còn Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu), nền tảng của Liên minh châu Âu ngày nay. Quan điểm chính yếu cho đường lối an ninh và thể hiện của sự hội nhập phía Tây là việc nước Đức là thành viên của khối NATO. Nước Cộng hòa Liên bang Đức tham gia khối NATO năm 1955.
Trong Chiến tranh lạnh phạm vi hoạt động của đường lối ngoại giao Đức bị giới hạn. Một trong những mục đích quan trọng nhất là tái thống nhất. Việc tham chiến ở nước ngoài đã không là việc được cân nhắc. Theo Hiến pháp, quân đội Đức không được phép tham gia vào những cuộc chiến tranh tấn công, nhiệm vụ của quân đội chỉ là bảo vệ khối liên minh và đất nước. Tuy vậy nhờ vào "chính sách phía Đông" là sáng kiến của Đức với khẩu hiệu biến đổi qua tiếp cận, chính sách lúc đầu đã được các đồng minh quan trọng quan sát một cách hoài nghi, mà nhiều dấu nhấn chính trị độc lập đã có thể được đặt ra. Thời gian sau này chính sách được cho là có nhiều thành tựu.
Từ khi tái thống nhất, nước Đức mở rộng các nguyên tắc trong chính sách ngoại giao và đi trên con đường dẫn đến trách nhiệm quốc tế lớn hơn. Như từ năm 1991 quân đội Đức với sự đồng ý của Quốc hội Liên bang và cùng với quân đội đồng minh cũng đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ bảo vệ và cưỡng chế hòa bình bên ngoài nước Đức và lãnh thổ của các đồng minh khối NATO.
Theo truyền thống, nước Đức cùng với nước Pháp đóng vai trò dẫn đầu trong Liên minh châu Âu. Đức đẩy mạnh các nổ lực thành lập một hệ thống thống nhất và có hiệu quả cao của chính sách an ninh và đối ngoại châu Âu, không chỉ bên trong Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu. Những mục tiêu khác của chính sách đối ngoại khác là việc thực thi Nghị định thư Kyoto về bảo vệ khí hậu cũng như việc công nhận Tòa án Hình sự Quốc tế trên toàn thế giới. Chính phủ liên bang đã từ chối tham gia chiến tranh Iraq năm 2003. Cùng với các nước đồng minh là Liên hiệp Anh và Pháp, nước Đức cố gắng thông qua đối thoại kêu gọi chính phủ Iran từ bỏ việc tiếp tục thực hiện chương trình nguyên tử. Chính phủ Liên bang đang vươn đến một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an của Liên Hiệp Quốc. Việc tiến hành mục đích này gặp khó khăn vì sự chống đối của những quốc gia khác mà một phần là đồng minh. Nước Pháp và Anh ủng hộ về nguyên tắc các quốc gia G4 (Đức, Ấn Độ, Nhật và Brasil) thế nhưng cho đến nay Mỹ vẫn chưa có bình luận gì về việc này.
[sửa] Quân sự
- Đọc bài chính về quân đội Đức
Sau khi thành lập năm 1949 lúc đầu Cộng hòa Liên bang Đức không có quân đội riêng. Tình hình thế giới thay đổi sau cuộc chiến tranh Triều Tiên thế giới vào thế đối đầu, chiến tranh lạnh bắt đầu. Cộng hòa Liên bang Đức gia nhập khối NATO năm 1955 và thành lập quân đội. Sau tái thống nhất, nhiều phần của Quân đội Nhân dân Quốc gia của Cộng hòa Dân chủ Đức được sát nhập.
Tổ chức chung được gọi là Bundeswehr bao gồm các lực lượng quân đội và cơ quan hành chính. Quân đội được chia ra thành Lục quân Đức (Heer), Không quân Đức (Luftwaffe), Hải quân Đức (Deutsche Marine) và các bộ phận hỗ trợ (hậu cần, thông tin, tình báo quân đội, đào tạo,...) và quân y.
Trong tháng 4 năm 2005 có 257.000 quân nhân và 125.000 nhân viên dân sự phục vụ và làm việc trong quân đội Đức. Từ năm 2001 phụ nữ cũng được phép phục vụ không hạn chế trong quân đội. Thành phần phụ nữ là 6,2% quân nhân (thời điểm 2005). Cộng hòa Liên bang Đức chi phí 24,4 tỉ Euro trong năm 2004 cho quân đội, tức 1,2% tổng sản phẩm quốc nội. Chi phí này đứng hàng thứ 6 trên thế giới so về số tuyệt đối, nếu so với chi phí trung bình của các quốc gia thành viên khối NATO là 2,3% thì đứng trong phần ba cuối cùng.
Trong căn cứ quân sự Mỹ Ramstein và căn cứ không quân Đức tại Büchel hiện nay vẫn còn 65 quả bom hyđrô mà nước Đức có tham dự vào việc lập kế hoạch sử dụng chúng trong khuôn khổ cùng sở hữu hạt nhân (nuclear sharing).
[sửa] Lịch sử
Trnag na BD
- Bài chính về lịch sử Đức giới thiệu tổng quan có tính chi tiết hơn về lịch sử nước Đức. Về nước Đức Trung cổ đọc bài Đức trong thời kỳ Trung cổ. Về tiến triển của các quốc gia Đức sau Đệ nhị thế chiến đọc các bài lịch sử Cộng hòa Liên bang Đức và lịch sử Cộng hòa Dân chủ Đức.
[sửa] Thời tiền sử và Cổ đại
Các bằng chứng lâu đời nhất về dân cư trên lãnh thổ ngày nay của Cộng hòa Liên bang Đức là vào khoảng 700.000 năm trước đây. Người ta cho rằng, cách đây từ khoảng 500.000 năm, đã có dân cư sinh sống lâu dài ở đây. Trong nước Đức có những khai quật quan trọng từ thời kỳ Nguyên thủy: đại diện của một loài người trước kia Homo sapiens neanderthalensis, người Neanderthal, được gọi theo Neanderthal tại Mettman. Loài này đã bị Homo sapiens sapiens, loài người hiện đại, di dân đến cách đây khoảng 40.000 năm đẩy lùi. Trong thời kỳ Đồ đá mới đã có những địa điểm dân cư cố định với trồng trọt và chăn nuôi. Một vài vật văn hóa quan trọng từ thời kỳ này còn tồn tại cho đến ngày nay như đĩa bầu trời Nebra, chứng tỏ rằng ngay từ khoảng năm 2.000 TCN người ta đã biết đến thiên văn học trong vùng này.
Những bộ tộc người Kelt (tiếng Anh: Celt) và người German được người Hy Lạp và La Mã ghi chép lại lần đầu tiên trong thời gian vào trước Công Nguyên. Vào khoảng 500 năm trước Công Nguyên, miền Nam của nước Đức ngày nay do người Kelt sinh sống và ở miền Bắc Đức là người German. Người German di dân trong vòng nhiều thế kỷ về phía Nam nên vào năm sinh của Chúa Giêsu sông Donau là ranh giới áng chừng về dân cư giữa người German và Kelt. Những người nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng đoán rằng nhiều đặc điểm của những tiếng địa phương miền Nam nước Đức có thể là do ảnh hưởng của người Kelt. Từ năm 58 TCN đến khoảng năm 455 các khu vực tả ngạn sông Rhein cũng như phía Nam sông Donau thuộc về Đế quốc La Mã. Lãnh thổ của Đế quốc La Mã thuộc nước Đức ngày nay được chia ra thành các tỉnh Germania Superior, Germania Inferior và Raetia. Trong vùng này người La Mã thành lập 4 doanh trại lính mà sau này phát triển thành các thành phố. Các thành phố quan trọng nhất trong thời La Mã là Köln, Trier (thành phố lâu đời nhất của Đức) và Augsburg. Nhà viết sử Tacitus viết lịch sử đầu tiên của toàn Germanien vào năm 98.
[sửa] Cuộc di dân và thời gian đầu của thời kỳ Trung cổ
Sau cuộc tấn công của người Hung Nô (tiếng Anh: huns) năm 375 và đồng thời với sự suy tàn của Đế quốc Tây La Mã, từ năm 395 bắt đầu có cuộc di cư của các dân tộc mà trong quá trình này các bộ tộc người German liên tục đi về hướng tây nam. Những bộ tộc người Slavơ di cư đến các vùng gần như không có người ở của miền Đông nước Đức ngày nay cho đến đường sông Elbe-Saale vào thời cuối Cổ đại trong thế kỷ thứ 7. Nhiều phần dân cư của các tiểu bang Đông Đức ngày nay vì thế mà mang nhiều ảnh hưởng Slavơ (Germania Slavica) cho đến giữa thời Trung cổ. Mãi đến lúc lập cư phía Đông giữa thời kỳ Trung cổ họ mới được đồng hóa. Những người nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng đoán là vào khoảng 1/3 họ của người Đức ngày nay có nguồn gốc Slavơ. Phần chính của Tây Âu và Trung Âu do Vương quốc Frank chiếm đóng, vùng miền Bắc nước Đức ngày nay do người Sachsen làm chủ.
Sau cuộc đô hộ và cưỡng ép người Sachsen chuyển đạo đẫm máu dưới Đại đế Karl, Vương quốc Frank kéo dài đến biển Bắc, sông Eider và nước Áo ngày nay. Trên đỉnh cao của quyền lực Frank, Đại đế Karl đòi hỏi trở thành quyền lực lãnh đạo trong châu Âu. Năm 800 ông đăng quan hoàng đế tại Roma. Thế nhưng đế quốc của ông thống nhất không được lâu: tranh cãi trong những người kế thừa tác động đến việc chia ba đế quốc trong Hiệp ước Verdun (843) thành Vương quốc Frank Đông dưới quyền vua Ludwig Germanicus (sau này là Ludwig Đức), Vương quốc Frank Tây dưới quyền vua Karl dem Kahlen và vương quốc nằm giữa của Lothar I có tên là Lotharingien (tiếng Anh: Lotharingia, tiếng La tinh: Lotharii Regnum). Vương quốc Frank Đông tạo thành khuôn khổ về địa l
