Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hoà Liên bang Đức
Bundesrepublik Deutschland (tiếng Đức)
Flag of Germany.svg Coat of arms of Germany.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Đức
Khẩu hiệu
Einigkeit und Recht und Freiheit
(Tiếng Đức: "Thống nhất và Công lý và Tự do")
Quốc ca
Das Lied der Deutschen (Khổ 3)
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa liên bang
Tổng thống
Thủ tướng
Joachim Gauck
Angela Merkel (Dân chủ Thiên chúa giáo)
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Đức¹
Thủ đô Berlin
52°31′B, 13°24′Đ
Thành phố lớn nhất Berlin
Địa lý
Diện tích 357.050 km² (hạng 61)
Diện tích nước 2,416% %
Múi giờ CET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Ngày thành lập
843
18 tháng 1 năm 1871
9 tháng 11 năm 1918
23 tháng 5 năm 1949
7 tháng 10 năm 1949
3 tháng 10 năm 1990
Năm 962 Đế chế thứ nhất
Ngày 18 tháng 1, 1871 Đế chế thứ hai
Ngày 23 tháng 5, 1949 Cộng hòa liên bang
Ngày 3 tháng 10, 1990 Tái thống nhất Đức
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 81.305.856[1] người (hạng 15)
Mật độ 229 người/km² (hạng 55)
Kinh tế
GDP (PPP) (2011) Tổng số: 3089 tỉ USD [2]
Bình quân đầu người: 37.935 USD[2] (hạng 18)
HDI (2010) 0,885[3] rất cao (hạng 16)
Đơn vị tiền tệ Euro² (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .de
Biển số xe quốc tế: D
¹ Nhiều ngôn ngữ được công nhận dưới Hiến chương Âu Châu về Ngôn ngữ Miền và Thiểu số
² Trước 2002Mark Đức

Đức (Quốc danh chính thức hiện nay là Cộng hoà liên bang Đức, tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) là một quốc gia liên bang nằm ở Trung Âu và có chung đường biên giới với các nước Đan Mạch (về phía bắc), Ba LanSéc (phía đông), ÁoThụy Sĩ (về phía nam), Pháp, Luxembourg, BỉHà Lan (về phía tây). Lãnh thổ Đức trải rộng 357.021 km vuông và có khí hậu ôn đới. Với gần 82 triệu người, Đức là nước có dân số lớn nhất trong Liên minh châu Âu và là nước có số dân nhập cư lớn thứ ba trên thế giới.[4] Sau khi Hoa Kỳ, Đức là điểm đến di cư phổ biến thứ hai trên thế giới.[5] Danh xưng "Đức" trong tiếng Việt là giản xưng của Đức Ý Chí (Trung văn: 德意志), dịch danh Trung văn của quốc hiệu nước Đức.

Vùng đất Germania nơi nhiều man tộc German sinh sống đã được biết đến và có trong các tài liệu cổ từ trước năm 100. Họ được tôn vinh vì khát vọng độc lập dân tộc cao cả, dù gần sát Đế quốc La Mã hùng cường.[6] Bắt đầu từ thế kỷ 10, lãnh thổ của Đức là phần giữa của Đế quốc La Mã Thần thánh cho đến năm 1806. Thế kỷ 16, miền Bắc Đức trở thành trung tâm của cuộc cải cách Kháng Cách, với cuộc cải cách tôn giáo của Thánh Martin Luther.[7] Vào thế kỷ 18, một Vương quốc Kháng Cách là Phổ, dưới triều đại của vị anh quân, đánh thắng được người Áo đứng đầu Đế quốc, để rồi vươn lên thành một trong những liệt cường Âu châu, mang lại niềm vinh quang cho dân tộc Đức.[8][9] Vị Thủ tướng kiệt xuất Otto von Bismarck đã tiến thành công cuộc thống nhất nước Đức với chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống Đan MạchÁo,[10] để rồi nước Đức lần đầu tiên được thống nhất vào giữa cuộc chiến tranh Pháp-Phổ vào năm 1871 trở thành một quốc gia dân tộc lớn mạnh vào thời kỳ cận - hiện đại. Sau Chiến tranh thế giới lần hai, năm 1949, nước Đức bị chia cắt thành hai quốc gia, Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) và Cộng hòa Liên bang Đức cũ (Tây Đức).[11] Vào năm 1990, với sự sụp đổ của bức tường Berlin, nước Đức thống nhất. Tây Đức là thành viên sáng lập của Các cộng đồng châu Âu (EC) vào năm 1957, trở thành Liên minh châu Âu năm 1993. Đức thuộc khu vực Schengen và dùng đồng Euro năm 1999.[12][13][14]

Đức là một nước cộng hòa đại nghị liên bang bao gồm 16 bang (Länder). Thủ đô và thành phố lớn nhất là Berlin. Đức là thành viên của Liên hiệp quốc, NATO, G8, G20, OECDWTO. Nước Đức là một cường quốc với nền kinh tế có GDP danh nghĩa đứng thứ tư và GDP sức mua tương đương đứng thứ năm trên thế giới. Đức là nước viện trợ phát triển hằng năm nhiều thứ nhì,[15] và ngân sách quốc phòng đứng thứ sáu trên thế giới.[16] Quốc gia này có một mức sống cao và hệ thống an sinh xã hội toàn diện. Nước Đức giữ vị trí chính yếu trong quan hệ ở châu Âu cũng như có nhiều liên kết chặt chẽ trên thế giới.[17] Nước Đức cũng được biết đến là dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật.[18]

Mục lục

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức nằm trong Trung Âu, giữa 47°16′15″ và 55°03′33″ vĩ độ bắc và 5°52′01″ và 15°02′37″ kinh độ đông. Về phía bắc Đức có ranh giới với Đan Mạch (có chiều dài 67 km), về phía đông-bắc là Ba Lan (442 km), về phía đông là Séc 811 km), về phía đông nam là Áo (815 km không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía nam là Thụy Sĩ (316 km, với biên giới của lãnh thổ bên ngoài (tiếng Anh: exclave) Büsingen nhưng không kể ranh giới trên hồ Bodensee), về phía tây nam là Pháp (448 km), về phía tây là Luxembourg (135 km) và Bỉ (156 km) và về phía tây bắc là Hà Lan (567 km).[19] Chiều dài ranh giới tổng cộng là 3.757 km. Trong khi ở phía tây-Bắc bờ biển của biển Bắc và ở phía đông-Bắc là biển Baltic tạo thành biên giới quốc gia tự nhiên thì về phía nam nước Đức là một phần của dãy núi Alpen.

Lãnh thổ bên ngoài duy nhất của Đức là Büsingen nằm trong vùng thượng lưu sông Rhein thuộc về huyện Konstanz của bang Baden-Württemberg. Büsingen có diện tích là 7,62 km² và được bao bọc hoàn toàn bởi 3 bangSchaffhausen, ThurgauZürich. Ngoài ra còn có Kleinwalsertal thuộc Áo và nếu bằng đường bộ hay bằng đường thủy thì chỉ xuyên qua lãnh thổ quốc gia Đức mới có thể đến được.

Điểm trung tâm và các điểm ngoài cùng của Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sách thống kê hằng năm Đức (Statistisches Jahrbuch Deutschland – thời điểm năm 2000) điểm trung tâm về địa lý của Đức nằm trong làng Niederdorla thuộc bang Thüringen, giữa đoạn đường từ Erfurt đến Göttingen, trên 51°09´54´´ vĩ độ bắc và 10°27´19´´ kinh độ đông.

Điểm cực bắc của Đức nằm trên bán đảo Elenbogen thuộc đảo Sylt, điểm cực bắc trên đất liền của quốc gia nằm trên bờ biển tây của bang Schleswig-Holstein tại Rickelsbüller Koog, điểm cực nam là Haldenwanger Eck nằm về phía nam của Oberstdorf (Bayern) trên núi Alpen. Từ Ellenbogen đến Haldenwanger Eck là khoảng 886 km (đường chim bay).

Điểm cực tây của Đức nằm trong bang Nordrhein-Westfalen, không xa Isenbruch (là địa danh cực tây của quốc gia), điểm cực đông nằm giữa Neißeaue-Deschka (làng cực đông của quốc gia) và Neißeaue-Zentendorf trong một vòng cung của sông Neiße. Từ Isenbruch đến vòng cung này của sông Neiße gần Zentendorf là tròn 636 km (đường chim bay).

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ địa hình nước Đức

Địa hình thay đổi đặc biệt là theo hướng từ Bắc vào Nam vì địa thế có chiều hướng cao hơn và dốc hơn về phía nam. Phần miền Bắc của nước Đức, vùng đồng bằng Bắc Đức, là một vùng đồng bằng mà phần lớn được tạo thành từ thời kỳ Băng hà, kế tiếp về phía nam là vùng đồi núi có rừng ở trung tâm và các phần đất miền Nam của Đức. Đặc biệt là tại bang Bayern nhưng cũng ở tại bang Baden-Württemberg địa hình này chuyển tiếp đến vùng Alpenvorland Bắc tương đối cao, vùng mà sau đấy lại chuyển tiếp đến vùng núi cao của dãy núi Alpen.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức đa dạng về địa chất. Trong khi các địa hình mang dấu ấu của thời kỳ Băng hà, các vùng đất thấp và các lưu vực sông chỉ thành hình từ niên đại Phân đại đệ Tam thì vùng đồi núi trung bình có niên đại lâu đời hơn rất nhiều.

Các vùng đồi núi đã bị xói mòn, ví dụ như vùng Rừng Đen (Schwarzwald), đã hình thành từ thời Đại Cổ sinh và được cấu thành chủ yếu từ loại đá xâm nhập (tiếng Anh: plutonic rock) như đá gơnaigranite. Vùng Rheinisches Schiefergebirge cũng có niên đại tương tự, được thành hình trong kỷ Silurkỷ Devon. Tại ranh giới về phía bắc của vùng này còn có các thành hệ từ kỷ Than đá, trong đó vùng Ruhr có các mỏ than đá có trữ lượng lớn.

Địa mạo miền Nam nước Đức phần lớn do những phát triển trong Đại Trung Sinh: trong khi Pfalz, Thüringen, nhiều phần của Bayern và Sachsen được tạo thành về mặt địa chất trong kỷ Trias thì vùng Schwäbische AlbFränkische Alb chạy ngang qua miền Nam nước Đức là kết quả của việc đáy biển nâng lên trong kỷ Juras. Các vùng được nhắc đến đầu tiên có sa thạch, các vùng sau có đá vôi là những thành hệ địa chất chiếm ưu thế.

Hoạt động núi lửa không được quan sát thấy tại Đức. Tuy vậy, trong một số vùng vẫn có đá núi lửa xuất phát từ hoạt động núi lửa trước đây, đặc biệt là trong Vulkaneifel và trên Vogelsberg trong bang Hessen. Nước Đức nằm hoàn toàn trên mảng Á-Âu vì vậy không có những trận Động đất gây hậu quả nặng nề. Mặc dầu vậy đứt gãy Rhein (Rheingraben) thuộc bang Nordrhein-Westfalen được xếp vào vùng nguy hiểm động đất trung bình, kéo dài đến các nước láng giềng Bỉ và Hà Lan (đọc vùng động đất Kölner Bucht).

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Góc Đức tại Koblenz, nơi hợp lưu của 2 sông RheinMosel

Nước Đức giáp biển Bắc tại các bang Niedersachsen và Schleswig-Holstein. Đây là một biển nằm trên thềm lục địa thuộc Đại Tây Dương. Cùng với eo biển Manche, vùng phía nam của biển Bắc là vùng biển có mật độ giao thông cao nhất thế giới. Các bang Mecklenburg-Vorpommern và Schleswig-Holstein nằm cạnh biển Baltic, là một biển nội địa được nối liền với biển Bắc qua eo biển Skagerrak. Độ thay đổi thủy triều ở biển Baltic ít hơn ở biển Bắc rất nhiều.

Những sông chính là các sông Rhein, Donau, Elbe, Oder, WeserEms. Dài nhất trong các sông này là sông Donau (tiếng Anh: Danube). Với 2.845 km từ nơi giao lưu của hai sông BrigachBreg và là nguồn của sông Donau tại Donaueschingen hay với 2.888 km từ nguồn của sông Breg tại vùng ranh của Rừng Đen (Schwazwald) sông Donau là sông dài thứ nhì trong châu Âu sau sông Volga. Thế nhưng chỉ một phần nhỏ của toàn bộ đoạn đường của sông Donau là chảy qua Đức (47 km). Sông Donau đổ ra biển Đen.

Tất cả những sông Đức khác chảy ra biển Bắc hay biển Baltic. Đường phân thủy châu Âu qua nước Đức chạy về phía đông của vùng đồng bằng thượng lưu sông Rhein trên chỏm núi chính của vùng Rừng Đen. Trong những sông này sông Rhein chính là con sông có đoạn đường dài nhất trong nước Đức. Trong số 1.320 km đường sông có 865 km nằm trong nước Đức. Thêm vào đó sông này còn có một vai trò tạo cá tính riêng cho người Đức, được kết tụ từ lịch sử và nhiều thần thoại cũng như truyền thuyết. Chức năng kinh tế của con sông này cũng rất quan trọng: sông Rhein là một trong những đường thủy có mật độ giao thông nhiều nhất châu Âu.

Sông Elbe bắt nguồn từ Riesengebirge (tiếng Séc: Krkonoše) tại biên giới của Séc và Ba Lan và đổ ra biển Bắc tại Cuxhaven sau khoản 1.165 km, trong đó là 725 km nằm trong nước Đức. Đã có thời gian sông này là một trong những sông bị ô nhiễm chất độc hại nhiều nhất châu Âu, nhưng trong thời gian gần đây chất lượng nước đã tốt hơn rõ rệt.

Nguồn sông Oder nằm tại Beskiden (tiếng Séc: Beskydy) của Séc. Sau vài ki lô mét sông Oder chảy sang Ba Lan và trung lưu của nó chạy qua Schlesien (tiếng Ba Lan: Śląsk, tiếng Séc: Slezsko). Hạ lưu sông này tạo thành biên giới Đức-Ba Lan để rồi lại đổ vào vùng nước đông Stettin trong lãnh thổ Ba Lan. Qua eo biển Świna dòng sông này chảy qua giữa các đảo UsedomWollin đổ vào biển Baltic.

Các hồ trong nước Đức phần lớn thành hình sau khi thời kỳ Băng hà chấm dứt. Do vậy mà đa số các hồ lớn nằm trong các vùng đã từng bị băng tuyết bao phủ hay vùng đất cạnh trước đó, đặc biệt là tại Mecklenburg và Alpenvorland. Hồ lớn nhất có phần thuộc Đức là Bodensee, hồ cũng là biên giới của Áo và Thụy Sĩ. Hồ lớn nhất hoàn toàn thuộc về lãnh thổ quốc gia của Đức là Müritz.

Núi và vùng thấp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọn núi Zugspitze

Núi Alpen là dãy núi cao duy nhất mà một phần thuộc về nước Đức.Tại đấy là ngọn Zugspitze (2.962 m), ngọn núi cao nhất Đức. Vùng núi với độ cao trung bình có khuynh hướng cao dần và rộng ra từ Bắc xuống Nam. Ngọn núi cao nhất ở đấy là Feldberg trong vùng Rừng Đen (Schwarzwald) với 1.493 m, kế tiếp là Arber Lớn (Große Arber) trong Rừng Bayern (Bayerischer Wald) với 1.456 m. Ngoài ra, có các ngọn núi trên 1.000 m là các vùng Erzgebirge, Fichtelgebirge, Schwäbische Alb và trường hợp đặc biệt là Harz bị cô lập hẳn như là vùng đồi núi ở về phía bắc nhiều nhất trong các vùng đồi núi của nước Đức với ngọn Brocken nhô cao đến 1.142 m. Về phía bắc của đợt đồi núi này chỉ còn một vài thành hệ địa chất cao hơn 100 m, trong số đó có Hagelberg trong Fläming với 200 m là ngọn cao nhất.

Địa điểm thấp nhất vẫn còn có thể đi được của Đức nằm dưới mực nước biển 3,54 m trong một vùng trũng gần Neuendorf-Sachsenbande trong Wilstermarsch (bang Schlewig-Holstein). Cũng nằm trong bang này là điểm thấp nhất với 39,10 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của hồ Hemmelsdorf về phía bắc-đông bắc của Lübeck. Điểm nhân tạo thấp nhất với 293 m dưới mực nước biển nằm ở đáy của mỏ lộ thiên Hambach về phía đông của Jülich trong bang Nordrhein-Westfalen.

Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Vách đá vôi trên đảo Rügen

So với chiều dài bờ biển thì Đức có một số lượng đảo đáng kể. Các đảo này trong biển Bắc phần lớn nằm trong dạng hình chuỗi trước đất liền. Chúng được chia ra thành các đảo bắc Friesen và đông Friesen, là một phần của bãi bồi Wattenmeer Đức. Các đảo bắc Friesen của Đức thuộc bang Schleswig-Holstein và bao gồm các đảo lớn Sylt, Föhr, AmrumPellworm cũng như là các đảo Hallig nhỏ hơn rất nhiều. Từ khi đắp đập Beltringharder Koog thì Nordrand đã trở thành một bán đảo. Các đảo đông Friesen thuộc bang Niedersachsen có độ lớn tương tự. Các đảo này hình thành từ những bãi cát bồi do tác động của sóng biển. Lớn nhất trong các đảo này là Borkum. Một trường hợp ngoại lệ là đảo Helgoland nằm ngoài khơi xa của biển Bắc.

Các đảo trong biển Baltic nằm gần bờ biển Bodden của Đức có chiều hướng lớn hơn và có địa hình thay đổi nhiều hơn. Đảo lớn nhất trong các đảo này và đồng thời cũng là hòn đảo lớn nhất của Đức là Rügen, tiếp theo đó là Usedom mà đầu mũi đảo về phía đông đã thuộc về Ba Lan. Cũng như các đảo trên biển Bắc, các đảo của biển Baltic là điểm đến du lịch được ưa thích.

Trong một số sông hồ nội địa Đức cũng có đảo mà trong đó được biết đến nhiều nhất là MainauReichenau trên Bodensee cũng như là Herrenchiemsee trên Chiemsee.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức thuộc về vùng khí hậu ôn hòa Trung Âu, trong khu vực của vùng gió Tây và nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa khí hậu biển trong Tây Âu và khí hậu lục địa trong Đông Âu. Ngoài những yếu tố khác, khí hậu chịu ảnh hưởng của dòng hải lưu Golfstream tạo nên những trị khí hậu ấm áp khác thường so với vị trí vĩ độ này.

Điều kiện thời tiết khắt nghiệt như hạn hán kéo dài, gió xoáy (Tornado), băng giá lạnh với nhiệt độ cực thấp hay nóng cao độ tương đối hiếm. Thế nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện giông bão mà đã gây ra nhiều thiệt hại nặng như trong năm 20002002. Tại Đức cũng thường hay xảy ra nước lũ sau thời gian mưa nhiều trong mùa hè (lũ lụt Oder năm 1997, lũ lụt Elbe năm 2002) hay sau khi tan tuyết trong mùa đông mà có thể dẫn đến lụt và gây tàn phá nặng. Việc hay có nước lũ tại sông Rhein có thể là do việc đắp đập và đào thẳng sông Rhein trong thế kỷ 19 dưới sự lãnh đạo của Tulla đã xóa bỏ các vùng ngập nước tự nhiên trước kia của con sông này. Hạn hán chủ yếu chỉ xảy ra ở vùng đông bắc nước Đức nhưng đôi lúc cũng ảnh hưởng đến trên toàn nước Đức như lần cuối cùng là trong đợt nóng năm 2003.

Số liệu khí hậu (giá trị trung bình của các năm 1961–1990):

Cả năm Tháng trong năm
3 đến 5 6 đến 8 9 đến 11 12 đến 2 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhiệt độ trung bình (°C) 8,4 7,8 16,5 9,1 0,9 −0,5 0,5 3,7 7,6 12,2 15,5 17,1 16,9 13,8 9,4 4,2 0,9
Nhiệt độ thấp nhất (°C) 4,6 3,4 11,6 5,5 −2,4 −3,0 −2,5 0,0 3,0 7,3 10,6 12,3 12,0 9,3 5,7 1,6 −1,5
Nhiệt độ cao nhất (°C) 12,4 12,3 21,4 12,8 2,9 2,0 3,4 7,5 12,1 17,2 20,4 22,0 21,9 18,4 13,1 6,9 3,2
Biên độ nhiệt (°C) 7,8 8,8 9,8 7,3 5,2 5,0 5,9 7,4 9,1 9,9 9,8 9,7 9,8 9,0 7,5 5,3 4,7
Số ngày có tuyết 103,9 27,5 0,7 16,9 58,7 21,0 19,3 16,4 9,0 2,2 0,3 0,2 0,2 0,8 4,5 11,6 18,4
Số ngày mưa 178,2 44,0 44,3 43,0 46,8 16,6 13,4 14,9 14,3 14,9 15,1 14,8 14,4 13,6 13,5 15,9 16,8
Lượng nước mưa (mm) 700 163 221 166 150 51 40 48 51 65 77 72 71 57 50 58 59
Áp suất không khí (hPa−1000) 9,3 8,1 13,7 9,9 5,7 5,5 5,5 6,4 7,6 10,2 12,9 14,2 14,2 12,4 9,9 7,3 6,0
Mây (%) 72,0 69,3 63,0 73,8 81,9 83,5 78,0 74,8 69,3 63,8 64,8 63,5 60,6 66,9 72,9 81,5 84,3
Nguồn: Tyndall Centre for Climate Change Report

Tùy theo vùng mà các trị về khí hậu vượt quá hay thấp dưới giá trị trung bình về khí hậu của toàn nước Đức rất nhiều. Miền Nam Baden ghi nhận nhiệt độ trung bình cả năm cao nhất là 11 °C trong khi ở Oberstdorf trị trung bình nằm dưới 6 °C. Thêm vào đó một xu hướng nóng lên đang hình thành: theo số liệu của Deutscher Wetterdienst (Nha khí tượng quốc gia Đức) thì ngoại trừ năm 1996 nhiệt độ trung bình của tất cả các năm từ 1988 đều trên nhiệt độ trung bình lâu năm là 8,3 °C, trong năm 2003 còn đạt đến 9,9 °C. Đặc biệt là mùa hè đã nóng hơn rõ rệt. Thêm vào đó là mùa xuân cứ đến sớm hơn 5 ngày mỗi một thập niên. Chim di trú ở lại Đức lâu hơn gần 1 tháng so với thập niên 1970. Nhiệt độ thấp nhất từng được đo ở Đức là -45,9 °C được ghi nhận vào ngày 24 tháng 12 năm 2003 tại Funtensee. Nhiệt độ cao nhất cho đến nay là 40,3 °C vào ngày 8 tháng 8 năm 2003 tại Nennig.

Đất và sử dụng đất[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần và chất lượng đất rất khác nhau tùy theo vùng. Tại miền Bắc Đức một vòng đai gần biển từ đất đầm lầy màu mỡ tạo cơ sở cho một nền nông nghiệp có sản lượng cao trong khi vùng đất cát nằm tiếp sau đó chịu nhiều ảnh hưởng của thời kỳ Băng hà chỉ có đất rất cằn cỗi. Tại Lüneburger Heide đất này đã bị thoái hóa trở thành đất podsol vì trồng cỏ qua nhiều thế kỷ nên gần như không còn có thể trồng trọt được nữa. Cũng rất cằn cỗi là các vùng băng tích cũ và mới có cát bồi tụ lại. Thí dụ như Brandenburg trong lịch sử đã nổi tiếng như là "hộp cát rải của Đế quốc La Mã Thần thánh".

Giữa những vùng băng tích và vùng núi cao trung bình là một dãy đất hoàng sa màu mỡ chạy từ Tây sang Đông và được sử dụng nông nghiệp cao độ. Trong vùng núi cao trung bình ở miền trung nước Đức phần nhiều là đất không màu mỡ, phần lớn diện tích là rừng. Trong miền Nam nước Đức các vùng đất tốt đặc biệt là nằm dọc theo các sông Rhein, Main và Donau.

Tổng cộng có 53,5% diện tích nước Đức là đất nông nghiệp, 29,5% diện tích là đất rừng, 12,3% diện tích là đất ở và đất giao thông (với xu hướng ngày càng tăng) và 1,8% diện tích là nước mặt.[cần dẫn nguồn]

Hệ thực vật và hệ động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức nằm ở vùng khí hậu ôn hòa. Do vậy, hệ thực vật được đặc trưng bằng những rừng cây lá rộng và lá kim. Sự khác biệt về các đặc điểm địa hình, khí hậu theo từng khu vực tạo nên một hệ thực vật phong phú và đa dạng. Hệ thực vật tự nhiên từ tây sang đông đánh dấu quá trình thay đổi của khí hậu: Từ khí hậu đại dương phía tây sang khí hậu lục địa. Loại cây chủ yếu trong các rừng cây lá rộng là cây dẻ gai đỏ. Bên cạnh đó, những khu rừng ngập nước cạnh sông hồ(ngày càng ít dần) và rừng hỗn hợp các loại cây sồi, dẻ gai cũng là những loại rừng đặc trưng. Tiêu biểu cho khu vực núi Alpen và khu vực đồi núi miền trung là rừng khe núi dọc sông. Rừng trẻ được tạo thành từ các loại cây bạch dươngthông trên những vùng đất cát. Dĩ nhiên, những loại cây lá rộng rất phổ biến trước đây được thay thế bằng những rừng thông.

Rừng Thüringen vào mùa đông

Nếu như không có sự tác động của con người thì hệ thực vật ở Đức cũng như ở phần lớn các nước ở vùng khí hậu ôn hòa được tạo thành từ rừng, trừ những vùng đất trũng nhiễm phèn, vùng đầm lầy cũng như vùng núi cao thuộc dãy Alpen và khu vực lân cận, là vùng núi nghèo thực vật và có khí hậu lạnh ôn hòa đặc trưng.

29,5 phần trăm diện tích lãnh thổ Đức hiện nay là rừng. Như vậy, Đức là một trong những nước có nhiều rừng ở Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, các loại cây rừng được xác định do mục đích sử dụng, tỉ lệ rừng thông không phù hợp với các điều kiện tự nhiên vốn thích hợp hơn cho các loại rừng dẻ gai hỗn hợp. Bên cạnh các loại cây bản địa thì một loạt các loại cây được nhập về trồng(như keo gai) cũng chiếm một vai trò quan trọng. Phần lớn đất hoang đã được sử dụng để trồng các loại cây lương thực và cây ăn trái như đại mạch, kiều mạch, lúa mạch đen, lúa mì, cũng như khoai tây và ngô được đưa về từ châu Mỹ. Ngoài ra còn có táo và cải dầu. Ở các thung lũng sông của các sông như Morsel, Ahr và Rhein được cải tạo để trồng nho. Bảo tồn thiên nhiên là nhiệm vụ công cộng ở Đức, phục vụ mục đích của nhà nước, được quy định trong điều 20 của hiến pháp. Mục tiêu của việc bảo vệ thiên nhiên ở Đức là giữ gìn thiên nhiên và cảnh vật tự nhiên(chương 1 Luật Bảo vệ thiên nhiên của liên bang). Đối tượng quan trọng phải bảo vệ là cảnh vật tự nhiên, thực vật và động vật. Những khu vực và đối tượng quan trọng nhất được bảo vệ hiện nay là 14 vườn quốc gia, 19 khu dự trữ sinh quyền, 95 công viên tự nhiên cũng như hàng ngàn khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn cảnh vật tự nhiên và di tích thiên nhiên.

Hệ động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Đại bàng đuôi trắng, giống chim dữ được bảo vệ

Phần lớn các loại động vật có vú ở Đức sống trong các khu rừng lá rộng ôn hòa. Ở rừng có các loại chồn khác nhau, hươu đỏ, hươu hoang, lợn rừng, linh miêucáo. Hải lirái cá là những động vật đã trở nên hiếm ở các khu rừng ngập nước, song gần đây số lượng của chúng lại phần nào có tăng. Các loại động vật có vú lớn khác từng sống ở Trung Âu đã bị diệt vong: Bò rừng châu Âu (vào khoảng năm 1470), gấu nâu (1835), nai sừng tấm (ở thời Trung cổ hãy còn nhiều), ngựa rừng (thế kỷ 19), bò bizon châu Âu (thế kỷ 17/18), sói (1904). Thời gian gần đây, thỉnh thoảng có một số nai sừng tấm, sói từ Ba Lan và Séc tới cư trú. Ở các nước đó, số lượng các loài vật này đã tăng trở lại. Trong trường hợp loài sói thậm chí đã hình thành những bầy đàn mới, đầu tiên ở vùng Sorben, thời gian vừa qua cả ở phía tây, kể từ khi vào năm 2000 con sói con đầu tiên được sinh ra. Vào tháng 3 năm 2010, một đàn bò bizon châu Âu được đưa vào cư trú ở vùng núi Rothaargebirge thuộc bang Nordrhein-Westfalen. Trong trường hợp sóigấu nâu thì do một số điều phiền toái chúng đã gây ra trong thời gian qua làm cho việc quy hoạch cư trú cho chúng gặp vấn đề. Ở các vùng núi cao thuộc dãy Alpendê núi Alpensói mác-nốt. Ở vùng trung du như khu vực rừng Schwarzwald, khu vực Frankische Alpsơn dương.

Hải cẩu ở Biển Bắc

Các loài bò sát quen thuộc nhất ở Đức gồm có rắn cỏ, rắn vipera berus (rắn lục), rùa orbicularis. Bên cạnh đó còn có các loài lưỡng cư như kỳ giông, ếch, cóc, cóc tía, kỳ nhông: Tất cả các loài này đã được đưa vào sách đỏ. Đại bàng đuôi trắng được xem là nguyên mẫu cho biểu tượng hình chim trên huy hiệu các vùng, miền lãnh thổ, hiện nay còn tới 500 đôi, chủ yếu sống ở vùng Mecklenburg-VorpommernBrandenburg. Đại bàng vàng chỉ có ở vùng núi Alpen thuộc bang Bayern, loài diều hâu ở đó đã bị diệt vong, song hiện nay đã lại có một số từ ÁoThụy Sĩ tới cư trú. Các loài chim săn mồi phổ biến nhất ở Đức hiện nay là diều hâu thườngcắt lưng hung. Tuy nhiên số lượng cắt lớn lại ít đi một các rõ rệt. Hơn một nửa số chim ưng milvus được sinh ra ở Đức, song do sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nên số lượng của chúng ngày càng giảm. Đáng lưu ý là có một số lượng lớn các loài chim sống dựa vào sự hiện diện của con người: Đó là các loài bồ câu, hoét thông thường, sẻ, bạc má, sống nhờ thức ăn công nghiệp mùa đông; cũng như quạmòng biển sống nhờ rác thải. Một điều đặc biệt là đàn chim hồng hạc ở phía bắc trong vùng rừng đầm lầy Zwillbrocker Venn. Cá hồi trước đây thường có ở các sông song gần như đã bị diệt vong ở khắp nơi do quá trình công nghiệp hóa vào thế kỷ 19, được thả nuôi trở lại ở sông Rhein vào những năm 80 của thế kỷ 20. Con cá tầm cuối cùng ở Đức bắt được vào năm 1969. Ở nhiều ao đầm được thả nuôi cá chép là loài cá mà người La Mã cổ đại đã mang đến. Hải cẩu sống ở Biển BắcBiển Baltic, có lúc gần như bị biến mất. Vừa qua có lại được khoảng mấy nghìn con ở Biển Wadden thuộc Biển Bắc. Hải cẩu xám đã có lúc hoàn toàn không còn nữa ở Bắc Âu do bị đánh bắt, song gần đây lại có nhiều và một số đã di chuyển tới vùng bờ biển của Đức. Biển Wadden có ý nghĩa lớn là nơi dừng chân của 10 đến 12 triệu chim di trú mỗi năm. Loài cá voi quen thuộc nhất của Biển BắcBiển Balticcá voi họ chuột, ngoài ra còn có 7 loại cá voi khác như: cá nhà táng, cá hố kình. Bên cạnh đó còn có loài cá heo mõm ngắn. Bên cạnh các loài thú bản địa thì một số lượng đáng kể các loài thú nhập cư đã tới sinh sống. Đại diện tiêu biểu nhất là gấu mèo châu Mỹ, lửng chó, vẹt cổ hồngngỗng Ai Cập. Các loài thú nhập cư khác là ngỗng Canada, đà điểu Nam Mỹ, tôm sông châu MỸ, ếch bò châu Mỹ, cừu núi châu Âu, cá rô gai.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Joachim Gauck là đương kim tổng thống từ tháng 3, 2012.

Thủ đô và trụ sở chính phủ của Cộng hòa Liên bang Đức là Berlin. Theo điều 20 của Hiến pháp Đức thì Cộng hòa Liên bang Đức là một quốc gia dân chủ, xã hội và có pháp quyền. Nước Đức có tất cả 16 bang mà trong đó có 5 bang được chia thành 22 vùng hành chính (Regierungsbezirk). Mỗi bang trong số 16 bang, tùy theo số dân, có 3,4 hoặc 6 đại biểu của mình trong Thượng viện(Hội đồng liên bang). Thượng viện (Bundesrat) gồm 68 thành viên được bổ nhiệm với nhiệm kỳ nhất định. Hạ viện (Nghị viện liên bang, tiếng Đức: Bundestag) gồm 656 thành viên có nhiệm kỳ 4 năm, được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo nguyên tắc kết hợp giữa chế độ cử tri duy nhất và cử tri theo tỷ lệ. Hiến pháp quy định trật tự quốc gia. Nguyên thủ quốc giatổng thống liên bang với nhiệm vụ đại diện. Nhìn theo nghi thức thì sau tổng thống là Chủ tịch Quốc hội Liên bang, thủ tướngChủ tịch Hội đồng Liên bang mà căn cứ vào Hiến pháp là người đại diện cho tổng thống. Lãnh đạo chính phủ là thủ tướng liên bang, người có thẩm quyền quyết định đường lối chính trị của chính phủ liên bang. Thủ tướng do Nghị viện liên bang bầu ra. Tổng thống do Hội đồng liên bang và số đại cử tri bằng nhau của các bang bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm.

Nước Đức là một liên bang, điều đó có nghĩa là hệ thống chính trị của Đức được chia ra làm hai cấp: cấp liên bang, đại diện cho quốc gia về mặt đối ngoại, và cấp tiểu bang của từng bang một. Mỗi cấp đều có cơ quan nhà nước riêng của hành pháp, lập pháptư pháp.

Quốc hội Liên bangHội đồng Liên bang cùng quyết định về luật lệ của liên bang và có quyền sửa đổi Hiến pháp với đa số 2/3 trong cả hai cơ quan. Quốc hội tiểu bang quyết định về luật lệ cho từng tiểu bang. Mặc dầu các nghị sĩ không phải tuân theo chỉ thị nhưng những quyết định trước đó trong các đảng phái chiếm ưu thế trong việc ban hành luật lệ.

Hành pháp ở cấp liên bang được hình thành bởi chính phủ liên bang do thủ tướng liên bang lãnh đạo. Thủ hiến tiểu bang (Ministerpräsident) lãnh đạo hành pháp ở cấp tiểu bang. Các cơ quan hành chính ở cấp liên bang và tiểu bang được điều hành bởi các bộ trưởng đứng đầu các cơ quan nhà nước.

Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức tại Karlsruhe giám sát việc tuân thủ hiến pháp. Các tòa án tối cao của Đức là Tòa án Liên bang (Bundesgerichtshof) với trụ sở chính tại Karlsruhe, Tòa án Hành chính Liên bang tại Leipzig, Tòa án Lao động Liên bang tại Erfurt, Tòa án Xã hội Liên bang tại KasselTòa án Tài chính Liên bang tại München. Phần lớn việc hành luật là trách nhiệm của các tiểu bang. Các tòa án liên bang gần như luôn luôn là tòa án kháng cáo thượng thẩm và xem xét các quyết định của tòa án tiểu bang theo tính hợp pháp về hình thức và nội dung.

Các bang và các thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành phố lớn nhất của Đức là Berlin, Hamburg, München, Köln (Cologne), Frankfurt am Main, Dortmund, Essen, StuttgartDüsseldorf.

Karte Bundesrepublik Deutschland.svg
Bang Thủ phủ Diện tích (km²) Dân số (2013)[20]
Baden-Württemberg Stuttgart 35.752 10.569.100
Bayern München 70.549 12.519.600
Berlin Berlin 892 3.375.200
Brandenburg Potsdam 29.477 2.449.500
Bremen Bremen 404 654.800
Hamburg Hamburg 755 1.734.300
Hessen Wiesbaden 21.115 6.016.500
Mecklenburg-Vorpommern Schwerin 23.174 1.600.300
Niedersachsen Hannover 47.618 7.779.000
Nordrhein-Westfalen Düsseldorf 34.043 17.554.300
Rheinland-Pfalz Mainz 19.847 3.990.300
Saarland Saarbrücken 2.569 994.300
Sachsen Dresden 18.416 4.050.200
Sachsen-Anhalt Magdeburg 20.445 2.259.400
Schleswig-Holstein Kiel 15.763 2.806.500
Thüringen Erfurt 16.172 2.170.500

Đảng phái[sửa | sửa mã nguồn]

CDU logo.svg

Liên minh Dân chủ Cơ đốc Đức (Christlich Demokratische Union Deutschlands-CDU) được thành lập năm 1945 như là đảng kế thừa không phân biệt tôn giáo của nhiều đảng mang tính tôn giáo và của giới trung lưu. Trong đảng chủ yếu là những lực lượng được thống nhất từ Đảng Trung tâm Đức (Deutsche Zentrumspartei). Đảng có khuynh hướng bảo thủ. Ngoại trừ bang Bayern, CDU hoạt động trên toàn nước Đức. Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo (Christlich Soziale Union-CSU) có đường lối bảo thủ tương tự nhưng chỉ hoạt động tại Bayern. Hai đảng này cùng nhau tạo thành một phái chung trong Quốc hội Liên bang Đức, thường được gọi chung là "liên minh" hay "các đảng liên minh".

SPD logo.svg

Đảng Dân chủ Xã hội Đức (Sozialdemokratische Partei Deutschlands-SPD)(cánh tả), kể cả các tổ chức tiền thân, tồn tại từ năm 1863 và vì thế là đảng chính trị lâu đời nhất vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay của Đức. Đảng đã thành lập truyền thống của Phong trào Dân chủ Xã hội. Sau khi bị cấm trong thời gian của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia(phát xít), đảng được tái thành lập vào năm 1945. Từ Chương trình Godesberg năm 1959 đảng tự hiểu mình chính thức không còn chỉ là một đảng công nhân nữa mà là một đảng quần chúng, muốn được sự chọn lựa từ nhiều tầng lớp quần chúng rộng rãi. Niềm tin của đảng là "Tự do, Công bằng và Đoàn kết".

Đảng Dân chủ Tự do (Freie Demokratische Partei–FDP)(trung hữu) được thành lập năm 1948 và trong tự nhận thức đã dựa trên truyền thống của phong trào chủ nghĩa tự do Đức, phong trào mà ngay từ năm 1861 đã thành lập Đảng Tiến bộ Đức tại vương quốc Phổ như là đảng chính trị đầu tiên của Đức trong ý nghĩa đảng phái được hiểu theo quan niệm ngày nay. Đảng Dân chủ Tự do ủng hộ việc từng cá nhân có tự do và trách nhiệm nhiều hơn nữa, đặc biệt là trong các vấn đề về kinh tế và về quyền công dân cũng như là việc nhà nước đặc biệt nên thận trọng nhiều hơn nữa trong những việc có liên quan đến kinh tế. Với tổng cộng 42 năm, FDP chính là đối tác liên minh nhỏ tham gia chính phủ lâu nhất của liên bang.

Đảng Xanh (Die Grünen) hình thành năm 1979/1980 trên toàn liên bang từ các phong trào xã hội mới thời bấy giờ, thí dụ như phong trào phụ nữ, phong trào hòa bìnhphong trào sinh thái của những năm 1970. Năm 1983 đảng được bầu vào quốc hội liên bang lần đầu tiên. Năm 1990 đảng Xanh hòa nhập với phong trào nhân dân Đông Đức Liên minh 90 (Bündnis 90) trở thành Liên minh 90/Đảng Xanh (Bündnis 90/Die Grünen).

Die Linke.PDS logo.svg

Đảng Chủ nghĩa xã hội Dân chủ (Partei des Demokratischen Sozialismus–PDS) là đảng kế thừa của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức (Sozialistische Einheitspartei Deutschlands-SED), là đảng độc quyền lãnh đạo của Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây. Về nội dung, đảng dựa trên lý tưởng xã hội chủ nghĩa và trong các đảng phái đứng về phía cánh tả của SPD. Thắng lợi quan trọng trong bầu cử hiện nay được giới hạn trong miền Đông của nước Đức. Trong năm 2005, từ những chống đối chính sách cải tổ của chính phủ liên bang do SPD và đảng Xanh cầm quyền "Lựa chọn bầu cử Lao động và Công bằng Xã hội" (Wahlalternative Arbeit und Soziale Gerechtigkeit-WASG) được thành lập từ sáng kiến của công đoàn và những thành viên bị thất vọng của SPD. Trong cuộc bầu cử quốc hội liên bang năm 2005 PDS đã đưa thành viên của WASG vào danh sách ứng cử của đảng. Từ lý do này PDS hiện đã đổi tên thành Đảng Cánh tả (Đức)Đảng Cánh tả (Die Linkspartei). Cả hai đảng đang cố gắng hòa nhập thành một.

Những đảng cực hữu, ngoại trừ Đảng Đế quốc Đức (Deutsche Reichspartei) trong Quốc hội Liên Bang lần thứ nhất (1949-1953), chưa từng có đại diện trong Quốc hội Liên bang Đức, nhưng có thời gian đã có thể vào các quốc hội tiểu bang. Các đảng này trải qua một thời kỳ nở rộ tương đối vào cuối thập niên 1960 và từ khi tái thống nhất. Những đảng thuộc khuynh hướng này là Người Cộng hòa (Die Republikaner-REP), Liên minh Nhân dân Đức (Deutsche Volksunion-DVU) và Đảng Dân chủ Quốc gia Đức (Nationaldemokratische Partei Deutschlands-NPD).

Trong lịch sử của Cộng hòa Liên bang Đức đã có 2 lần cấm đảng phái đối với Đảng Đế quốc Xã hội chủ nghĩa (Sozialistische Reichspartei-SRP) cực hữu vào năm 1952Đảng Cộng sản Đức (Kommunistische Partei Deutschlands-KPD) vào năm 1956. Việc cấm đảng NPD năm 2004 thất bại chủ yếu là do lỗi lầm trong kết hợp giữa cơ quan liên bang về bảo vệ hiến pháp và các cơ quan bảo vệ hiến pháp của các tiểu bang.

Gần như tất cả các đảng có nhiều ảnh hưởng đều có tổ chức thanh niên - ít nhiều độc lập - đứng bên cạnh. Các tổ chức quan trọng nhất là Liên minh Trẻ (Junge Union) của CDU/CSU, Jusos của SPD, Người Tự do Trẻ (Junge Liberale) của FDP, Thanh niên Xanh (Grüne Jugend) của Bündnis 90/Die Grüne cũng như là tổ chức thanh niên 'solid-Thanh niên Xã hội chủ nghĩa (['solid] - die sozialistische jugend) của Đảng Cánh tả.

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Angela Merkel cùng lãnh đạo các nước tham dự hội nghị G8Heiligendamm.

Các đường lối định hướng quan trọng nhất của chính sách đối ngoại liên bang Đức là "hội nhập phía tây" và hội nhập châu Âu. Nước Đức góp phần quyết định trong việc xây dựng những tổ chức châu Âu, cũng với mục đích là lấy đi sự lo ngại của các nước láng giềng về nước Đức và làm cho các giới hạn từ các lực lượng chiếm đóng trở nên không cần thiết. Cộng hòa Liên bang Đức là thành viên của Hội đồng châu Âu từ năm 1950 và tham gia Hiệp ước Roma vào năm 1957 (còn Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu), nền tảng của Liên minh châu Âu ngày nay. Quan điểm chính yếu cho đường lối an ninh và thể hiện của sự hội nhập phía tây là việc nước Đức là thành viên của khối NATO. Nước Cộng hòa Liên bang Đức tham gia khối NATO năm 1955.

Trong Chiến tranh lạnh phạm vi hoạt động của đường lối ngoại giao Đức bị giới hạn. Một trong những mục đích quan trọng nhất là tái thống nhất. Việc tham chiến ở nước ngoài đã không là việc được cân nhắc. Theo Hiến pháp, quân đội Đức không được phép tham gia vào những cuộc chiến tranh tấn công, nhiệm vụ của quân đội chỉ là bảo vệ khối liên minh và đất nước. Tuy vậy nhờ vào "chính sách phía đông" là sáng kiến của Đức với khẩu hiệu biến đổi qua tiếp cận, chính sách lúc đầu đã được các đồng minh quan trọng quan sát một cách hoài nghi, mà nhiều dấu nhấn chính trị độc lập đã có thể được đặt ra. Thời gian sau này chính sách được cho là có nhiều thành tựu.

Từ khi tái thống nhất, nước Đức mở rộng các nguyên tắc trong chính sách ngoại giao và đi trên con đường dẫn đến trách nhiệm quốc tế lớn hơn. Như từ năm 1991 quân đội Đức với sự đồng ý của Quốc hội Liên bang và cùng với quân đội đồng minh cũng đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ bảo vệ và cưỡng chế hòa bình bên ngoài nước Đức và lãnh thổ của các đồng minh khối NATO.

Theo truyền thống, nước Đức cùng với nước Pháp đóng vai trò dẫn đầu trong Liên minh châu Âu. Đức đẩy mạnh các nỗ lực thành lập một hệ thống thống nhất và có hiệu quả cao của chính sách an ninh và đối ngoại châu Âu, không chỉ bên trong Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu. Những mục tiêu khác của chính sách đối ngoại khác là việc thực thi Nghị định thư Kyoto về bảo vệ khí hậu cũng như việc công nhận Tòa án Hình sự Quốc tế trên toàn thế giới. Chính phủ liên bang đã từ chối tham gia chiến tranh Iraq năm 2003. Cùng với các nước đồng minh là Liên hiệp Anh và Pháp, nước Đức cố gắng thông qua đối thoại kêu gọi chính phủ Iran từ bỏ việc tiếp tục thực hiện chương trình nguyên tử. Chính phủ Liên bang đang vươn đến một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an của Liên Hiệp Quốc. Việc tiến hành mục đích này gặp khó khăn vì sự chống đối của những quốc gia khác mà một phần là đồng minh. Hai nước Pháp và Anh ủng hộ về nguyên tắc các quốc gia G4 (Đức, Ấn Độ, NhậtBrasil) thế nhưng cho đến nay Mỹ vẫn chưa có bình luận gì về việc này.

Đức lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 23 tháng 9 năm 1975.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quân đội Đức
Logo

Sau khi thành lập năm 1949 lúc đầu Cộng hòa Liên bang Đức không có quân đội riêng. Tình hình thế giới thay đổi sau cuộc chiến tranh Triều Tiên thế giới vào thế đối đầu, chiến tranh lạnh bắt đầu. Cộng hòa Liên bang Đức gia nhập khối NATO năm 1955 và thành lập quân đội. Sau tái thống nhất, nhiều phần của Quân đội Nhân dân Quốc gia của Cộng hòa Dân chủ Đức được sát nhập.

Tổ chức chung được gọi là Bundeswehr (Quân đội Liên Bang) bao gồm các lực lượng quân đội và cơ quan hành chính. Quân đội được chia ra thành Lục quân Đức (Heer), Không quân Đức (Luftwaffe), Hải quân Đức (Deutsche Marine) và các bộ phận hỗ trợ (hậu cần, thông tin, tình báo quân đội, đào tạo,...) và quân y.

Trong tháng 4 năm 2005 có 257.000 quân nhân và 125.000 nhân viên dân sự phục vụ và làm việc trong quân đội Đức. Từ năm 2001 phụ nữ cũng được phép phục vụ không hạn chế trong quân đội. Thành phần phụ nữ là 6,2% quân nhân (thời điểm 2005). Cộng hòa Liên bang Đức chi phí 24,4 tỉ Euro trong năm 2004 cho quân đội, tức 1,2% tổng sản phẩm quốc nội. Chi phí này đứng hàng thứ 6 trên thế giới so về số tuyệt đối, nếu so với chi phí trung bình của các quốc gia thành viên khối NATO là 2,3% thì đứng trong phần ba cuối cùng.

Trong căn cứ quân sự Mỹ Ramstein và căn cứ không quân Đức tại Büchel hiện nay vẫn còn 65 quả bom hyđrô mà nước Đức có tham dự vào việc lập kế hoạch sử dụng chúng trong khuôn khổ cùng sở hữu hạt nhân (nuclear sharing). Huy chương cao quý nhất của quân đội Đức là huy hiệu Thập tự Sắt.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính về lịch sử Đức giới thiệu tổng quan có tính chi tiết hơn về lịch sử nước Đức. Về nước Đức Trung cổ đọc bài Đức trong thời kỳ Trung cổ. Về tiến triển của các quốc gia Đức sau Đệ nhị thế chiến đọc các bài lịch sử Cộng hòa Liên bang Đứclịch sử Cộng hòa Dân chủ Đức.

Thời tiền sử và Cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các bộ tộc người German vào khoảng 100 năm sau Công Nguyên

Các bằng chứng lâu đời nhất về dân cư trên lãnh thổ ngày nay của Cộng hòa Liên bang Đức là vào khoảng 700.000 năm trước đây. Người ta cho rằng, cách đây từ khoảng 500.000 năm, đã có dân cư sinh sống lâu dài ở đây. Trong nước Đức có những khai quật quan trọng từ thời kỳ Nguyên thủy: đại diện của một loài người trước kia Homo sapiens neanderthalensis, người Neanderthal, được gọi theo Neanderthal tại Mettman. Loài này đã bị Homo sapiens sapiens, loài người hiện đại, di dân đến cách đây khoảng 40.000 năm đẩy lùi. Trong thời kỳ Đồ đá mới đã có những địa điểm dân cư cố định với trồng trọt và chăn nuôi. Một vài vật văn hóa quan trọng từ thời kỳ này còn tồn tại cho đến ngày nay như đĩa bầu trời Nebra, chứng tỏ rằng ngay từ khoảng năm 2.000 trước Công Nguyên người ta đã biết đến thiên văn học trong vùng này.

Những bộ tộc người Kelt (tiếng Anh: Celt) và người German được người Hy Lạp và La Mã ghi chép lại lần đầu tiên trong thời gian vào trước Công Nguyên. Vào khoảng 500 năm trước Công Nguyên, miền Nam của nước Đức ngày nay do người Kelt sinh sống và ở miền Bắc Đức là người German. Người German di dân trong vòng nhiều thế kỷ về phía nam nên vào năm sinh của Chúa Giêsu, sông Donau là ranh giới áng chừng về dân cư giữa người German và Kelt. Những người nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng đoán rằng nhiều đặc điểm của những tiếng địa phương miền Nam nước Đức có thể là do ảnh hưởng của người Kelt. Từ năm 58 trước Công Nguyên đến khoảng năm 455 các khu vực tả ngạn sông Rhein cũng như phía nam sông Donau thuộc về Đế quốc La Mã. Lãnh thổ của Đế quốc La Mã thuộc nước Đức ngày nay được chia ra thành các tỉnh Thượng Germania, Hạ GermaniaRaetia. Trong vùng này người La Mã thành lập 4 doanh trại Quân đội mà sau này phát triển thành các thành phố. Các thành phố quan trọng nhất trong thời La Mã là Köln, Trier (thành phố lâu đời nhất của Đức) và Augsburg. Nhà độc tài uy chấn của La Mã là Julius Caesar đã phải tán dương sự uy dũng của người German. Vào năm 9 sau Công Nguyên, người German kiêu hùng dưới sự lãnh đạo của tù trưởng Arminius đã giải phóng nhân dân Đại Germania thoát khỏi cuộc xâm lược của các binh đoàn La Mã tinh nhuệ trong trận đánh kịch liệt tại khu rừng Teutoburg, trở thành biểu hiện của tinh thần bất khuất vào thời kỳ cổ đại.[21][22] Nhà sử học kiệt xuất Tacitus (người La Mã) viết lịch sử đầu tiên của toàn Germania vào năm 98. Trong đó, ông ca ngợi niềm vinh quang của dân tộc Đức ngay từ buổi đầu lịch sử. Ông tôn vinh man tộc German có tinh thần độc lập dân tộc cao quý, dũng mãnh, với đời sống chính trị, tôn giáo đúng đắn và tài năng tổ chức chính quyền. Các bộc lạc man rợ German vĩ đại hơn hẳn dân man rợ Gaul sống trong Đế quốc La Mã thời đó.[6][23][24]

Cuộc di dân và thời gian đầu của thời kỳ Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia sau Hiệp ước Verdun và Hiệp ước Mersen

Sau cuộc tấn công của quân man rợ Hung Nô (tiếng Anh: Huns) năm 375 và đồng thời với sự suy tàn của Đế quốc Tây La Mã, từ năm 395 bắt đầu có cuộc di cư của các dân tộc mà trong quá trình này các bộ tộc người German liên tục đi về hướng tây nam. Vào năm 378, một bộ lạc man rợ German là người Goth đã tấn công Đế quốc Tây La Mã và đánh thắng Hoàng đế Valens trong trận đánh ác liệt tại Hadrianopolis.[25] Vào năm 451, người Tây Goth do vua Theodoric thân chinh cầm đầu họp binh với quân La Mã do danh tướng Flavius Aetius chỉ huy và đánh tan tác liên quân Hung Nô - Đông Goth do vua Attila thân hành thống lĩnh trong trận đánh quyết liệt tại Chalons-Troyes. Vì vua Attila là "ngọn roi của Thiên Chúa" khi đó, chiến công hiển hách này đã mang lại uy danh cho người German kiêu hùng.[26] Vào năm 454, bằng một đòn giáng sấm sét tại Nedao, các bộ lạc man tộc German đã kết liễu mạng sống của vua Hung Nô là Ellac tiêu diệt sạch bóng quân man rợ Hung Nô tại Âu châu.[27] Và với việc quân Hung Nô bị hủy diệt trong trận đánh này thì dĩ nhiên là người Đông Goth cũng giành độc lập tự do.[28] Những bộ tộc người Slavơ di cư đến các vùng gần như không có người ở của miền Đông nước Đức ngày nay cho đến đường sông Elbe-Saale vào thời cuối Cổ đại trong thế kỷ thứ 7. Nhiều phần dân cư của các tiểu bang Đông Đức ngày nay vì thế mà mang nhiều ảnh hưởng Slavơ (Germania Slavica) cho đến giữa thời Trung cổ. Mãi đến lúc lập cư phía đông giữa thời kỳ Trung cổ họ mới được đồng hóa. Những người nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng đoán là vào khoảng 1/3 họ của người Đức ngày nay có nguồn gốc Slavơ. Phần chính của Tây Âu và Trung Âu do Vương quốc Frank chiếm đóng, vùng miền Bắc nước Đức ngày nay do người Sachsen làm chủ. Khi vó ngựa của người Ả Rập tung hoành Âu châu, chính người Frank do danh tướng Karl Búa Sắt chỉ huy đã đánh tan tác quân xâm lược Ả Rập trong trận đánh kịch liệt tại Tours (732), hất cẳng được bước tiến công của quân Ả Rập vào châu Âu.[29][30]

Sau cuộc chinh phạt đẫm máu người Sachsen và cưỡng ép họ chuyển đạo dưới vua Karl Đại Đế, Vương quốc Frank kéo dài đến biển Bắc, sông Eider và nước Áo ngày nay. Người Sachsen đã bị chinh phục và thủ lĩnh Witikind - dù đã chiến đấu dũng mãnh chống quân xâm lược Frank.[31] Chiến thắng của các cuộc chinh phạt của Đại Đế Karl đã hợp nhất các dân tộc German thành một quốc gia Ki-tô giáo. Không những thế, ông cũng thành công trong việc bảo vệ biên giới của Đế quốc Frank trước người Slavơ ở phía đông và người Hồi giáo ở phía nam.[32] Nhà vua đã thân chinh khởi đại binh tinh nhuệ đánh tan nát người Avar và người Sla-vơ, hủy diệt các khu định cư của họ và cũng đè lên họ những chính sách khắc nghiệp. Ông còn xuất binh tiến đánh người Hồi giáo ở Tây Ban Nha, dù lúc đầu không thành công nhưng sau đó cuộc chinh phạt giành thắng lợi.[33] Trên đỉnh cao của quyền lực Frank, Đại đế Karl đòi hỏi trở thành quyền lực lãnh đạo trong châu Âu. Vào lễ Giáng sinh năm 800, ông đăng quang Hoàng đế tại thành La Mã. Đế quốc La Mã Thần thánh đã ra đời, mang lại hy vọng về việc thiết lập một Khối Thịnh vượng chung Ki-tô giáo (Respublica Christiana).[34] Thế nhưng đế quốc của ông thống nhất không được lâu: tranh cãi trong những người kế thừa tác động đến việc chia ba đế quốc trong Hiệp ước Verdun (843) thành Vương quốc Frank Đông dưới quyền vua Ludwig Germanicus (sau này là Ludwig Đức), Vương quốc Frank Tây dưới quyền vua Karl dem Kahlen và vương quốc nằm giữa của Lothar I có tên là Lotharingien (tiếng Anh: Lotharingia, tiếng La tinh: Lotharii Regnum). Vương quốc Frank Đông tạo thành khuôn khổ về địa lý cho Đế quốc Đức thành hình sau này.

Đế quốc La Mã Thần thánh và sự vươn lên của nước Phổ (962-1806)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 2 năm 962 thường được xem như là ngày bắt đầu của truyền thống quốc gia Đức, là ngày Otto I là vua nước Frank Đông đầu tiên lên ngôi Hoàng đế tại thành La Mã và do đó thành lập Đế quốc La Mã Thần thánh lần thứ hai.[35] Ông lập chiến công hiển hách đánh đuổi quân xâm lược Sla-vơ và Hungary ra khỏi nước Đức.[36] Để gầy dựng lại Đế quốc của Hoàng đế Karl Đại Đế năm xưa, ông thân chinh kéo đại quân vượt đèo Anpơ, đánh đuổi mọi kẻ thù của Giáo triều và nhờ đó ông được Giáo hoàng tấn phong làm Hoàng đế La Mã Thần thánh. Dưới triều Hoàng đế Otto I, nước Đức trở thành một trong những liệt cường hùng mạnh nhất của châu Âu.[37] Thế nhưng năm 911 cũng được xem như là khởi đầu khi Konrad I lên nắm quyền như là ông vua đầu tiên của nước Đức không thuộc Vương triều Karolingien. Trước đây, Hiệp ước Verdun (843) hay Tuyên ngôn Strasbourg (843) cũng được coi là thời điểm khởi đầu của đất nước. Trong thế kỷ thứ 10 lần đầu tiên từ ngữ regnum teutonicum (Vương quốc Đức) được sử dụng để chỉ Vương quốc Frank Đông. Từ Deutschland (Đức Quốc) xuất phát từ tên gọi này của vương quốc.

Hoàng đế Otto I không xóa bỏ các Công quốc nhưng ông cắt giảm quyền lực của các Quận công hùng mạnh. Tên chính thức của Đế quốc La Mã Thần thánh thay đổi nhiều lần qua các thế kỷ.[36] Cho đến thế kỷ 12 còn được gọi là "Đế quốc Thần thánh" (Heiliges Reich), từ giữa thế kỷ 13 là "Đế quốc La Mã Thần thánh" (Heiliges Römisches Reich) và từ thế kỷ 15 là "Đế quốc La Mã Thần thánh Dân tộc Đức" (Heiliges Römisches Reich Deutscher Nation).

Trước đó các phần của Đế quốc Frank đã đi những con đường khác nhau: trong khi Vương quốc Frank Tây phát triển trở thành nước Pháp tập trung quyền lực thì Vương quốc Frank Đông chịu nhiều ảnh hưởng của các Vương hầu từng vùng, là những người bầu ra hoàng đế và qua đó mà có thể tạo tác động cho lợi ích riêng của họ. Mặc dù các Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh đã nhiều lần cố gắng củng cố vị trí của mình nhưng đế quốc vẫn là một liên minh của các lãnh thổ lớn, trung bình, nhiều lãnh thổ nhỏ cũng như là những thành phố đế chế tự do. Để rồi trong suốt các triều đại Otto, (936 - 1024), Franconia (1024 - 1137), và Hohenstaufen (1138 - 1254), các vua chúa của Đế quốc La Mã Thần thánh không thể nào thống nhất dân tộc Đức. Dưới triều Hoàng đế Otto III, ông tham vọng mở rộng quốc gia Đức nhưng vướng víu vào xung đột với thế lực Giáo hoàng.[37] Friedrich I Barbarossa - vị Hoàng đế khai quốc của Vương triều Hohenstaufen, được xem là một vị vua huyền thoại trong lịch sử nước Đức thời Trung Cổ, đã tham chiến trong các cuộc Thập tự chinh chống người Hồi giáo thời bấy giờ.[38] Không những thế, ông còn chống nhau với Giáo hoàng lẫn Liên minh Lombard ở Bắc Ý.[36] Các Hoàng đế triều Hohenstaufen như Heinrich VI (trị vì: 1190 - 1197), Friedrich II (trị vì: 1212 - 1250) và Konrad IV (trị vì: 1250 - 1254) không thể phá vỡ uy quyền tối cao của thế lực Giáo hoàng. Tuy vậy, Vương triều Hohenstaufen vẫn được xem là một trong những triều đại hào hùng nhất trong nền chính sử dân tộc Đức. Các Hoàng đế nhà Hohenstaufen đã bành trướng bờ cõi và khuếch trương định cư ở vùng đông bắc. Một trong những vị Hoàng đế lẫy lừng nhất là Friedrich II đã mở mang nền học vấn của đất nước, giống như Charlemagne năm xưa vậy. Không những thế, chính ông còn ngự bút viết một quyển sách. Ông luôn chuyên tâm học ngoại ngữ và làm thơ.[39] Sau khi Hoàng đế Konrad IV qua đời vào năm 1254 thì Đế quốc có biến loạn.[37] Với Vương hầu Friedrich VI nhà Hohenzollern, vào năm 1417 lãnh địa phong kiến Brandenburg ra đời. Vương triều Habsburg lên thống trị Đế quốc La Mã Thần thánh sau khi Hoàng đế Rudolf I lên ngôi báu vào năm 1273. Tân triều cũng không thể thống nhất được nước Đức.[36]

Sau triều đình Habsburg dời đô về thành Viên. Với Vương triều này, người Áo dẫn đầu Đế quốc La Mã Thần thánh.[36][40] Các Hoàng đế nhà Habsburg thường kiêm danh hiệu Đại Quận công nước Áo.[41] Nhà Habsburg có những vị Hoàng đế kiệt xuất của nhà Habsburg như Maximilian I (trị vì: 1493 - 1519) và Karl V (trị vì: 1519 - 1556). Nhưng họ vẫn không thành công trong việc thống nhất dân tộc Đức.[42] Vào năm 1526, Sultan nước Thổ Nhĩ Kỳ là Suleiman I ngự giá thân chinh đánh bại vua nước Hungary - một thành viên của Hoàng gia Habsburg. Vào năm 1529, Quân đội hùng mạnh của Suleiman I suýt nữa đoạt được kinh thành Viên. Kinh sợ trước vó ngựa uy chấn của quân Thổ Nhĩ Kỳ, Hoàng đế Karl V phải thân chinh đốc xuất đại binh và đánh đuổi địch ra khỏi sông Donau vào năm 1532. Trong công cuộc tái chiếm nước Hungary về cho Ki-tô giáo, ông bị đánh bại và rồi phải triều cống cho Triều đình Thổ Nhĩ Kỳ.[43] Bắt đầu từ năm 1530, sau khi những nỗ lực nhằm cản trở đạo Tin Lành của Giáo hội Thiên Chúa giáo thất bại, đạo Tin Lành được công nhận là quốc giáo trong nhiều lãnh thổ của đế chế. Người có công lập ra đức tin mới này chính là Thánh Martin Luther.[44] Phong trào Kháng Cách của ông mở đầu với 95 luận đề được ông dán lên cổng thành Schlosskirche tại Wittenberg vaò ngày 31 tháng 5 năm 1517. Qua đó, ông tố cáo việc dùng phép giải tội của thế lực Giáo hoàng thời đó. Lời lẽ của những luận đề này rất ư là thẳng thắn và đanh thép, và nhờ đó Luther trở thành một nhà cải cách tôn giáo.[45] Đay là bước tiến đầu tiên trong việc kháng cự thế lực Giáo hội Công giáo và khơi mào cho phong trào Kháng Cách.[46] Tại Hội nghị Worms vào năm 1521, Hoàng đế Karl V tuyên bố trục xuất Martin Luther ra khỏi Đế quốc La Mã Thần thánh, do sự cương quyết của ông trong việc cải cách tôn giáo và tố cáo Giáo hoàng.[44] Chính phong trào Kháng Cách này, cùng với những cuộc tiến công của người Pháp và người Thổ Nhĩ Kỳ, đã ngăn cản sự thống nhất của Đế quốc.[42] Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Karl V đã thân chinh khởi đại binh đánh tan nát quân địch trong trận đánh đẫm máu tại Pavia (1525) và buộc Pháp phải ký một Hòa ước nhục nhã. Đến thập niên 1540, ông tiếp tục đại phá tan tành quân Pháp và hợp binh với quân Anh của vua Henry VIII, mang lại nỗi đau đớn thất bại cho Pháp.[47]

Vào năm 1530, Hòa ước Augsburg được ký kết để đức tin Kháng Cách giảng hòa với Công giáo La Mã. Tuy nhiên, Hòa ước này chỉ gây thêm tranh cãi. Và rồi, mâu thuẫn tôn giáo gay gắt ở Đức đã dẫn đến cuộc Chiến tranh Ba Mươi năm (1618 - 1648) vô cùng tàn khốc. Ban đầu, đức tin Kháng Cách mất dần lãnh thổ, mang lại thế thượng phong cho Công giáo La Mã. Để biến biển Baltic thành ao nhà của Đế quốc Thụy Điển, vua Gustav II Adolf thân chinh khởi đại binh chinh phạt miền Bắc Đức vào năm 1630, trở thành minh chủ của Liên minh Tin Lành. Ông đại phá tan nát Liên đoàn Công giáo (Hoàng đế La Mã Thần thánh dẫn đầu) trong trận đánh ác liệt tại Leipzig (1630) và thân hành kéo đại quân về miền Nam Đức, chiếm lĩnh được xứ Bayern. Sau đó, nhà vua Thụy Điển lại đánh tan tác Liên đoàn Công giáo trong trận đánh khốc liệt tại Lützen (1632), nhưng ông trận vong.[48] Song vào năm 1635, quan Nhiếp chính Pháp là Hồng y Richelieu đưa quân Pháp vào tham chiến, tuy Pháp là nước Công giáo nhưng là kẻ thù truyền kiếp của Vương triều nhà Habsburg.[49] Theo Hòa ước Westfalen (1648), Hoàng đế chỉ còn một vị trí chủ yếu là về mặt hình thức, phe Kháng Cách thắng trận đã chấm dứt những ý định thống nhất dân tộc Đức dưới sự thống trị của Vương triều Habsburg.[36] Cuộc chiến tranh điên cuồng này đã mang lại nhiều hậu quả cho nhân dân Đức.[50]

Các Vương hầu ở Đức bấy giờ đã được tự do khỏi Đế quyền của nhà Habsburg, và toàn thể Đức lúc ấy đã bị tàn phá nghiêm trọng.[36] Tuy Hoàng đế vẫn còn Đế quyền trên danh nghĩa sau Hòa ước Westfalen, uy thế của Vương triều Habsburg bị suy sụp trước sự trỗi dậy của dòng họ Hohenzollern. Kể từ năm 1618, Tuyển hầu tước xứ Brandenburg là Johann Sigismund mở rộng cương thổ, từ đó kiêm luôn lãnh chúa xứ Phổ - dần dần tạo nên Nhà nước Phổ, theo Kháng Cách, dần dần mở mang cương thổ. Trong cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm, vua Gustav II Adolf đã buộc họ phải đứng về phe Thụy Điển. Tuyển hầu tước Georg Wilhelm thật quá yếu kém để cả quân Thụy Điển và Quân đội Đế quốc La Mã Thần Thánh phá hủy lãnh thổ.[51][52] Tuyển hầu tước Friedrich Wilhelm vào năm 1640 và nhờ vai trò của xứ Phổ trong cuộc Chiến tranh Ba Mươi năm, ông nhận được vùng Đông Pomerania vào năm 1648.[36][53] Là vị Tuyển hầu tước Vĩ đại, ông có công lớn đối với đất nước, qua việc xây dựng một bộ máy Chính phủ hữu hiệu và một lực lượng Quân đội tinh nhuệ. Sau khi đánh thắng quân Ba Lan và lấy được đất Đông Phổ Vào năm 1675, ông thân chinh xuất đại binh đại phá tan nát quân xâm lược Thụy Điển - đội quân hùng hậu nhất cõi Âu châu thời bấy giờ - trong trận đánh vang danh tại Fehrbellin, quét sạch quân Thụy Điển ra khỏi đất nước. Quân Brandenburg liên tiếp đánh tan nát quân Thụy Điển như là chẻ tre.[54] Kinh thành Berlin dần trở nên thịnh vượng. Tuyển hầu tước Vĩ đại cũng ban Thánh chỉ cho các tín đồ Huguenot bị vua Pháp là Louis XIV lưu đày sang xứ Phổ mà an cư lập nghiệp[55][56][57]

Trong khi ấy, Sultan Thổ Nhĩ Kỳ là Mehmed IV lại phái tướng sĩ tinh nhụê vây hãm kinh đô Viên vào năm 1683. Hoàng đế Leopold I sợ giặc, một đạo quân Áo vẫn cố cầm cự cho tới khi vua Ba Lan là Jan III Sobieski và một vài Vương hầu Đức kéo đến quét sạch quân Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi kinh đô Viên.[58] Sau khi Tuyển hầu tước Vĩ đại Friedrich Wilhelm I qua đời vào năm 1688, Tuyển hầu tước Friedrich III lên nối ngôi. Tuy không tài năng như cha mình nhưng ông cảm thấy bất mãn với địa vị lãnh chúa của mình. Khi cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha bùng nổ vào năm 1701, ông hứa sẽ hợp binh với Hoàng đế đánh Pháp, nhờ đó Leopold công nhận ông làm Quốc vương. Thế là vua Friedrich I của nước Phổ làm lễ gia miện vào năm 1701.[59][60] Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, liên minh Anh - Áo - Đức đã nhiều lần đánh thắng quân Pháp trong những trận đánh vinh quang.[61] Người kế tục vua Friedrich I, vua Friedrich Wilhelm I là người có tài trị nước và tính khí nóng nảy. Ông gầy dựng một bộ máy Chính phủ hiệu quả cũng như một lực lượng Quân đội tinh nhuệ hạng nhất Âu châu.[62] Nước Phổ khi đó trở thành Nhà nước quân chủ tập quyền, với một nền kinh tế vững mạnh, ngoại thương được mở mang.[60] Vào năm 1715, ba quân hừng hực khí thế lên đường đi đánh quân Thụy Điển do vua Karl XII thân chinh cầm đầu. Cuộc chiến tranh này nhanh chóng chấm dứt với chiến thắng của Quân đội Phổ trong trận đánh lớn tại Stralsund, nhờ đó Phổ lấy được đất đai của Karl V.[63] Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Ba Lan, liên minh Áo - Phổ - Nga cũng đập cho mưu đồ bá quyền Ba Lan của Pháp tan tành, trong đó Hoàng thái tử Phổ là Friedrich tỏ ra dũng mãnh phi thường.[64][65] Sau khi vua cha qua đời vào năm 1740, Friedrich lên nối ngôi báu, tức là ông vua thiên tài Friedrich II Đại Đế. Từ thưở nhỏ, ông đã bị vua cha Friedrich Wilhelm I giáo huấn bằng kỷ luật sắt, giờ đây ông được thừa hưởng một lực lượng hùng binh mãnh tướng, dù quân số ít ỏi. Từ đây, nước Phổ trở nên vang dội vì có vua Friedrich II Đại Đế là vị danh tướng kiệt xuất nhất của thời đại.[66] Đúng lúc đó, Hoàng đế Karl VI qua đời và trước khi mất ông đã ban Thánh chỉ qua đó các Vương hầu người Đức phải thừa nhận con gái ông là Maria Theresia lên làm Nữ hoàng các thuộc quốc Áo của nhà Habsburg. Nhưng Friedrich II Đại Đế lại phản đối chiếu chỉ này. Nhà vua quyết định tìm cách xâm chiếm tỉnh Silesia trù phú của người Áo và vào tháng 12 năm 1740, ông thân chinh đốc xuất đại binh tinh nhuệ tấn công mãnh liệt vào Silesia. Người Bayern và Sachsen cũng được Pháp và Tây Ban Nha hậu thuẫn để "liên Phổ đánh Áo", mở ra cuộc Chiến tranh Kế vị Áo. Họ lập Tuyển hầu tước xứ Bayern lên làm Hoàng đế Karl VII[67][68][69]

Vua Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786) là nhà độc tài sáng suốt, hiểu sâu triết học, có ý chí sắt đá,[70] có tài trị nướcdụng binh đặc biệt xuất sắc.[71][72] Ông là người hộ vệ của đất Đức thời đó.[73]

Vào năm 1741, vua Friedrich II Đại Đế thân chinh đánh thắng quân Áo trong trận đánh lớn tại Mollwitz, sang năm sau ông lại chiến thắng quân địch trong trận đánh lớn thứ hai tại Chotusitz (1742). Cùng năm đó, nước Phổ rút khỏi cuộc Chiến tranh Kế vị Áo, với niềm vinh quang chiến thắng và chiếm lĩnh được tỉnh Silesia cùng với hạt Glatz.[74] Sau đó cục diện thay đổi khi liên quân Anh - Hanover - Hesse đánh tan nát quân Pháp và đuổi đám bại binh Pháp về vùng Alsace. Quân Sachsen cũng phải theo về với liên minh Anh - Áo trong khi quân Bayern bơ vơ.[75] Trước tình hình đó, vua Friedrich II Đại Đế lại thân hành khởi binh, phát động chiến tranh một lần nữa để cứu vãn ngôi Hoàng đế của Karl VII (1744). Song Karl VII mất sớm và người Bayern làm hòa với Nữ hoàng Áo, quân Phổ cũng phải lui binh, nhưng giữ được Silesia.[76] Vào năm 1745, với tài dụng binh như thần của vua Friedrich II Đại Đế, các chiến binh dũng mãnh Phổ giành chiến thắng như là chẻ tre, với những trận thắng vang danh trước liên quân Áo - Sachsen tại Hohenfriedberg, SoorHennersdorf.[77] Vào năm 1744, người Phổ và người Hanover giành quyền kế vị ngai chúa bỏ trống của xứ Đông Friesland, nước Phổ lấy được xứ này nhờ đó họ có được cảng Emden tại Biển Bắc.[69][78] Không những thế, một đạo quân Phổ còn đập tan nát quân Sachsen bằng một đòn giáng sấm sét tại Kesselsdorf (1745), hủy diệt chí khí chiến đấu của Nữ hoàng nước Áo.[79] Liên minh Phổ - Pháp bị xé bỏ và nước Phổ toàn thắng với Hiệp định Dresden vào năm 1745, người Áo và người Sachsen phải chịu thua. Trong khi Maria Theresia làm Nữ hoàng của các thuộc quốc Áo thì chồng bà lên làm Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I.[69][80][81] Vào năm 1748, với Hiệp định Aix-la-Chapelle, Nữ hoàng Maria Theresia hất cẳng được quân Pháp và Tây Ban Nha ra khỏi các lãnh thổ Habsburg, nhưng bà vĩnh viễn mất tỉnh Silesia về tay nước Phổ ngày một lớn mạnh. Do đó, Hiệp định này vẫn không đem lại lợi thế cho người Áo.[66] Phổ trở thành đàn anh của các nước tộc Đức và thoát khỏi ách chư hầu của Áo.[82] Tức giận, Nữ hoàng Maria Theresia thiết lập liên minh với vua Pháp là Louis XV và Nữ hoàng NgaElizaveta để chống lại vua Friedrich II Đại Đế. Người Thụy Điển và người Sachsen cũng nhảy vào liên minh.[83]

Nhờ có tài ngoại giao,[66] ông kéo được Anh Quốc và Hanover về phe mình. Do nghĩ rằng liên quân Áo - Nga - Pháp - Sachsen - Thụy Điển đang mưu mô xâm lược đất nước, ông thân chinh khởi đại quân hùng mạnh tiến công xứ Sachsen vào năm 1756, mở ra cuộc Chiến tranh Bảy Năm tàn khốc. Quân Sachsen nhanh chóng thảm bại và một đạo quân Áo kéo đến cứu họ cũng bị Friedrich II Đại Đế đánh tan nát trong trận đánh kịch liệt tại Lobositz. Sang năm 1757, nhà vua tổ chức hành binh thẳng tiến tiến đến xứ Bohemia, nơi đây ông đánh tan tác quân Áo trong trận đánh đẫm máu tại Praha nhưng sau đó quân Áo thắng lớn trong trận đánh ác liệt ở Kolín. Quân Áo, Nga, Thụy Điển và Pháp đều xâm lăng nước Phổ và Bắc Đức, nhưng nhờ có thiên tài quân sự xuất sắc của vua Friedrich II Đại Đế, những chiến binh kỷ cương cao độ của ông quét sạch bóng liên quân Pháp - Áo đông đảo trong trận đánh quyết liệt tại Rossbach (1757), sau đó lại hành binh về Silesia đại phá tan tành quân chủ lực Áo trong trận đánh khốc liệt tại Leuthen. Vào năm 1758, ông cũng đánh tan tác quân Nga trong trận đánh đẫm máu tại Zorndorf, trong khi đó các vị Thống chế Phổ đã đánh đuổi được liên quân Nga - Thụy Điển.[84] Sau đó là những cuộc giằng co khốc liệt, quân Phổ lắm lúc đại bại như tại Kunersdorf (1759) và Landeshut (1760), nhưng vua Friedrich II Đại Đế vẫn giữ được nước và giành những chiến thắng hiển hách tại LiegnitzTorgau (1760). Ông còn tích cực phòng thủ, và cuối cùng liên quân chống Phổ dần dần tan rã, để rồi ông lại đại thắng như là chẻ tre và Hiệp định Hubertusburg được ký kết vào năm 1763: người Phổ trả tự do cho người Sachsen, nhưng họ giữ vững được tỉnh Silesia.[85] Vậy là vị vua anh dũng Friedrich II Đại Đế chiến thắng cuộc Chiến tranh Bảy Năm và nước Phổ giờ đây hoàn toàn là một liệt cường của toàn cõi châu Âu, hạ nhục Pháp[86] và xóa bỏ mọi hiểm họa đến với đất nước và bảo vệ quyền tự do của dân tộc Đức. Vào năm 1772, nước Phổ mở mang cương thổ đến vùng Tây Phổ,[69] nhờ nhà vua dùng tài năng ngoại giao mà tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất cùng với người Áo và người Nga.[66][81][83][87] Sau khi Hoàng đế Franz I qua đời vào năm 1765, con ông là Joseph II lên ngôi Hoàng đế và trị vì các thuộc quốc Áo cùng mẫu hậu Maria Theresia. Nhưng ông chỉ đảm nhiệm việc cai quản hành chính, quân sự và ngoại giao. Ông là vị Hoàng đế trẻ tuổi, ham muốn canh tân Đế quốc trong khi Maria Theresia lại cố thủ với chế độ quân chủ chuyên chế.[88] Ông luôn có tư tưởng chống Phổ nhưng thật tâm mến mộ vị Quân vương nước Phổ.[83]

Trước tham vọng sáp nhập xứ Bayern vào Đế quốc La Mã Thần thánh của Joseph II, nhân dân Đức bất bình và vị anh quân 66 tuổi Friedrich II Đại Đế lại một lần nữa lên lưng ngựa mà đốc xuất ba quân đánh Áo, mở ra cuộc Chiến tranh Kế vị Bayern (1778).[89] Tình hình binh cách lâm vào bế tắc, hai đoàn quân giáp chiến nhau giành khoai tây mang về, cuối cùng người Áo phải ký kết Hiệp định Teschen (1779) qua đó họ phải xóa bỏ hết những kế hoạch sáp nhập xứ Bayern.[90] Vào năm 1780, Joseph II thành lập liên minh với Nga, sau đó, ông lại lập mưu sáp nhập xứ Bayern nhưng Friedrich II Đại Đế phản công bằng việc thành lập một Liên minh vững chắc (Fürstenbund) với các Vương hầu hùng mạnh người Đức (1785), kể cả Kháng Cách lẫn Công giáo làm cho Đế quốc La Mã Thần thánh lung lay và mở ra tương lai cho một nước Đức thống nhất, dù rằng Liên minh này chủ yếu mang lại quyền lợi cho nước Phổ.[91][92] Những công lao hiển hách của ông - vị Quân vương bảo vệ vùng Bắc Đức - gắn liền với lòng yêu nước của nhân dân.[87][93] Dưới triều đại của Friedrich II Đại Đế ở Phổ và Joseph II ở Áo, trào lưu Khai Sáng đến với đất Đức. Vua Friedrich II Đại Đế trở thành một nhà độc tài sáng suốt kinh điển, với việc bảo trợ nhiệt huyết tri thứcnghệ thuật.[66][94] Ông trị vì một cách độc đoán, nhưng trở thành "người công bộc đầu tiên của đất nước. Đến khi ông về cõi vĩnh hằng vào năm 1786, công cuộc dựng xây một nước Phổ mới mẻ đã được hoàn thành và đất nước trở nên vô cùng hùng mạnh.[95] Joseph II cũng là nhà độc tài sáng suốt với hoài bão xóa bỏ chế độ phong kiến từ lâu, tiến hành cải cách sâu rộng, nhưng không được lòng người.[66][94]

Con đường đi đến quốc gia dân tộc Đức (1806-1871)[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc La Mã Thần thánh vẫn cứ suy yếu cho đến năm 1806 khi Hoàng đế Pháp là Napoléon Bonaparte xâm chiếm Trung Âu trong các cuộc chiến tranh chinh phục của ông và làm cho kết cấu yếu ớt của đế chế sụp đổ. Vị hoàng đế cuối cùng của Đế quốc La Mã Thần thánh mà trên thực tế chỉ còn tồn tại một cách hình thức, Franz II, người vừa trở thành hoàng đế của đế quốc Áo đa dân tộc năm 1804, phải thoái vị dưới áp lực của hoàng đế Pháp. Dưới quyền của Napoléon Bonaparte, con số các quốc gia Đức giảm đi rất nhiều do bị sát nhập chung và cũng do là nhiều thành phố đế chế mất quyền độc lập (có thời gian con số các thành phố này lên đến trên 80). Các quốc gia vừa được tổ chức lại này được gọi là Liên minh Rhein (Rheinbund) và phụ thuộc vào Napoléon.

Sau chiến bại của Napoléon, Hội nghị Viên (18 tháng 9 năm 1814 đến 9 tháng 6 năm 1815) khôi phục lại phần lớn các quan hệ thống trị cũ. Nước Đức, giờ đây không có băng kết nối, một phần được tổ chức trong Liên minh Đức (Deutscher Bund), một liên minh lỏng lẻo của 38 quốc gia dưới sự lãnh đạo của Áo. Ngay sau đó Liên minh Thuế quan Đức (Deutscher Zollverein) được thành lập mà trong đó vương quốc Phổ tái vững mạnh là cường quốc chiếm ưu thế.

Cách mạng tháng 3 (1848) tại Berlin

Mang ý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp, ngày 18 tháng 10 năm 1817 sinh viên đã tụ họp trong Lễ hội Wartburg để trao đổi ý tưởng; đỉnh cao là việc đốt sách của những tác giả chống lại một quốc gia Đức thí dụ như của Otto von Kotzebue.

Trong lần gặp gỡ lần thứ hai, 30.000 người từ tất cả các tầng lớp quần chúng và từ tất cả các nước gặp nhau trong Lễ hội Hambach. Tại đấy, lần đầu tiên màu cờ Đen-Đỏ-Vàng được phất lên mà sau này trở thành màu cờ quốc gia.

Vào ngày 1 tháng 3 năm 1848, với việc chiếm đóng tòa nhà hội họp của quốc hội bang Baden tại Karlsruhe, cuộc Cách mạng tháng 3 bắt đầu. Cuộc Cách mạng tháng 3 diễn ra trong Liên minh Đức và các tỉnh của Áo và Phổ. Vì những cuộc nổi dậy của nhân dân, nhiều nhà cầm quyền đã phải thoái vị như hầu tước Metternich của Áo, người mà năm 1813 còn tái thiết lập chế độ quân chủ sau Napoléon trong Hội nghị Viên. Dưới áp lực của diễn biến cách mạng tại kinh thành Berlin từ ngày 6 tháng 3 năm 1848, đầu tiên vua nước Phổ là Friedrich Wilhelm IV lui bước nhượng bộ và cải tổ Liên minh Đức. Vào ngày 23 tháng 7 năm 1849, sau khi Quân đội Phổ chiếm lĩnh thành phố Rastatt qua một cuộc chiến đấu ác liệt, Cách mạng BadenCách mạng tháng 3 bị chấm dứt.

Ngay sau cuộc Cách mạng tháng 3 mang tính tự do và quốc gia thất bại đã có va chạm giữa vương quốc Phổ với thế lực lớn Áo về quyền lực lãnh đạo trong Liên minh Đức cũng như trong châu Âu, dẫn đến cuộc Chiến tranh Áo - Phổ năm 1866. Bằng một đòn giáng sấm sét, những chiến binh Phổ tinh nhuệ đập tan nát quân Áo tại Königgrätz.[96] Sau khi nước Phổ dành phần thắng trong cuộc chiến tranh này Liên minh Đức tan rã, nước Phổ thôn tính các đối thủ trong chiến tranh tại Bắc Đức và vì thế giảm con số của các quốc gia Đức.

Đế quốc Đức (1871–1918)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ nước Đức 1871-1918

Việc thành lập Liên minh Bắc Đức (Norddeutscher Bund) dưới sự lãnh đạo của Phổ tiếp theo sau đó bắt đầu cho cái gọi là Giải pháp tiểu Đức (Kleindeutsche Lösung). Theo ý muốn của Otto von Bismarck, giải pháp này có mục tiêu thống nhất những quốc gia Đức riêng lẻ dưới sự độc quyền lãnh đạo của Phổ và không có sự tham gia của thế lực lớn thời bấy giờ là Áo.

Đế chế Đức được tuyên bố thành lập ở Versailles vào ngày 18 tháng 1 năm 1871 sau khi nước Phổ và các quốc gia Đức đồng minh chiến thắng cuộc chiến tranh chống Pháp 1870/1871, dưới sự nỗ lực của Otto von Bismarck, là thủ tướng đầu tiên của Đế chế Đức, người được gọi là "Thủ tướng Sắt thép". Vua Wilhelm I lên làm Hoàng đế nước Đức.[97]

Khuynh hướng chính mang tính bảo thủ-phản dân chủ của ông đã ngăn cản việc thống nhất đế chế dưới những điều kiện dân chủ và tạo điều kiện cho việc chủ nghĩa quốc gia và dân chủ xa lạ với nhau tại Đức. Từ khi thành lập đế chế, chính sách đối ngoại hung hãn mang tính chiến tranh của ông thay đổi trở thành một chính sách liên minh mà dựa trên sự cô lập Pháp và trung hòa của nước Đức đã lập nên một hệ thống liên minh trong châu Âu, bảo đảm vị trí bán độc quyền lãnh đạo của đế chế và hòa bình trong châu Âu. Trong "Năm Ba Hoàng đế" (1888) Wilhelm II lên nắm quyền, ép buộc Bismarck từ chức năm 1890 và thay đổi chính sách đối ngoại theo hướng của một chính sách cường quốc thế giới lớn đối nghịch. Vì đường hướng mới này mà đế quốc đã tự cô lập mình và một hệ liên minh mới thành hình. Cuộc mưu sát Hoàng thái tử nước Áo Franz Ferdinand làm bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong những trận đánh khốc liệt tại VerdunSomme, Quân đội Đức đã giáng cho quân Pháp khánh kiệt tả tơi.[98] Tuy nhiên, quân Anh vẫn còn tiếp tục nỗ lực chiến tranh chống Đức.[99]

Cộng hòa Weimar (1919-1933)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cộng hòa Weimar

Cùng với việc nước Đức đầu hàng năm 1918 và Cách mạng tháng 11, không những cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất mà chế độ quân chủ thống trị Đế quốc Đức (cũng như là tại Đế quốc Áo-Hung) cũng chấm dứt. Hoàng đế thoái vị và đế quốc Đức trở thành một nước cộng hòa dân chủ nghị viện. Trong Hòa ước Versailles nước Đức bị các lực lượng chiến thắng bắt buộc phải nhượng nhiều vùng đất lớn. Thêm vào đó tiền bồi thường hằng năm được ấn định kéo dài trong 80 năm. Hiệp ước mà chỉ được phái đoàn Đức miễn cưỡng ký kết là một việc làm nhục nước Đức, thực hiện các ý tưởng phục thù của Pháp được gây ra bởi sự làm nhục nước Pháp 50 năm trước đó.

Ngay sau khi hoàng đế thoái vị, vào ngày 9 tháng 11 năm 1918 nền cộng hòa được công bố. Đầu tiên hội đồng các ủy viên nhân dân thành lập chính phủ, có trách nhiệm hoàn chỉnh một hiến pháp tại thành phố Weimar, vì thế mà nền cộng hòa sau này được gọi là Cộng hòa Weimar. Ngay trong cùng năm đấy Đảng Cộng sản Đức được thành lập và trong tháng 1 năm 1919 là Đảng Công nhân Đức[cần dẫn nguồn], sau này đổi tên thành Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa[cần dẫn nguồn] (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei-NSDAP). Vào ngày 11 tháng 8 năm 1919 hiến pháp mới (Hiến pháp Weimar) bắt đầu có hiệu lực.

Việc trả tiền bồi thường đã đè nặng ngay từ đầu lên bầu không khí chính trị của nền cộng hòa trẻ tuổi. Những giả thuyết thông đồng, thí dụ như Truyền thuyết lưỡi dao đâm sau lưng (Dolchstoßlegende), do các lực lượng cực hữu loan truyền đã dẫn đến nhiều cuộc ám sát chính trị và âm mưu đảo chính mà trong đó quan trọng nhất là cuộc đảo chính Kapp 1920đảo chính Hitler-Ludendorff năm 1923. Đại diện quan trọng của lực lượng dân chủ như Matthias ErzbergerWalther Rathenau chết trong làn mưa đạn của những người ám sát thuộc phe cựu hữu. Thủ tướng Đế chế (Reichskanzler) đầu tiên Philipp Scheidemann chỉ thoát chết sít sao trong một cuộc mưu sát.

Trên đỉnh cao của cuộc suy thoái kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 1929, tại Đức có hơn 6 triệu người thất nghiệp mà phần lớn sống trong cảnh cùng cực. Hậu quả là các đảng cực hữu càng có nhiều người ủng hộ hơn trước đây. Sau chiến thắng lớn của những người thuộc Quốc Xã năm 1930 các thủ tướng đế chế không còn đa số trong quốc hội nữa mà chỉ điều hành chính phủ với sự trợ giúp của nội các không còn được hợp pháp hóa một cách dân chủ. Tổng thống đế chế (Reichspräsident) Paul von Hindenburg thực thi thẩm quyền của ông, bổ nhiệm thủ tướng không cần sự đồng ý của quốc hội. Luật lệ chỉ còn được ban hành như "pháp lệnh khẩn cấp" (Notverordnung) dựa trên điều 48 của Hiến pháp Weimar quy định về tình trạng khẩn cấp.

Ngày 30 tháng 1 năm 1933 Hindenburg bổ nhiệm Adolf Hitler làm thủ tướng đế chế. Ngày 27 tháng 2 xảy ra vụ đốt cháy tòa nhà quốc hội đế chế (Reichstagsbrand). Hitler lợi dụng vụ đốt cháy này để ban hành thêm một pháp lệnh khẩn cấp, vô hiệu hóa quyền công dân vô thời hạn. Trước cuộc bầu cử quốc hội vào ngày 5 tháng 3 năm 1933 đã xảy ra hằng loạt các vụ bắt giam những đối thủ chính trị, đặc biệt là những người cộng sản và dân chủ xã hội. Mặc dù có thêm được rất nhiều phiếu nhưng Đảng Đức Quốc Xã không đạt được đa số tuyệt đối trong cuộc bầu cử và vì thế phải liên minh với Đảng Nhân dân Đức Quốc (Deutschnationale Volkspartei). Quốc hội vừa được thành lập thông qua đạo luật toàn quyền (Ermächtigungsgesetz) 5 ngày sau đó, thừa nhận quyền lực không giới hạn của chính phủ Hitler.

Đức Quốc xã[sửa | sửa mã nguồn]

Adolf Hitler

Sau khi lên nắm quyền, Đảng Quốc xã đã nhanh chóng biến nước Đức thành một quốc gia chỉ có một đảng. Trong khi các đối thủ chính trị bị truy đuổi thì những người dân theo đạo Do Thái trở thành mục tiêu của chính sách tẩy chay. Kết quả của chính sách này là việc từ 5 đến 6 triệu người Do Tháichâu Âu bị sát hại trong những năm chiến tranh (xem Holocaust). Ngoài ra còn có hàng nghìn người dân du mục, đồng tính luyến ái hay tàn tật cũng bị giam giữ và tàn sát một cách không thương tiếc.

Một mục tiêu quan trọng khác của Đảng Quốc xã là sự bành trướng của nước Đức. Năm 1938 Áo được sáp nhập vào Đức một cách hòa bình dưới sự chào mừng hân hoan của phần lớn dân chúng. Trong cùng năm đó Adolf Hitler xâm chiếm vùng đất Sudetenland thông qua Hiệp ước München. Chỉ đến khi quân đội Đức tiến quân vào lãnh thổ còn lại của Séc thì các quốc gia khác mới nhận ra lỗi lầm đã mắc phải thông qua chính sách nhân nhượng (Appeasement) của họ. Sau khi cuộc thương lượng về khu vực người Đức ở Ba Lan bị thất bại, Chiến tranh thế giới lần thứ hai được bắt đầu với việc Đức tấn công vào Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939. Khoảng 55 triệu người đã tử vong trong cuộc chiến tranh này. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai được kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Đức. Hitler đã tự sát vào ngày 30 tháng 4 trước đó. Những kẻ có trách nhiệm sống sót bị phán xử trong Tòa án Nürnberg sau này.

Đồng Minh chiếm đóng (1945-1949)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nước Đức 1945-1949

Trong thời gian đầu, Mỹ, Liên Xô, Anh và sau này có cả Pháp cố gắng lập nên một chính sách chiếm đóng chung. Họ thống nhất về các mặt phi quân sự hóaphi phát-xít hóa. Nhưng đến câu hỏi, phải hiểu thế nào là dân chủ, thì Liên Xô và các nước phương Tây không thể đi đến thống nhất.

Vào ngày 23 tháng 5 năm 1949 nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) được thành lập từ 3 khu vực chiếm đóng của Anh, Mỹ và Pháp. Chẳng bao lâu sau, nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) cũng được ra đời từ khu vực chiếm đóng của Liên Xô vào ngày 7 tháng 10 năm 1949. Lãnh thổ của Đế chế Đức được chia ra làm 2 nước, các vùng Pommer, Schlesien và miền Nam Đông Phổ thuộc về Ba Lan, miền Bắc Đông Phổ trở thành tỉnh Kaliningrad (tiếng Nga: Калинингра́дская о́бласть) thuộc Liên bang Xô viết.

Chia cắt và tái thống nhất (1949-1990)[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến tranh lạnh sau đó không những chia cắt Đông và Tây Âu mà cả ĐôngTây Đức.

Trong khi một nền kinh tế kế hoạch được xây dựng trong nước Cộng hòa Dân chủ Đức thì Cộng hòa Liên bang Đức quyết định đi theo con đường kinh tế thị trường mang tính xã hội. Điều kỳ diệu kinh tế dẫn đến phát triển kinh tế cao liên tục, việc làm cho mọi người và thịnh vượng trong khuôn khổ của một chính sách kinh tế dưới quyền của thủ tướng đầu tiên là Konrad Adenauer và bộ trưởng kinh tế Ludwig Erhard, người góp phần điều khiển quyết định. Liên minh lớn từ CDU và SPD thành lập năm 1966 ban hành một loạt sửa đổi luật pháp mang tính cơ bản. Cùng với chính phủ dưới quyền của thủ tướng Willy Brandt một loạt cải tổ xã hội và ngoại giao được thực hiện. Chính sách đối ngoại về phía đông dựa trên đối thoại với khối liên minh trong Hiệp ước Warsaw đã làm giảm căng thẳng về ngoại giao và mang lại sự gần gũi Đức-Đức mà đỉnh cao là việc Quỳ gối tại Warsaw của Brandt. Việc này đã mang lại cho Willi Brandt Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1972 nhưng đã bị những người bảo thủ chỉ trích kịch liệt. Willi Brandt từ chức sau vụ khám phá ra người cố vấn của ông, Günter Guillaume, là một điệp viên. Người nối tiếp ông, Helmut Schmidt, phải đối phó với nhiều khó khăn như nợ và thất nghiệp ngày càng tăng, nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế và khủng bố của Phái Hồng quân (Rote Armee Fraktion-RAF). Sau khi chính phủ liên minh tan rã, Helmut Kohl trở thành thủ tướng năm 1982 thông qua một cuộc bỏ phiếu bãi miễn. Ông làm thủ tướng lâu hơn những người đi trước và được coi là thủ tướng của việc thống nhất Đức.

Cuộc thay đổi chính quyền ở Liên Xô dẫn đến chính sách mở cửa, các cuộc cách mạng và sự đổ vỡ của chính quyền cộng sản ở Đông Đức cũng như ở các nước Đông Âu khác.

Từ Cộng hòa Bonn đến Cộng hòa Berlin (từ 1990 đến nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp theo sự sụp đổ của Bức tường Berlin ngày 9 tháng 11 năm 1989, Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức mất đi đa số trong Quốc hội tại cuộc bầu cử ngày 18 tháng 3 năm 1990. Ngày 23 tháng 8 cùng năm, Quốc hội Đông Đức quyết định rằng lãnh thổ quốc gia này sẽ được đặt dưới hệ thống pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức kể từ ngày 3 tháng 10 năm 1990. Kết quả của sự sáp nhập này, Cộng hòa Dân chủ Đức chính thức chấm dứt sự tồn tại của nó. Phần lớn quân đội của các lực lượng chiếm đóng trước đây rời khỏi nước Đức, những đơn vị quân sự còn lại của các lực lượng chiếm đóng không còn quyền kiểm soát nữa, mà thuộc sự quản lý dưới quy chế của quân đội NATO. Kể từ thời điểm này, nước Đức lần đầu tiên từ sau Đệ nhị thế chiến khôi phục lại được hoàn toàn chủ quyền lãnh thổ[cần dẫn nguồn].

Với đa số sít sao (338 phiếu thuận trên 320 phiếu chống) vào ngày 20 tháng 6 năm 1991 Quốc hội Liên bang quyết định dời chính phủ và quốc hội từ thủ đô tạm thời Bonn về Berlin. Tháng 9 năm 1999 công cuộc dời đô hoàn thành.

Sau sự tăng trưởng ngắn từ việc tái thống nhất, thập niên 1990 mang dấu ấn của trì trệ kinh tế, thất nghiệp và trì hoãn cải tổ, vì thế mà chính phủ Helmut Kohl đã thất bại trong cuộc bầu cử năm 1998. Liên minh chính phủ của Liên Minh 90/Đảng Xanh và Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) dưới sự lãnh đạo của Gerhard Schröder thay đổi đường lối. Chính sách của liên bang trong thời gian chuyển tiếp sang thế kỷ 21 chủ yếu là chính sách cải tổ. Chính phủ đỏ-xanh thực hiện nhiều thay đổi cơ bản trong chính sách xã hội, tiền hưu và y tế. Đề tài sinh thái được coi trọng hơn, thí dụ như với việc áp dụng một loại thuế mới được tranh cãi là thuế sinh thái trên giá năng lượng, bắt đầu từ bỏ năng lượng nguyên tử hay luật về giảm thiểu khí nhà kính.

Nước Đức gây sự chú ý về đường lối ngoại giao trong thời gian của cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 khi không tham chiến. Điều này đã dẫn đến xung đột đặc biệt là với Mỹ nhưng cũng mang lại nhiều cảm tình của nhân dân Đức đối với Schröder, được đặc tả như là "thủ tướng hòa bình".

Cùng với đạo luật Hartz IV năm 2004 mang nhiều thay đổi lớn với mục đích làm sống động thị trường lao động bằng cách nâng sức ép đối với những người thất nghiệp, phản kháng chống lại đường lối chính phủ mà được cảm nhận là không có công bằng xã hội cũng tăng lên. Sau các thất bại trong những cuộc bầu cử quốc hội tiểu bang năm 2004 và 2005, vào ngày 1 tháng 7 năm 2005 thủ tướng liên bang Schröder đã yêu cầu Quốc hội Liên bang bỏ phiếu tín nhiệm theo điều 68 Hiến pháp với mục đích cố ý thất bại. Sau đó tổng thống liên bang Horst Köhler đã giải thể Quốc hội Liên bang và ấn định cuộc bầu cử mới vào ngày 18 tháng 9 năm 2005. Cuộc bầu cử không mang lại một kết quả có lợi cho một phái chính trị nào nên CDU/CSU và SPD thống nhất thành lập một chính phủ liên minh lớn dưới quyền của thủ tướng Angela Merkel (CDU).

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức là một nước tương đối "đông đúc" với tổng số dân khoảng 81,8 triệu dân tính đến tháng 1 năm 2010.[100] Gần 9% dân số không phải là gốc Đức. Đa số dân tập trung ở các khu đô thị và có những khác biệt đáng kể về sự phân bố giữa các bang. Mật độ dân số trung bình 229,4 người trên 1 kilômét vuông. Ước lượng tuổi thọ khi sinh của Đức là 79,9 năm. Tỷ suất sinh là 1,4 trẻ trên 1 bà mẹ, hay trung bình 7,9 trẻ sinh ra trên 1000 dân năm 2009, là một trong những nước có tỷ suất sinh thấp nhất trên thế giới.[101]

Tỷ lệ nghèo khổ của Đức đã tăng cao kỷ lục năm 2014 tất cả các thành phố cũng như các khu vực đã rơi vào khủng hoảng kinh tế và xã hội sâu xa. Với tỷ lệ nghèo trung bình hơn 15% Đức hiện có hơn 12,4 triệu người đang ở dưới mức đói nghèo[102][103]

Suy giảm dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Do xu thế thay đổi trong đồ thị thống kê tuổi, dự đoán là tổng dân số Đức sẽ giảm xuống khoảng 65 triệu cho đến năm 2050, ngay cả nếu có thêm số 5,8 triệu người nhập cư.

Suy giảm dân số dẫn đến những vấn đề tài chính nghiêm trọng. Luôn luôn có một "hợp đồng giữa các thế hệ" theo đó mà người lao động ngày nay nộp thuế, đóng bảo hiểm và đóng góp vào các quỹ phúc lợi xã hội để chi trả cho dịch vụ y tế và tiền lương của những người đã về hưu. Tiếp theo chính những người đã đóng góp này sau đó lại được hưởng lợi từ thế hệ kế tiếp... Đồ thị thống kê dân số nước Đức hiện nay có khuynh hướng thiên về số dân cao tuổi đến mức là hiện tại và sắp tới đang và sẽ còn sự thiếu hụt trong các nguồn thu của chính phủ để dành cho các quỹ trợ cấp xã hội. Một điều nữa, nhiều người già ở Đông Đức trước đây chưa từng bao giờ đóng góp vào quỹ trợ cấp vì không có những quy định như thế. "Thuế sinh thái" (Thuế phụ thu đánh vào nhiên liệu xe hơi và các loại dầu khác) mặc dù ban đầu không phải nhằm phục vụ mục tiêu này, bây giờ cũng được sử dụng để bù đắp cho sự thiếu hụt.

Đô thị hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức có các thành phố lớn như: Berlin, Hamburg, München, Köln, Frankfurt, và Stuttgart. Khu vực đô thị lớn nhất là vùng Rhine-Ruhr (12 triệu người), bao gồm Düsseldorf (thủ phủ của North Rhine-Westphalia), Köln, Essen, Dortmund, Duisburg, và Bochum.

Berlin
Berlin
Hamburg
Hamburg
Munich
Munich (München)

Xếp hạng Thành phố / Bang Dân số

Cologne
Köln (Köln)
Frankfurt am Main
Frankfurt am Main
Stuttgart
Stuttgart

1 Berlin / BE 3,439,100
2 Hamburg / HH 1,769,117
3 Munich / BY 1,330,440
4 Köln / NW 998,105
5 Frankfurt am Main / HE 671,927
6 Stuttgart / BW 600,068
7 Düsseldorf / NW 586,217
8 Dortmund / NW 581,308
9 Essen / NW 576,259
10 Bremen / HB 547.685
11 Hanover / NI 520,966
12 Leipzig / SN 518,862
13 Dresden / SN 517,052
14 Nuremberg / BY 503,673
15 Duisburg / NW 491,931
Destatis (2009)[104]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiếng Đức

Ngôn ngữ nói và viết chính thức là tiếng Đức. Bên cạnh tiếng Đức là các ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số đã sống lâu đời tại Đức mà đã được công nhận là ngôn ngữ chính thức như tiếng Đan Mạch và các tiếng nói của người Sorben và Friesen.

Martin Luther đã góp phần vào việc phát triển của tiếng Đức chuẩn trong thế kỷ 16 với việc dịch Kinh Thánh của ông. Jahann Christoph Adelung xuất bản năm 1871 quyển tự điển lớn đầu tiên. Đột phá lớn tiến tới một cách viết tiếng Đức thống nhất là quyển "Tự điển chính tả tiếng Đức" của Konrad Duden (1080) là quyển sách đã được chấp nhận là cơ sở của chính tả của cơ quan nhà nước trong cuộc cải tổ cách viết chính tả năm 1901 sau vài thay đổi nhỏ. Mãi đến năm 1996 mới có cuộc cải tổ cách viết mới.

Tiếng Đức đã từng một thời là ngôn ngữ chung (lingua franca) ở trung tâm châu Âu, Bắc ÂuĐông Âu. Ngày nay tiếng Đức là một trong những ngôn ngữ được dạy nhiều nhất trên thế giới, và là ngoại ngữ được yêu chuộng thứ hai sau tiếng Anh ở châu Âu.

Ngoại ngữ được dạy ưu tiên trong trường học là tiếng Anh, kế tiếp theo đó là tiếng Pháp và sau đó là tiếng La tinh. Trong những năm gần đây tiếng Tây Ban Nha ngày càng được ưa chuộng hơn.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Hai tôn giáo chính ở Đức là Ki-tô giáoDo Thái giáo. Hồi giáo chỉ mới xuất hiện và lan rộng ở Đức sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phần lớn đân số Đức theo Ki-tô giáo: 32,0% theo Tin Lành (ở Bắc và Đông Đức), 31,7% theo Công giáo La Mã (ở Tây và Nam Đức), 1,14% theo Chính Thống giáo Đông phương. Khoảng 27% người Đức không theo tôn giáo nào cả, phần lớn trong số họ sống ở miền Bắc, nhất là những vùng thuộc về Đông Đức cũ. Số còn lại theo các đạo khác.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Đức
Xe hơi Mercedes-Benz. Đức là nước xuất khẩu hàng hóa đứng đầu thế giới từ 2003 tới 2008.[105]

Với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hơn 2.271 tỷ Euro, Đức là nước có nền kinh tế lớn nhất châu Âu và lớn thứ năm trên thế giới sau Mỹ, Trung Quốc, Ấn ĐộNhật Bản. Đức cũng là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu, hơn cả Mỹ và Trung Quốc.[cần dẫn nguồn]

Các bạn hàng chính là Pháp, Mỹ, Anh, Ý và Hà Lan. Ngoài ra, Đức còn là bạn hàng lớn nhất của hầu hết các nước châu Âu. Với tư cách là một cường quốc hàng đầu trong Liên minh châu Âu, nước Đức đang phấn đấu cho một sự thống nhất kinh tế chặt chẽ hơn của châu lục này.

Hơn một nửa năng lực công nghiệp của nước Đức đã bị phá huỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Ở Đông Đức, kinh tế phát triển rất chậm chạp. Còn Tây Đức đã trải qua giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ trong những năm 1950. Kết quả là nền kinh tế Tây Đức bước vào thời ổn định, nạn thất nghiệp được thanh toán vào năm 1959. Vào cuối thập niên 1950, sản xuất công nghiệp tăng 130%. Có một số nhân tố góp phần vào sự thành công này. Kế hoạch Marshall do Mỹ khởi xướng đã bơm một lượng viện trợ rất cần thiết trong suốt thời kỳ tái thiết. Một cuộc cải cách tiền tệ mạnh dạn đã khôi phục lại giá trị đồng tiền và chống được lạm phát. Chế độ kiểm soát giá cả và tiền lương bị huỷ bỏ. Cơ sở hạ tầng được phục hồi và cuộc chiến Triều Tiên những năm 1950 đã làm gia tăng nhu cầu đối với các hàng hóa của Đức.

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Đức đã bị suy giảm trong những năm 1990, do ảnh hưởng của sự suy thoái toàn cầu và do những chi phí rất lớn để sắp xếp lại dân cư và những ngành công nghiệp không hiệu quả của Đông Đức cũ.

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng mức bán buôn của Cộng hoà Liên bang Đức liên tục tăng lên. Doanh số bán lẻ cũng ngày càng tăng và hình thức doanh nghiệp tự bán hàng đang thay thế ngày càng nhiều cho các cơ sở trong ngành thương nghiệp bán lẻ truyền thống.

Ngoại thương là một trong những nhân tố chủ yếu trong sự thành công của kinh tế Đức. Xuất khẩu đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế Đức và là một trong những ngành đem về nhiều ngoại tệ nhất. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Đức gồm máy móc, hàng điện tử, ô tô, các sản phẩm hoá chất, thực phẩm, hàng dệt may, dụng cụ quang học và điện năng. Là một nước phụ thuộc nhiều vào ngoại thương nên Đức đồng thời cũng nhập nhiều loại hàng hoá và là nước nhập khẩu nhiều thứ hai thế giới. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, phương tiện vận chuyển, hoá chất, thuốc lá, lương thực, đồ uống, kim loại và các sản phẩm dầu mỏ.Đức cũng nổi tiếng với các sản phẩm thủ công như lính chìđồ lưu niệm.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như các nước phương Tây khác, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp của Đức ngày càng giảm đi. Lợi nhuận thấp được cho là nguyên nhân chính của sự thất bại của nhiều trang trại vừa và nhỏ. Các trang trại ngày càng lớn hơn và thường liên kết với nhau, mặc dù nhiều trang trại nhỏ vẫn làm thêm nhiều công việc phụ bán thời gian nữa.

Phần lớn diện tích nước Đức được dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ có 2% - 3% dân số Đức làm việc trong ngành này.Các vùng đất được chuyên môn hoá vào các lĩnh vực canh tác. Vùng bờ biển phía bắc rất thích hợp cho việc nuôi bò sữa và ngựa. Vùng chân núi Alps có nhiều cánh đồng cỏ. Nơi đây các ngành chăn nuôi gia cầm, lợn, bò và cừu rất phát triển. Dải đất màu mỡ dọc theo sườn nam vùng đất thấp là nơi gieo trồng lúa mì, lúa mạch, ngũ cốc, củ cải đường, cây ăn trái, khoai tây và nho. Đức có tên trong danh sách các nước sản xuất sữa, sản phẩm bơ sữa và thịt nhiều nhất thế giới. Nông nghiệp ở Đức được điều tiết theo chính sách nông nghiệp của Liên minh châu Âu.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như hầu hết các nền kinh tế lớn khác, tỉ lệ lao động trong công nghiệp ở Đức đã giảm do sự phát triển nhanh của các ngành dịch vụ. Đức phải nhập khẩu hầu hết nguyên vật liệu và năng lượng, mặc dù có những mỏ than đá ở vùng Ruhr và dọc theo sông Saar. Đức cũng có quặng sắt, dầu mỏ và khí đốt, song trữ lượng không nhiều.

Kỹ nghệ hoá chất là một trong những ngành quan trọng nhất của Đức. Trong đó có những công ty như Bayer AG, BASFHoechst.

Ngành công nghiệp xe hơi của Đức là ngành có quy mô lớn nhất ở châu Âu. Thành công lớn nhất của nước Đức là trong ngành sản xuất xe hơi chất lượng cao. Có lẽ các nhãn mác xe hơi sang trọng nhất thế giới ngày nay hầu như đều có nguồn gốc từ Đức: Bayerische Motoren Werke AG (BMW), Daimler AG (Mercedes-Benz), Porsche, Audi, Volkswagen, Bugatti, Lamborghini, Mini, Rolls-Royce, Bentley.....

Các ngành công nghiệp quan trọng khác gồm chế tạo máy bay, máy xây dựng, máy móc nông nghiệp, máy phát điện, điện tử, các thiết bị văn phòng. Mặc dù có những ngành công nghiệp rất thành công, song một số ngành truyền thống, chẳng hạn như luyện thép và đóng tàu, lại đang sa sút nghiêm trọng. Sự cạnh tranh từ Nhật và công nghệ mới đã làm giảm lợi nhuận của nước Đức.

Đức là trụ sở chính của nhiều công ty đa quốc gia khổng lồ như BASF, Robert Bosch GmbH, E.ON, Deutsche TelekomSiemens AG.

Tuy có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng xương sống của kinh tế Đức lại là các công ty loại trung (Mittelstand) với quy mô dưới 1000 nhân viên. Trong tổng số 1016 Tỷ USD hàng hóa xuất khẩu năm 2005, một phần lớn xuất phát từ khu vực này. Hiện nay Đức thuộc top 3 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa.

Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực dịch vụ đã tăng đều đặn trong những năm gần đây và hiện đóng góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội. Lĩnh vực này bao gồm cả du lịch. Năm 2004, lượng khách nước ngoài đến Đức du lịch nhiều nhất là từ Hà Lan, kế đó là Vương quốc Anh và Mỹ.

Frankfurt am Main là trung tâm ngân hàng của nước Đức và là trung tâm tài chính lớn trên thế giới. Thị trường chứng khoán Frankfurt cũng là một trong những thị trường chứng khoán hàng đầu trên thế giới.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

năm 1921, đường cao tốc(autobahn) AVUS đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Berlin.Từ giữa thế kỷ 20 hệ thống giao thông đường bộ của Đức đã thay thế hệ thống giao thông đường sắt chiếm vị trí quan trọng nhất. Đức là nước có mạng lưới giao thông dày đặc nhất thế giới, bao gồm 12531 km đường cao tốc tính đến 01.01.2007 (Autobahn) và 41.386 km đường liên tỉnh. Nước Đức là nước duy nhất trên thế giới mà không có hạn chế tốc độ nói chung trên đường cao tốc.

Cùng với sự tư nhân hóa năm 1993, hệ thống đường sắt dần dần bị thu nhỏ và hạn chế lại, trong khi hệ thống giao thông hàng không ngày càng phát triển. Sân bay quốc tế Frankfurt hiện tại là sân bay lớn nhất ở Đức. Mặc dù giao thông đường bộ và hàng không gây ra nhiều ô nhiễm môi trường, Đức vẫn không ngừng đầu tư và mở rộng hai hệ thống này, thay vì tập trung vào sử dụng hệ thống đường sắt vốn có một số ưu thế.

Hệ thống giao thông đường thủy cũng có một vị trí rất quan trọng đối với một nước có nền ngoại thương phát triển như Đức.

Văn hóa và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giáo dục thuộc về trách nhiệm của từng tiểu bang nhưng được phối hợp qua hội nghị liên bang của các bộ trưởng văn hóa.

Tùy theo tiểu bang, tất cả trẻ em đều có nghĩa vụ phải học từ 9 đến 12 năm. Trong khi ở một số bang chương trình phổ thông chỉ kéo dài 12 năm, thì ở các bang khác tới những 13 năm. Sau khi tốt nghiệp bậc trung học (lớp 10), thanh niên ở Đức có nhiều sự lựa chọn. Họ có thể học nghề ở các trường dạy nghề, hay học hết phổ thông để lấy bằng Abitur (tương đương với bằng tốt nghiệp phổ thông ở Việt Nam). Sau Abitur họ có thể chọn học tiếp ở trường đại học (Universität hay Hochschule) hay trường đại học thực hành (Fachhochschule). Chỉ trong những trường hợp đặc biệt bằng tốt nghiệp của trường đại học thực hành (FH-Diplom) mới có khả năng được công nhận để tiếp tục làm luận án phó tiến sĩ tại các trường đại học. Ngược lại bằng cao học (master) của một trường đại học thực hành về cơ bản cho phép được tiếp tục làm bằng phó tiến sĩ.

Trong thời gian gần đây, hệ thống giáo dục của Đức bị OECD chỉ trích rất nhiều. Mặc dù những thiếu sót và sai lầm trong hệ thống này đã được nhận rõ nhưng vẫn chưa có biện pháp sửa chữa.

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn học tiếng Đức

Văn học tiếng Đức có từ thời kỳ Trung cổ với các tác giả như Walther von der VogelweideWolfram von Eschenbach. Bài ca Nibelung (tác giả vô danh) cũng là một đóng góp quan trọng trong văn học Đức. Vào thời kỳ cận đại, với những công tích của Quốc vương Friedrich II Đại Đế đưa một nước Phổ dân tộc Đức trở nên phú cường, văn học Phổ trở nên phát triển, xóa tan những cản trở giữa Vương Quốc Phổ và các quốc gia Đức khác trong Đế quốc La Mã Thần Thánh.[93][106] Các tác giả Đức được coi là quan trọng nhất bao gồm Johann Wolfgang von GoetheFriedrich Schiller cũng như Heinrich HeineAnh em nhà Grimm; trong thế kỷ 20 là những người đoạt Giải thưởng Nobel về văn học Thomas Mann (1929), Hermann Hesse (1946), Heinrich Böll (1972) và Günter Grass (1999).[107] Các tác giả có tầm quan trọng khác là Bertolt BrechtHans Magnus Enzensberger. Nước Đức là quê hương của nhiều nhà tư tưởng và triết học kiệt xuất như Gottfried Wilhelm Leibniz, Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels, Arthur Schopenhauer, Friedrich NietzscheMartin Heidegger.

Johann Wolfgang v. Goethe
(1749–1832)
Friedrich Schiller
(1759–1805)
Anh em nhà Grimm
(1785–1863)
Thomas Mann
(1875–1955)
Hermann Hesse
(1877–1962)
Johann Heinrich Wilhelm Tischbein 007.jpg Gerhard von Kügelgen 001.jpg Grimm1.jpg Thomas Mann 1929.jpg Hermann Hesse 1927 Photo Gret Widmann.jpg

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

"Kreuzigung Christi" (English: "Đóng đinh của Chúa Kitô") by Lucas Cranach người cao tuổi

Trong số những nghệ sĩ Đức quan trọng nhất trong thời kỳ Phục Hưng phải kể đến Albrecht Altdorfer, Lucas Cranach người cao tuổi, Matthias Grünewald và người nổi tiếng nhất của thời đấy là Albrecht Dürer. Những nghệ sĩ khác có tiếng trên thế giới là Caspar David Friedrich của thời kỳ Lãng mạn, nhà họa sĩ Siêu thực Max ErnstJoseph Beuys.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lãnh vực âm nhạc nước Đức sản sinh ra rất nhiều nhà soạn nhạc có tiếng trên thế giới mà nổi tiếng nhất là Johann Sebastian BachLudwig van Beethoven. Những nhà soạn nhạc khác có tầm cỡ thế giới là Johannes Brahms, Johann Jakob Froberger, Christoph Willibald Gluck, George Frideric Handel, E.T.A. Hoffmann, Felix Mendelssohn, Johann Pachelbel, Johann Joachim Quantz, Max Reger, Heinrich Schütz, Robert Schumann, Richard Strauss, Georg Philipp Telemann, Richard Wagner, Carl Maria von Weber, Karl Friedrich Abel, Carl Philipp Emanuel Bach, Johann Christian Bach.

Đức là một quốc gia có nền âm nhạc hiện đại thuộc vào hàng sống động và đa dạng nhất châu Âu, nhưng nhạc viết bằng tiếng Đức thì lại không có thị trường lớn bên ngoài lãnh thổ các nước nói tiếng này (Đức, Áo, Thụy Sĩ). Các nghệ sĩ Đức nổi tiếng thế giới thường sáng tác nhạc bằng tiếng Anh, tiêu biểu như nhóm pop Modern Talking hay nhóm power-metal Helloween. Ngoại lệ có nhóm nhạc "metal nhảy" (Tanz-metal) Rammstein - các bài hát của nhóm từ 1995 đến nay phần lớn được sáng tác bằng tiếng Đức và là "hàng xuất khẩu" chính của làng nhạc tiếng Đức ra nước ngoài.

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức đã và vẫn là quê hương của nhiều nhà nghiên cứu quan trọng trong tất cả các lĩnh vực khoa học. Albert EinsteinMax Planck đã xây dựng các cột trụ quan trọng nhất trong ngành vật lý hiện đại mà đã được Werner HeisenbergMax Born tiếp tục phát triển. Trước đấy là đóng góp của những nhà vật lý học như Hermann von Helmholtz, Joseph von Fraunhofer, Daniel Gabriel Fahrenheit hay Johannes Kepler. Wilhelm Conrad Röntgen khám phá và nghiên cứu về tia sóng mang tên ông: tia Röntgen. Heinrich Rudolf Hertz viết nhiều công trình quan trọng về bức xạ điện từ.

Hóa học đã được phong phú hóa bởi Otto Hahn, Justus von LiebigRobert Bunsen. Cùng với những phát minh thành công của họ những tên tuổi như Johannes Gutenberg, Nikolaus August Otto, Werner von Siemens, Wernher von Braun, Gottlieb Daimler, Carl Benz, Rudolf Diesel đã đi vào trong ngôn ngữ của cuộc sống hằng ngày.

Nhiều nhà toán học ra đời tại Đức như Carl Friedrich Gauß, David Hilbert, Carl Gustav Jacob Jacobi, Felix Klein, Bernhard RiemannKarl Weierstraß.

Những ngày lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các ngày lễ ở Đức đều bắt nguồn từ các ngày lễ của giáo hội giống như lễ Giáng Sinhlễ Phục Sinh. Trong khi ngày quốc khánh và ngày 1/5 được quy định rõ trong luật liên bang là ngày lễ của toàn quốc, thì những ngày lễ còn lại đều do luật của mỗi tiểu bang tự quy định riêng. Ví dụ, trong khi những người ở Bayern được nghỉ lễ thì những người sống ở Berlin vẫn phải đi làm bình thường.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund chống lại Schalke trong Bundesliga

Môn thể thao được yêu thích nhất ở Đức là bóng đá. Giải vô địch bóng đá thế giới năm 2006 được tổ chức tại Đức. Câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng nhất của Đức là đội FC Bayern München (tiếng Anh: Bayern Munich) ở tiểu bang Bayern (tiếng Anh: Bavaria). Ngoài bóng đá ra thì môn thể thao được khán giả truyền hình xem nhiều nhất là môn đua xe Công thức 1 (Formula One). Trong thời gian gần đây, bóng rổ ngày càng được yêu chuộng nhiều hơn trong lớp trẻ, tuy nhiên số lượng khán giả theo dõi môn này trên truyền hình vẫn kém xa môn đua xe. Ngoài ra môn bóng ném và khúc côn cầu trên băng cũng được nhiều người yêu thích.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Đức có rất nhiều phong cảnh đẹp để chiêm ngưỡng. Bạn có thể trượt tuyết tại các vùng núi thuộc dãy Alps, nơi mà hầu như tuyết phủ quanh năm. Bạn cũng có thể đi du lịch dạo quanh một số thành phố du lịch nổi tiếng của Đức như Berlin, Frankfurt...

Các thành phố du lịch nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Berlin và Potsdam[sửa | sửa mã nguồn]

Berlin là thủ đô và là thành phố lớn nhất nước Đức. Ở đây có nhiều nơi để du lịch. Bạn có thể tham quan nhiều địa danh nổi tiếng, trong đó có bức tường Berlin, hay cổng Brandenburg, quảng trường Potsdamer Platz.

Thủ đô Berlin cũng có cung vua của nước Phổ vào thế kỷ thứ XVIII. Bên ngoài Berlin, thành phố Potsdam cũng có thắng cảnh nổi tiếng là điện Vô Ưu, được vua Friedrich II Đại Đế dựng xây vào năm 1744 sau khi thắng trận trở về, để làm nơi sinh sống tĩnh lặng.[108] Sau đây là ảnh một số thắng cảnh trên toàn nước Đức:

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ẩm thực ở Đức

Ẩm thực ở Đức rất đa dạng và thay đổi tùy theo vùng. Ẩm thực Đức nổi tiếng trước tiên là các món ăn "nặng" như giò heo luộc với bắp cải ngâm chua (Sauerkraut). Ở phía nam người ta còn dùng nhiều mì sợi các loại. Các món ăn đặc sản còn có xúc xích trắng (Weißwurst) ở Bayern hay bao tử heo (Saumagen) ở vùng Pfalz. Ngoài ra người Đức rất yêu thích bia (cũng khác nhau tùy theo vùng) và rượu vang. Vì theo điều kiện khí hậu nên trồng và uống rượu vang phổ biến ở phía tây và Nam của Đức nhiều hơn là ở phía bắc và Đông.

Ở Đức có trên 200 loại Wurst, tức là xúc xích làm từ thịt bê, thịt lợn, óc heo, mù tạc, gia vị và bột cà ri. Mỗi vùng lại có một loại xúc xích riêng của mình, từ loại xúc xích trắng của Bavaria với rau mùi tây và hành cho đến xúc xích Chipolata nướng trên than hồng.

Có rất nhiều loại bánh mì khác nhau được phục vụ tại các nhà hàng và có thể mua hàng ngày ở các cửa hàng bánh. Nhiều người thích loại bánh mì Pumpernickel nhiều hương vị làm bằng lúa mạch đen, hơi có chút vị đắng sau khi ăn.

Ở một số vùng, nhất là Baden-Wüttermberg, Moselle, Frankfurt và Bavaria, người ta đặc biệt quan tâm đến chất lượng thực phẩm. Đây cũng là những vùng sản xuất rượu vang. Những đặc sản địa phương ở đây gồm có lươn, xúp mận và rau, cá lục tươi ở Hamburg; món Hoppel Poppel, trứng ốp lết với khoai tây và thịt xông khói ở Berlin; heo sữa và giò heo quay ở Bavaria; thịt xông khói ăn với bánh mì Pumpernickel ở Westphalia; cá luộc hoặc chiên có phủ vụn bánh mì, đặc biệt là cá trê sông Donau gần Passau; xúc xích đủ các kiểu ở Nürnberg; nước xốt rau xanh với thịt heo bằm hoặc thịt bò ở Frankfurt.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ a ă “Dữ liệu Triển vọng Kinh tế Thế giới”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ “Human development index”. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc. 2010. Truy cập 18 tháng 3 năm 2011. 
  4. ^ “Germany: Inflow of foreign population by country of nationality, 1994 to 2003”. Migrationinformation.org. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ “Germany Top Migration Land After U.S. in New OECD Ranking”. Bloomberg. 20 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  6. ^ a ă Louis Leo Snyder, German nationalism: the tragedy of a people; extremism contra liberalism in modern German history, trang 9
  7. ^ Gerhard Ritter, Luther, his life and work, trang 70
  8. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 95
  9. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 115
  10. ^ Louis Leo Snyder, Roots of German nationalism, trang 71
  11. ^ Federal Constitutional Court of Germany (2 BvF 1/73; BVerfGE 36, 1): The German Reich as the German state is identically the very same to the Federal Republic of Germany [because it exists as a nation-state and international legal personality (public international law) since 1871]. In 1949, at East – West Germany division there was no foundation of a new West German state and no successor of the German Reich, instead of that a part of Germany was reorganised.
  12. ^ Susan Taylor Martin (28 tháng 12 năm 1998). “On Jan. 1, out of many arises one Euro”. St. Petersburg Times (St. Petersburg, Fla.): National,1.A 
  13. ^ Edmund L. Andrews (1 tháng 1 năm 2002). “Germans Say Goodbye to the Mark, a Symbol of Strength and Unity”. New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010 
  14. ^ David Smith (15 tháng 6 năm 2001). “Euro notes and coins to flood continent”. New Strait Times. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010 
  15. ^ Germany world's second biggest aid donor after US TopNews, India. Retrieved 2008-04-10.
  16. ^ “The fifteen major spenders in 2006” (PDF). Recent trends in military expenditure. Stockholm International Peace Research Institute. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2007. 
  17. ^ The leader of Europe? Answers an ocean apart International Herald Tribune. April 4, 2008. Retrieved 2008-04-04.
  18. ^ Confidently into the Future with Reliable Technology www.innovations-report.de. May 7, 2008. Retrieved 2008-04-04.
  19. ^ CIA. “CIA Factbook”. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2009. 
  20. ^ “Bevölkerungszahlen 2011 und 2012 nach Bundesländern” (bằng German). Statistisches Bundesamt Deutschland. Tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  21. ^ Louis Leo Snyder, The new nationalism, trang 6
  22. ^ Louis Leo Snyder, German nationalism: the tragedy of a people; extremism contra liberalism in modern German history, trang 37
  23. ^ Louis Leo Snyder, Race, a history of modern ethnic theories, trang 200
  24. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 127
  25. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 136
  26. ^ Franz H. Bäuml, Marianna D. Birnbaum, Attila: the man and his image, trang 65
  27. ^ Franz H. Bäuml, Marianna D. Birnbaum, Attila: the man and his image, trang 1
  28. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, các trang 140-145.
  29. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 161
  30. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 208
  31. ^ Pierre Gaxotte, Histoire de l'Allemagne', trang 56
  32. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 164
  33. ^ Louis Leo Snyder, Great turning points in history, các trang 25-28.
  34. ^ George Peabody Gooch, Historical surveys and portraits, trang 96
  35. ^ George Peabody Gooch, History and historians in the nineteenth century, trang 111
  36. ^ a ă â b c d đ e Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, các trang 181-191.
  37. ^ a ă â Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, các trang 12-25.
  38. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 1, trang 344
  39. ^ Edward Benjamin Weiss, Louis Leo Snyder, Keeping young in business, trang 56
  40. ^ Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 15
  41. ^ Louis Leo Snyder, Great turning points in history, trang 62
  42. ^ a ă Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, trang 14
  43. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, trang 154
  44. ^ a ă Louis Leo Snyder, The making of modern man: from the Renaissance to the present, các trang 71-81.
  45. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, trang 100
  46. ^ Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, trang 104
  47. ^ Louis Leo Snyder, The making of modern man: from the Renaissance to the present, các trang 125-126.
  48. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, trang 122
  49. ^ Louis Leo Snyder, The making of modern man: from the Renaissance to the present, trang 99
  50. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile trang 49
  51. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 65
  52. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 6
  53. ^ Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, các trang 15-18.
  54. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 7
  55. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, các trang 1-2.
  56. ^ Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, trang 5
  57. ^ Louis Leo Snyder, The blood and iron chancellor: a documentary-biography of Otto von Bismarck, trang 5
  58. ^ Louis Leo Snyder, Great turning points in history, trang 75
  59. ^ Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 20
  60. ^ a ă Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, trang 19
  61. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, trang 150
  62. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 22
  63. ^ Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, các trang 14-15.
  64. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 187
  65. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 52
  66. ^ a ă â b c d Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, các trang 251-266.
  67. ^ Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, trang 110
  68. ^ Louis Leo Snyder, Basic History of Modern Germany, trang 20
  69. ^ a ă â b Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, các trang 76-87.
  70. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 282
  71. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, trang VIII, trích dẫn nhận định của nhà sử học lừng danh người Anh là Thomas Babington Macaulay, Nam tước Macaulay: "A tyrant of extraordinary military and political talents".
  72. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 167
  73. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 333
  74. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, trang 8
  75. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 87
  76. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 141
  77. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 151
  78. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 133
  79. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 91
  80. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, trang 46-64.
  81. ^ a ă Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 23
  82. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 155
  83. ^ a ă â Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, các trang 126-163.
  84. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 16
  85. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 125
  86. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 3
  87. ^ a ă Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 24
  88. ^ Louis Leo Snyder, A survey of European civilization, Tập 2, trang 257
  89. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, trang V
  90. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great, Nguyên văn: "...Treaty of Teschen (1779) relinquished her claims to Bavaria..."
  91. ^ Louis Leo Snyder, German nationalism: the tragedy of a people; extremism contra liberalism in modern German history, trang 136
  92. ^ William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 343
  93. ^ a ă Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 25
  94. ^ a ă Louis Leo Snyder, The age of reason, trang 58
  95. ^ Louis Leo Snyder, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, Nguyên văn: "In 1740 Frederick had inherited a small undeveloped country; by 1786 he had made it a Great Power"....
  96. ^ Gerhard Ritter, The Sword and the Scepter: The Problem of Militarism in Germany: The European Powers and the Wilhelminian Empire, 1890-1914, trang 19
  97. ^ Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 78
  98. ^ Gerhard Ritter, Sword and the Scepter: The Problem of Militarism in Germany-The Tradegy of Statesmanship: Bethmann Hollweg As War Chancellor, 1914-1917, trang 249
  99. ^ Gerhard Ritter, Sword and the Scepter: The Problem of Militarism in Germany-The Tradegy of Statesmanship: Bethmann Hollweg As War Chancellor, 1914-1917, trang 253
  100. ^ “First demographic estimates for 2009”. Eurostat. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  101. ^ Destatis. “Durchschnittliche Kinderzahl 2008 in den neuen Ländern angestiegen” (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  102. ^ http://www.wsws.org/en/articles/2014/01/06/germ-j06.html
  103. ^ http://www.livestation.com/en/press-tv/en/on_demand/efe3b580b71a1e96a9c09b2ecbe39976-12-4-million-people-in-germany-are-threatened-by-poverty
  104. ^ “Statistisches Bundesamt Deutschland - Startseite”. Destatis.de. 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  105. ^ Norris, Floyd (20 tháng 2 năm 2010). “A Shift in the Export Powerhouses”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  106. ^ Heinrich von Sybel, The founding of the German empire by William I.: Based chiefly upon Prussian state documents, Tập 1, trang 26
  107. ^ Kjell Espmark (3 tháng 12 năm 1999). “The Nobel Prize in Literature”. Nobelprize.org. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2006. 
  108. ^ Louis Leo Snyder, Ida Mae Brown, Frederick the Great; Prussian warrior and statesman, các trang 96-100.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]