Cuộc xâm lược Nam Tư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cuộc xâm lược Nam Tư
Một phần của chiến dịch Balkan trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
300px
Người dân Zagreb chào đón quân Đức tiến vào thành phố.
.
Thời gian 6 tháng 417 tháng 4 năm 1941
Địa điểm Nam Tư
Kết quả Chiến thắng quyết định của phe Trục
Tham chiến
Trục:

 Đức Quốc Xã
 Vương quốc Ý

 Hungary

Đồng Minh:
 Nam Tư
Chỉ huy
Cờ của Đức Quốc Xã Maximilian von Weichs
Cờ của Đức Quốc Xã Wilhelm List
Cờ của Ý Vittorio Ambrosio
Cờ của Hungary Elemér Gorondy-Novák
Cờ của Vương quốc Nam Tư Dušan Simović
Cờ của Vương quốc Nam Tư Milorad Petrović
Cờ của Vương quốc Nam Tư Milutin Nedić
Cờ của Vương quốc Nam Tư Milan Nedić
Cờ của Vương quốc Nam Tư Petar Nedeljković
Cờ của Vương quốc Nam Tư Vladimir Čukavac
Cờ của Vương quốc Nam Tư Dimitrije Živković
Cờ của Vương quốc Nam Tư Dušan Trifunović
Lực lượng
700.000 850.000
Tổn thất
Đức (theo số liệu chính thức):
151 chết
392 bị thương
15 mất tích
hơn 60 máy bay bị hạ
trên 70 phi hành đoàn chết hoặc mất tích
Ý:
3.324 chết hoặc bị thương
hơn 10 máy bay bị hạ, 22 bị thương
Hungary:
120 chết
223 bị thương
13 mất tích
1+ máy bay bị hạ.
Hàng ngàn thường dân và binh lính bị giết
254.000-345.000 bị Đức bắt, 30.000 bị Ý bắt
49 máy bay bị hạ
103 phi công và phi hành đoàn bị chết
211 máy bay bị chiếm
3 khu trục hạm và 3 tàu ngầm bị chiếm.
.

Cuộc xâm lược Nam Tư (mật danh Chỉ thị 25 hay Chiến dịch 25), còn được biết đến với cái tên Chiến tranh tháng Tư (tiếng Croatia: Travanjski rat, tiếng Serbi/Bosnia: Aprilski rat, tiếng Slovene/Macedonia: aprilska vojna), là cuộc tấn công của các quốc gia Phe Trục vào vương quốc Nam Tư trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 6 tháng 4 năm 1941. Cuộc tấn công này kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Quân đội Hoàng gia Nam Tư ngày 17 tháng 4 năm 1941, sau đó là việc sáp nhập và chiếm đóng Nam Tư của phe Trục và sự thành lập Nhà nước Độc lập Croatia (Nezavisna Država Hrvatska, hay NDH).

Mục lục

Bối cảnh [sửa]

Tháng 10 năm 1940, Phát xít Ý đã phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm Hy Lạp nhưng cuối cùng đã bị quân Hy Lạp đánh bật trở lại lãnh thổ Albania. Nhà độc tài Đức Adolf Hitler nhận thấy rằng cần phải giúp đỡ người bạn đồng minh của mình, nhà độc tài Ý Benito Mussolini. Hitler làm điều này không chỉ để giúp cứu vãn thanh thế đang bị suy giảm của phe Trục, mà còn nhằm ngăn cản nước Anh sử dụng lãnh thổ Hy Lạp để ném bom các mỏ dầu Romania, nguồn cung cấp dầu mỏ chủ yếu của Đức Quốc xã.[1]

Trong quá trình chuẩn bị can thiệp vào Hy Lạp, sau khi đã thành công bằng các hiệp định với Hungary, RomaniaBulgaria để họ nhanh chóng gia nhập theo phe Trục, Hitler bắt đầu gây áp lực để Nam Tư cùng tham gia vào Hiệp ước Ba bên. Hoàng tử Paul, nhiếp chính của Nam Tư, nhận thấy mình không còn đồng minh tại Balkan, đã nhượng bộ trước sức ép này, và vào ngày 25 tháng 3 năm 1941, Nam Tư đã gia nhập Hiệp ước Ba bên.[2] Thế nhưng hành động này đã vấp phải sự phản đối kịch liệt từ phía công chúng và giới quân sự Serbia có tư tưởng chống phe Trục. Một cuộc đảo chính đã nổ ra ngày 27 tháng 3 năm 1941 do các sĩ quan quân đội Serbi chống đối Paul lãnh đạo, Paul đã bị lật đổ và thay thế bằng Quốc vương Peter II của Nam Tư[2][3].

Khi biết tin về cuộc đảo chính tại Nam Tư, Hitler vô cùng giận dữ và đã triệu tập các cố vấn quân sự của mình và tại Berlin ngày 27 tháng 2. Mặc dù những nhà cai trị mới của Nam Tư sẵn sàng tiếp tục tham gia Hiệp ước Ba bên[4], nhưng điều này đã không làm nguôi cơn giận của Hitler, bời vì trên thực tế cuộc đảo chính này đã làm xóa bỏ chính sách ngoại giao thân Đức tiêu biểu ở Nam Tư. Hitler đã coi cuộc đảo chính này như một sự xúc phạm cá nhân, và ra lệnh "không cần đợi tuyên bố có thể xảy ra về sự trung thành của chính phủ mới, phải hủy diệt Nam Tư về mặt quân sự và với tư cách một quốc gia."[5]. Hitler quyết định xâm lược Nam Tư trước khi tấn công Hy Lạp và trong khi tiếp tục chuẩn bị cho cuộc xâm lược Liên Xô,[2] mặc dù Bộ tư lệnh Tối cao Đức đã cảnh báo rằng điều này sẽ làm chậm trễ ít nhất 4 tuần cuộc tấn công Liên Xô so với kế hoạch ban đầu.[2]

Các lực lượng vũ trang Hoàng gia Nam Tư [sửa]

Trang bị và tổ chức [sửa]

Các sĩ quan Nam Tư bị bắt làm tù binh, trước lúc bị đưa sang Đức.

Được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Quân đội Hoàng gia Nam Tư phần lớn vẫn được trang bị bằng vũ khí và vật dụng từ thời kỳ đó, mặc dù đã bắt đầu được hiện đại hóa phần nào bằng các trang bị và xe cộ của Séc. Trong khoảng 4.000 khẩu pháo, nhiều khẩu đã cũ và dùng ngựa kéo, nhưng cũng có khoảng 1.700 khẩu tương đối hiện đại, với 812 súng chống tăng 37 li và 47 li của Séc. Còn có khoảng 2.300 súng cối, trong đó 1.600 khẩu 81 li hiện đại, cùng với 24 khẩu 220 và 305 li. Trong số 940 pháo phòng không, có 360 chiếc là loại 15 và 20 li theo mẫu của Séc và Ý. Toàn bộ những vũ khí này là đồ nhập khẩu từ nhiều nguồn khác nhau, có nghĩa chúng thường không có cơ sở sửa chữa và bảo trì thích hợp.[6] Những đơn vị cơ giới duy nhất là 6 tiểu đoàn bộ binh cơ giới trực thuộc 3 sư đoàn kỵ binh, 6 trung đoàn pháo binh cơ giới, 2 tiểu đoàn xe tăng với 110 chiếc xe tăng loại Renault FT-17 đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất và 54 chiếc xe tăng hiện đại Renault R35 của Pháp, cộng với một đại đội xe tăng độc lập gồm 8 pháo tự hành chống tăng SI-D của Séc. Khoảng một nghìn xe vận tải quân sự đã được nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong những tháng ngay trước cuộc xâm lược.[7]

Xe tăng FT-17 của Nam Tư bị phá hủy.

Khi động viên toàn diện, Quân đội Hoàng gia Nam Tư có thể huy động 28 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn kỵ binh và 35 trung đoàn độc lập ra chiến trường. Một đơn vị lính dù độc lập cấp đại đội, được thành lập cuối năm 1939, nhưng chưa sẵn sàng chiến đấu.[8] Trong các trung đoàn độc lập, có 16 được bố trí tại các công sự dọc biên giới và 19 được tổ chức thành những trung đoàn kết hợp, gọi là "Odred", có quy mô một lữ đoàn tăng viện. Mỗi Odred có từ một đến ba trung đoàn bộ binh và một đến ba tiểu đoàn pháo binh, với ba đơn vị sơn chiến (alpine). Thế nhưng cuộc tấn công của Đức đã nổ ra trong khi quân đội còn đang động viên dở dang làm, và chỉ có khoảng 11 sư đoàn là đã ở đúng vị trí phòng thủ dự kiến của mình tại thời điểm bắt đầu cuộc chiến. Các đơn vị này có chỉ khoảng 70 đến 90 phần trăm sức mạnh thực tế do việc động viên đã không được hoàn thành. Lực lượng Quân đội Hoàng gia Nam Tư có vào khoảng 1.200.000 quân khi cuộc xâm lược của Đức được tiến hành[9].

Máy bay tiêm kích Rogozarski IK-3 do Nam Tư thiết kế và chế tạo vào cuối năm 1940. Chiếc máy bay đặc biệt này được Eduard Banfić lái vào ngày 6 và 7 tháng 4 năm 1941 trong trận không chiến phòng thủ Beograd. Banfić được ghi nhận là phi công đã bắn hạ 2 máy bay Đức và có thể thêm 1 chiếc thứ ba khác trong thời gian đó.

Không quân Hoàng gia Nam Tư có trên 450 máy bay ngoài tiền tuyến ở trong nước (đáng chú ý là loại IK-3) có nguồn gốc từ Đức, Ý, Pháp và Anh, trong đó hơn một nửa là loại hiện đại. Lực lượng này được tổ chức thành 22 phi đội ném bom và 19 phi đội tiêm kích, loại máy bay chính được dùng trong tác chiến, về tiêm kích gồm có 73 chiếc Messerschmitt Bf 109 E, 38 chiếc Hawker Hurricane I (phần nhiều được sản xuất hợp pháp tại Nam Tư), 30 chiếc Hawker Fury II, 8 chiếc Ikarus IK-2, và 6 chiếc Rogozarski IK3 (cộng thêm cả số đang sản xuất); về ném bom có: 63 chiếc Dornier Do 17 K (bao gồm thêm 40 chiếc sản xuất có giấp phép), 60 chiếc Bristol Blenheim I (trong đó có khoảng 40 chiếc sản xuất có giấp phép) và 40 chiếc Savoia Marchetti SM-79 K. Các đơn vị Không quân Hàng hải bao gồm 8 phi đội, được trang bị, trong số nhiều loại phụ trợ khác, 12 chiếc Dornier Do 22 K và 15 chiếc Rogozarski SIM-XIV-H được thiết kế tại địa phương và các tàu bay có phao tuần tra hàng hải.

Máy bay của hãng hàng không Nam Tư Aeroput, bao gồm chủ yếu là 6 chiếc Lockheed Model 10 Electra, 3 chiếc Spartan Cruiser, và 1 chiếc de Havilland Dragon đã được huy động để tiến hành công tác vận Tải cho Không quân[10].

Hải quân Hoàng gia Nam Tư được trang bị 1 tuần dương hạm hạng nhẹ cũ kỹ từng là của Đức (chỉ thích hợp cho công tác huấn luyện), 1 khu trục hạm hiện đại lớn chỉ huy đội tàu theo thiết kế của Anh, 3 khu trục hạm hiện đại lớn theo thiết kế của Pháp (2 chiếc đóng tại Nam Tư cộng với một chiếc khác vẫn đang sản xuất), 1 tàu tiếp liệu cho thủy phi cơ, 4 tàu ngầm hiện đại (2 chiếc cũ hơn do Pháp đóng, 2 chiếc do Anh đóng) và 10 tàu phóng ngư lôi động cơ hiện đại (MTB), trong số các tàu thuyền cũ có 6 tàu phóng ngư lôi hạng trung từng là của hải quân Áo, 6 tàu rải mìn, 4 tàu chiến thiết giáp lớn trên sông và nhiều tàu phụ khác[11].

Triển khai quân đội [sửa]

Quân đội Hoàng gia Nam Tư được tổ chúc thành 3 cụm Tập đoàn quân, cùng với đội quân phòng thủ bờ biển. Cụm Tập đoàn quân số 3 là mạnh nhất với Tập đoàn quân số 3 và Tập đoàn quân Địa phương số 3, các tập đoàn quân số 5 và 6 phòng thủ vùng biên giới với Romania, Bulgaria và Albania. Cụm Tập đoàn quân số 2 gồm các tập đoàn quân số 1 và số 2, phòng thủ khu vực nằm giữa Iron Gatessông Drava. Cụm Tập đoàn quân số 1 gồm tập đoàn quân số 4 và số 7, bao gồm chủ yếu là quân Croatia, đóng tại Croatia và Slovenia để phòng thủ biên giới với Ý, Đức (lãnh thổ Áo) và Hungary.[7][12] Sức mạnh của mỗi Tâp đoàn quân ước tính hơi nhỉnh hơn so với một Quân đoàn.

Quân đội Hoàng gia Nam Tư được có cơ cấu cụ thể như sau:[13]

Một trong số 54 xe tăng Renault R35 mà lục quân Nam Tư đã mua lại của Pháp từ cuối thập niên 1930, đang tham gia cuộc tập trận năm 1940.
  • Cụm Tập đoàn quân số 3, trong phiên chế có:
    • Tập đoàn quân số 3, gồm 4 sư đoàn bộ binh và 1 odred kỵ binh;
    • Tập đoàn quân Địa phương số 3, gồm 3 sư đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh cơ giới độc lập;
    • Tập đoàn quân số 5, gồm 4 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn kỵ binh, 2 odred và 1 trung đoàn pháo binh cơ giới độc lập;
    • Tập đoàn quân số 6, gồm 3 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn Cận vệ Hoàng gia (odred) và 3 odred bộ binh.
  • Cụm Tập đoàn quân số 2, trong phiên chế có:
    • Tập đoàn quân số 1, gồm 1 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn kỵ binh, 3 odred và 6 trung đòan biên phòng;
    • Tập đoàn quân số 2, gồm 3 sư đoàn bộ binh và 1 trung đòan biên phòng.
  • Cụm Tập đoàn quân số 1, trong phiên chế có:
    • Tập đoàn quân số 4, gồm 3 sư đoàn bộ binh và 1 odred.
    • Tập đoàn quân số 7, gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn kỵ binh, 3 odred sơn chiến, 2 odred bộ binh và 9 trung đòan biên phòng.
  • Lực lượng dự bị chiến lược của "Bộ tư lệnh Tối cao" đóng tại Bosnia gồm có 4 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn bộ binh độc lập, 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 tiểu đoàn công binh cơ giới, 2 trung đoàn pháo binh cơ giới hạng nặng, 15 tiểu đoàn pháo binh độc lạp và 2 tiểu đoàn pháo phòng không độc lập.
  • Lực lượng Quốc phòng Duyên hải, trên bờ biển Adriatic đối diện Zadar bao gồm 1 sư đoàn bộ binh và 2 odred, cộng thêm các lữ đoàn pháo đài và các đơn vị phòng không tại ŠibenikKotor.

Vào đêm trước của cuộc xâm lược, số lượng quần áo và giày dép có sẵn chỉ đủ cho khoảng chừng 2/3 các đội quân ngoài tiền tuyến và một phần nhỏ với các đạo quân khác, một số đồ tiếp tế thiết yếu khác hiện có chỉ đủ cho 1/3 quân ở tiền tuyến; đồ y tế và vệ sinh chỉ có thể dùng trong vài tuần lễ, và nguồn cung cấp thức ăn cho người và nuôi sống vật nuôi chỉ có đủ cho khoảng 2 tháng. Trong mọi trường hợp đều có rất ít, thậm chí là không có khả năng bổ sung đồ tiếp tế.[14]

Máy bay Do 17K của Không quân Hoàng gia Nam Tư

Ngoài các vấn đề trang thiết bị không đầy đủ và việc động viên không được hoàn chỉnh, Quân đội Hoàng gia Nam Tư còn bị tổn hại do mâu thuẫn Serbi-Croatia trong nền chính trị Nam Tư. Lực lượng kháng chiến của "Nam Tư" trong cuộc xâm lược đã sụp đổ chỉ trong ngày một ngày hai, và nguyên nhân chính là do không ai trong nhóm các dân tộc lệ thuộc như Slovenia, Croatia được chuẩn bị để chiến đấu trong hệ thống quốc phòng của nước Nam Tư Serbia. Cuộc kháng chiến duy nhất có hiệu quả là của toàn thể các đơn vị Serbia trong phạm vi biên giới của Serbia.[15] Nghiêm trọng nhất là vào ngày 10 tháng 4 năm 1941, một số đơn vị thuộc tập đoàn quân số 4 và số 7 có người Croatia đã làm binh biến, và cùng ngày hôm ấy một chính phủ mới thành lập của Croatia đã hoan nghênh quân Đức tiến vào Zagreb.[16] Bộ tổng tham mưu Serbia đã thống nhất về vấn đề coi Nam Tư là một "Đại Serbia", và bằng cách này hay cách khác, do Serbia cai trị. Vào đêm trước của cuộc xâm lược, có 165 tướng lĩnh trong danh sách tại ngũ của Nam Tư, trong đó gần như toàn bộ là người Serbi.[17]

Các diễn biến [sửa]

Bản đồ cuộc tấn công của phe phát xít.

Mở màn ngày 6 tháng 4 năm 1941, quân đội các nước phe Trục bắt đầu tấn công Nam Tư từ mọi hướng và không quân Đức (Luftwaffe) ném bom xuống Beograd. Quân đội Đức là lực lượng đầu tiên băng qua biên giới tại Hungary và quân Ý tiếp bước vài ngày sau đó. Sa hoàng Boris III đã trốn tránh việc đưa quân Bulgaria tham chiến bằng cách tuyên bố rằng toàn bộ lực lượng chủ chót của mình đang phòng giữ bên sườn của Tập đoàn quân số 12 Đức trước quân Thổ Nhĩ Kỳ.[18] Cũng tương tự, trong khi lãnh thổ Romania là một bàn đạp cho các lực lượng Đức, thì lại không có đội quân Romania nào góp phần vào cuộc tấn công.

Oanh tạc Beograd [sửa]

Hạm đội không quân số 4 của Đức (Luftflotte 4), với một lực lượng gồm 7 đội hình tác chiến (Kampfgruppen), đã được huy động trong chiến dịch tại Balkan[19]. Hitler, tức giận trước hành động "thách thức" của Nam Tư, đã ra lệnh tiến hành Chiến dịch Trừng phạt (Unternehmen Strafgericht). Vào lúc 7 giờ sáng ngày 6 tháng 4 Luftwaffe mở đầu cuộc tấn công Nam Tư bằng một đòn ném bom tập trung tại thủ đô Beograd. Từ các sân bay ở Áo và Romania, 300 máy bay Đức bay thành nhiều tốp, trong đó 1/4 là loại Junkers Ju 87 Stukas, được hộ tống bằng các máy bay tiêm kích hạng nặng đã bắt đầu tấn công[20]. Các máy bay ném bom bổ nhào đã đập tan sự kháng cự của hệ thống phòng không Nam Tư, trong khi các máy bay ném bom hạng trung, chủ yếu là loại Dornier Do 17Junkers Ju 88 tiến đánh thành phố. Cuộc tấn công đầu tiên được thực hiện làm thành 3 đợt riêng biệt, mỗi đợt cách nhau khoảng 15 phút và kéo dài xấp xỉ 20 phút. Như vậy, cả thành phố đã phải hứng chịu một trận mưa bom trong vòng gần một tiếng rưỡi đồng hồ. Các máy bay ném bom Đức tập trung nhằm vào khu vực trung tâm thành phố, nơi có các tòa nhà chủ yếu của chính phủ.

Một góc Beograd đổ nát sau cuộc oanh tạc

Lực lượng máy bay ném bom của các Kampfgruppen còn tiếp tục đánh phá thành phố trong nhiều ngày trong khi các đội ném bom bổ nhào Stuka (Stukageschwaders) đã nhanh chóng chuyển hướng nhằm vào các sân bay Nam Tư.

Khi cuộc tấn công kết thúc, có khoảng 4.000 người dân nằm chết dưới đồng đổ nát. Cuộc oanh tạc đã gần như cắt đứt hoàn toàn khả năng liên lạc giữa Bộ chỉ huy Nam Tư và các lực lượng ngoài mặt trận. Mặc dù vây hầu hết các bộ phận của Bộ Tổng tham mưu đã tìm cách trốn thoát được ra vùng ngoại ô.

Sau đòn tấn công trí mạng ngay tại trung tâm đầu não của đối phương, Luftwaffe giờ đã có thể huy động tối đa nỗ lực của mình vào các mục tiêu quân sự Nam Tư như sân bay, các tuyến liên lạc, trại lính, và hỗ trợ chặt chẽ cho các hoạt động trên bộ của lục quân Đức.

Không quân Hoàng gia Nam Tư thiết lập lực lượng máy bay phòng thủ Beograd với 6 phi đội thuộc các Cụm tiêm kích số 32 và 51 để chặn đánh mỗi đợt không kích, và đến hết ngày, 4 phi đội thuộc Cụm tiêm kích số 31 và 52, đóng tại miền trung Serbia, cũng tham chiến. Những chiếc tiêm kích Messerschmitt 109E, Hawker Hurricane I và Rogozarski IK-3 đã lập thành tích bắn hạ ít nhất 20 máy bay ném bom và tiêm kích hộ tống đối phương trong ngày 6 tháng 4 và thêm một tá bị tiêu diệt ngày 7 tháng 4. Trong cuộc phòng thủ vô vọng của Không quân Nam Tư trên bầu trời Beograd, họ bị thiệt hại vào khoảng 20 máy bay tiêm kích bị bắn hạ và 15 chiếc khác bị thương[21].

Các cuộc không chiến [sửa]

Máy bay Hawker Hurricane của Không quân Hoàng gia Nam Tư (JKRV). Có khoảng 24 máy bay do Anh sản xuất và 20 do Nam Tư sản xuất phục vụ trong JKRV, cùng với các phi công đã giành được nhiều chiến thắng trước các máy bay của Đức và Ý. 6 trong số máy bay này đã bị chiếm và bị Đức chuyển giao cho không quân Romania sau khi Nam Tư đầu hàng.

Sau cuộc đảo chính tại Beograd ngày 25 tháng 3 năm 1941, các lực lượng vũ trang Nam Tư đã được đặt vào tình trạng báo động, nhưng quân đội vẫn không được động viên hoàn toàn vì sợ như vậy sẽ làm chọc tức Hitler. Bộ tư lệnh Không quân Hoàng gia Nam Tư (JKRV) đã quyết định phân tán lực lượng của mình từ khỏi các căn cứ chính đến hệ thống 50 sân bay phụ trợ đã được chuẩn bị từ trước đó. Tuy nhiên nhiều sân bay trong số này không đủ điều kiện và có hệ thống thoát nước không tương xứng đã làm ngăn cản các hoạt động tiếp diễn của cả những máy bay nhẹ nhất trong điều kiện thời tiết bất lợi vào tháng 4 năm 1941 [22].

Mặc dù có các máy bay tốt hơn so với một số quốc gia Đông Âu bị Đức chiếm đóng trước đó như Ba Lan hay Tiệp Khắc, JKRV đơn giản là không thể đối chọi lại được với ưu thế áp đảo của LuftwaffeRegia Aeronautica (Không quân Hoàng gia Ý) cả về số lượng, sự triển khai chiến thuật và kinh nghiệm chiến đấu. Do đó, cuộc đấu tranh trong vòng 11 ngày của JKRV không thể gọi là không phi thường.

Các lực lượng ném bom và hàng hải đã tiến đánh những mục tiêu tại Ý, Đức (phần lãnh thổ Áo), Hungary, Romania, Bulgaria, Albania và Hy Lạp, cũng như tấn công vào các đội quân của Đức, Ý và Hungary. Trong khi đó các máy bay tiêm kích không gây được thiệt hại đáng kể cho các cuộc ném bom có hộ tống của "Luftwaffe" tại Beograd và Serbia, cũng như với các cuộc tấn công của "Regia Aeronautica" ở Dalmatia, Bosnia, Herzegovina và Montenegro. JKRV cũng hỗ trợ trực tiếp cho lục quân Nam Tư đang chịu nhiều áp lực bằng cách oanh tạc vào đội quân tấn công và các đội ngũ cơ giới tại Croatia, Bosnia và Serbia (đôi khi các máy bay cất cánh bay đến lia đạn vào quân địch đang tấn công căn cứ vừa mới di tản)[23].

Không có gì là bất ngờ là sau khi tổng hợp những tổn thất trong các cuộc không chiến, thiệt hại trên bộ trong những cuộc không kích của địch vào các căn cứ và sự tàn phá các sân bay do đối phương gây ra sau 11 ngày thì JKRV đã gần như không còn tồn tại. Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng từ ngày 6 đến 17 tháng 4 năm 1941, JKRV đã tiếp nhận tổng cộng 8 chiếc Hawker Hurricane I, 6 chiếc Dornier Do-17K, 4 chiếc Bristol Blenheim I, 2 chiếc Ikarus IK 2, 1 chiếc Rogozarski IK-3 và 1 chiếc Messerschmitt Bf 109 từ các nhà máy và phân xưởng sản xuất máy bay trong ngành công nghiệp hàng không địa phương[24]. Trong hai ngày 14 và 15 tháng 4, 7 chiếc Do 17K còn lại đã bay đến sân bay Nikšić tại Montenegro và tham gia sơ tán Quốc vương Petar II cùng các thành viên chính phủ Nam Tư đến Hy Lạp. Trong hoạt động này, nguồn vàng dự trữ của Nam Tư cũng được chuyển đến Hy Lạp bằng 7 chiếc Do 17[25], cùng những chiếc Savoia-Marchetti SM.79K và Lockheed Model 10 Electra của hãng hàng không Aeroput, nhưng sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, 5 chiếc Do 17K đã bị tiêu diệt trên mặt đất khi máy bay Ý tấn công sân bay Paramitia do người Hy Lạp chiếm cứ. Chỉ có 2 chiếc Do 17K thoát chết tại Hy Lạp và sau đó đã gia nhập Không quân Hoàng gia Anh (RAF) tại Vương quốc Ai Cập. Lực lượng máy bay ném bom Dornier của JKRV là một ví dụ minh họa. Vào đầu cuộc chiến, Không quân Hoàng gia Nam Tư được trang bị khoảng 60 chiếc Dornier Do 17K do Đức thiết kế, được Nam Tư mua vào mùa thu năm 1938, cùng với một giấy phép sản xuất. Đơn vị điều hành duy nhất là trung đoàn ném bom số 3 (3 vazduhoplovni puk) gồm 2 cụm máy bay ném bom; Cụm Ném bom số 63 đóng tại sân bay Petrovec gần Skopje và Cụm Ném bom số 64 đóng tại sân bay Milesevo gần Priština. Các sân bay phụ trợ khác cũng được chuẩn bị để hỗ trợ công tác phân tán.[23]

Trong quá trình chiến đấu, Nhà máy Máy bay Quốc gia của Nam Tư tại Kraljevo đã cố gắng để sản xuất thêm được 6 máy bay loại này. Trong 3 chiếc cuối, thì 2 được điều động cho JKRV ngày 10 tháng 4 và chiếc còn lại vào ngày 12 tháng 4 năm 1941.

Ngày 6 tháng 4, các máy bay ném bom bổ nhào và tiêm kích tấn công mặt đất của Luftwaffe đã tiêu diệt 26 máy bay Dornier của Nam Tư ngay trong cuộc công kích đầu tiên vào các sân bay, nhưng những máy bay còn lại đã đánh trả có hiệu quả bằng nhiều cuộc tấn công vào các đội hình cơ giới của Đức và vào các sân bay tại Bulgaria[26]. Đến cuối chiến dịch tổng thiệt hại của Nam Tư là 4 máy bay bị phá hủy trên không và 45 chiếc trên mặt đất[25].

Vào lúc 16h00 ngày 15 tháng 4, tư lệnh Hạm đội Không quân số 4 Đức, Thượng tướng Alexander Löhr đã nhận được lệnh của Hermann Göring là phải giảm bớt các cuộc không kích và chuyển phần lớn lực lượng ném bom bổ nhào sang hỗ trợ cho chiến dịch tại Hy Lạp[27].

Tổng cộng đã có 18 máy bay ném bom, vận tải và tuần tra hàng hải của Nam Tư (trong đó có 2 chiếc Dornier Do 17K, 4 chiếc Savoia Marchetti SM-79K, 3 chiếc Lockheed Model 10 Electra của hãng Aeroput, 8 chiếc Dornier Do-22K và 1 chiếc Rogozarski SIM-XIV-H) đã trốn thoát được sang căn cứ của Đồng Minh tại Ai Cập vào cuối chiến dịch[10].

Ba mũi tiến công vào thủ đô Nam Tư [sửa]

Trên bộ, phe Trục chia lực lượng thành 3 mũi tấn công riêng biệt cùng tiến về Beograd từ 3 hướng khác nhau. Cụ thể như sau:

Cụm Thiết giáp số 1 (Tập đoàn quân số 12) [sửa]

Xe tăng Panzer IV thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 11 của Đức đang tiến vào Nam Tư từ phía Bulgary, một phần của tập đoàn quân số 12 Đức.

Sáng sớm ngày 8 tháng 4, Cụm Thiết giáp số 1 thuộc Tập đoàn quân số 12 của Đức bắt đầu tấn công từ khu vực tập kết ở đông bắc Sofia. Vượt qua biên giới đoạn gần thị trấn Pirot, Quân đoàn Thiết giáp số 14, dẫn đầu bởi Sư đoàn Thiết giáp số 11, rồi đến các Sư đoàn Thiết giáp số 5, sư đoàn bộ binh số 294 và sư đoàn sơn chiến số 4, đã tiến the hướng tây về phía Niš. Bộ tư lệnh các nước Anh, Hy Lạp và Nam Tư dự định sử dụng Niš làm căn cứ để tiêu hao lực lượng của Đức tại Balkan và do đó vị trí này giữ một vai trò rất quan trọng. Bộ chỉ huy Tối cao Nam Tư đã điều động đến đây lực lượng dự bị của mình, trong đó có sư đoàn bộ binh số 2, nhưng lực lượng này đã bị Không quân Đức tấn công làm cản trở trong quá trình tiến ra mặt trận.[9] Mặc dù gặp phải thời tiết không thuận lợi, nhiều đường xá bị chặn, và sự kháng cự ngoan cường của Tập đoàn quân số 5 (Nam Tư), cũng như các cuộc không kích của Không quân Hoàng gia Nam Tư, Sư đoàn Thiết giáp số 11, với sự yểm trợ đắc lực bằng lực lượng pháo binh và không quân mạnh, đã nhanh chóng tiến sâu và phá vỡ các phòng tuyến của đối phương ngay trong ngày đầu tên tấn công. Tư lệnh Cụm tập đoàn quân số 3 Nam Tư, tướng Milan Nedić bị ấn tượng mạnh trước những thắng lợi đầu tiên của Đức đến nỗi ông ta đã ra lệnh cho lực lượng của mình phải rút về sau vùng Morava. Cuộc hành quân này cuối cùng đã không được thực hiện, vì vào sớm ngày 9 tháng 4, lực lượng xe tăng đi đầu của Đức đã tràn vào Niš và lập tức tiếp tục tiến về Beograd. Từ Niš trở về phía tây, địa hình trở nên thuận lợi hơn và các đội hình thiết giáp Đức đã có thể tiến qua thung lũng Morava bằng mọi đường để đến thủ đô của Nam Tư.[9]

Ở phía nam Paraćin và tây nam Kragujevac, tập đoàn quân số 3 Nam Tư đã cố gắng để ngăn chặn đã tiến công của Đức nhưng đã nhanh chóng bị đánh tan sau vài trận chiến kịch liệt. Hơn 5.000 tù binh Nam Tư đã bị bắt trong cuộc chạm trán này.[9]

Cùng lúc này, Sư đoàn Thiết giáp số 5 đang tạm thời bị sa lầy dọc theo những con đường tồi tệ ở gần Pirot. Sau khi sư đoàn này tiến quân trở lại, nó được lệnh chuyển hướng về phía nam ngay phía dưới Niš và cắt đường rút lui của lực lượng đối phương xung quanh Leskovac. Khi mà mặt trận Niš đã chắc chắn là sắp sụp đổ, Sư đoàn Thiết giáp số 5 quay lại nằm dưới quyền trực tiếp của Tập đoàn quân 12 và gia nhập Quân đoàn Thiết giáp số 4 tham dự chiến dịch Hy Lạp.[28]

Ngày 10 tháng 4 Quân đoàn Thiết giáp số 14 đã nhanh chóng tiến qua thung lũng Morava và truy kích sát nút các đơn vị đối phương đang rút về thủ đô. Ngày hôm sau các mũi nhọn tấn công Đức đã bất ngờ tràn vào cánh nam của tập đoàn quân số 6 Nam Tư đang rút lui, và đè bẹp họ trong những giờ đầu tiên của ngày 12 tháng 4. Đến tối, các xe tăng thuộc Cụm Thiết giáp số 1 chỉ còn cách Beograd không đến 40 dặm về phía đông nam. 2 tập đoàn quân của Nam Tư mà họ phải đối đầu đang ở trong tình trạng hỗn loạn đến nỗi không thể tiến hành một cố gắng nghiêm chỉnh nào nhằm ngăn cản mũi tiến công hay cắt đứt tuyến liên lạc của Đức - vốn đã trải dài 125 dặm trên một địa hình gồ ghề từ địa điểm tiến vào lãnh thổ Nam Tư.[28]

Quân đoàn Thiết giáp số 41 (lực lượng độc lập) [sửa]

Đã tính toán để trùng khớp với mũi tiến công thiết giáp của Quân đoàn Thiết giáp số 14 từ hướng đông nam đến, Quân đoàn Thiết giáp số 41 đã tràn qua phần phía đông nam vùng Banat và tiến về thủ đô Nam Tư. Mũi nhọn của cuộc tấn công này là trung đoàn bộ binh Đại Đức, theo sát phía sau là sư đoàn SS số 2 Đế chế. Sau khi vượt biên giới đoạn phía bắc Vršac, các đơn vị đi đầu đã tiến vào Pančevo ngày 11 tháng 4. Cùng lúc này, bộ phận chủ yếu của Quân đoàn Thiết giáp 41 chỉ còn cách Beograd khoảng 45 dặm về phía bắc và chỉ gặp phải những sự kháng cự riêng rẽ vào ngày hôm sau trong cuộc đua tiến về thủ đô đối phương.[28]

Quân đoàn Thiết giáp số 46 (Tập đoàn quân số 2) [sửa]

Khi không quân Đức mở các cuộc oanh tạc ngày 6 tháng 4, tập đoàn quân số 2 Đức cũng bắt đầu tập hợp lực lượng tấn công dọc theo biên giới phía bắc Nam Tư để chuẩn bị cho cuộc tấn công dự kiến của mình vào ngày 10 tháng 4. Trong một nỗ lực nhằm nâng cấp các tuyến khởi hành, một vài đơn vị của tập đoàn quân số 2 đã tận dụng thời kỳ chuyển tiếp này bằng cách mở các cuộc tấn công có giới hạn về mục tiêu dọc theo toàn tuyến biên giới. Các viên chỉ huy quân đội đã phải kìm chế lực lượng của mình để ngăn ngừa những đụng độ lớn phát triển sớm trước thời hạn, điều có thể làm mất đi sự tự do hoạt động sau này của quân đội và gây nguy hại đến diễn biến chiến dịch.[28]

Xe tăng Panzer III của Đức tại chiến trường Nam Tư

Bộ tư lệnh Lục quân Đức đã nhất quyết là phải chiếm giữ nguyên vẹn các cây cầu chính yếu trong khu vực của Quân đoàn Thiết giáp 46. Bởi vậy, sớm ngày 1 tháng 4, các bộ phận trong quân đoàn đã được lệnh chiếm cứ chớp nhoáng cây cầu tại Bares và chiếc cầu có đường xe lửa cách Koprivoica khoảng 10 dặm về phía đông bắc.[28]

Đến chiều ngày 6 tháng 4, sức kháng cự yếu ớt của đối phương và tình hình nói chung dường như chỉ ra rằng Nam Tư sẽ không tiến hành phối hợp chiến đấu dọc biên giới và do đó Quân đoàn Thiết giáp 46 đã được lệnh thiết lập các đầu cầu bắc qua sông Mur và sông Drava tại Mursko Središće, Letenye, Zakany, và Barcs. Chỉ vài cuộc tấn công cục bộ do quân đoàn thực hiện cũng đã đủ tạo nên mối bất đồng trong hàng ngũ quân địch. Có một tỷ lệ lớn người Croatia trong các đơn vị thuộc tập đoàn quân số 4 Nam Tư chịu trách nhiệm phòng thủ khu vực này.[28] Binh lính Croatia đã nổi loạn tại nhiều điểm thuộc khúc lồi Drava, từ chối chống lại quân Đức mà họ coi như những người giải phòng cho họ khỏi ách áp bức của người Serbi.[28] Khi lực lượng hùng mạnh của Đức vượt qua cầu Drava tại Bares sáng ngày 10 tháng 4 và vượt qua những đầu cầu được lập trước đó, sự tan rã của lực lượng đối kháng Nam Tư đã bước sang giai đoạn cao trào. Được hỗ trợ mạnh mẽ từ phía không quân, Sư đoàn Thiết giáp số 8, sau đó là sư đoàn bộ binh cơ giới số 16, đã mở đầu mũi tiến công của Quân đoàn Thiết giáp 46 vào Beograd bằng cách tràn về phía đông nam qua khoảng giữa sông Drava và sông Sava. Đến tối 10 tháng 4 các đơn vị tiên phong của Sư đoàn Thiết giáp số 8, gần như không gặp phải kháng cự, đã tới được Slating bất chấp hệ thống đường sá tồi tệ và thời tiết không thuận lợi. Những ổ đề kháng của Nam Tư đã nhanh chóng bị dọn sạch và sư đoàn tiến về thủ đô qua lối Osijek, nơi mà đường xá thậm chí còn tệ hại hơn.[29] Tình cảnh của Nam Tư ngày càng trở nên tuyệt vọng có thể thấy từ lời kêu gọi sau đây của tướng Dušan Simović gửi đến các binh lính:

Tất cả các đội quân phải chiến đấu với kẻ thù ở bất cứ nơi nào gặp phải và bằng mọi phương cách tùy họ áp dụng. Đừng đợi mệnh lệnh trực tiếp của cấp trên mà hãy tự hành động và được chỉ dẫn bởi sự phán đoán, óc sáng kiến và lương tâm của các bạn.

[28]

Ngày 11 tháng 4, Sư đoàn Thiết giáp số 8 đã tới vùng Osijek, trong khi sư đoàn bộ binh cơ giới số 16 ở phía sau đang tiến qua Našice. Nhiều cây cầu bị giật đổ và đường sá tồi tệ đã làm chậm tốc độ hành quân của cả 2 sư đoàn này, trong khi họ có nhiệm vụ tấn công vào sau lưng các lực lượng Nam Tư đối diện với Quân đoàn Thiết giáp 14, và sớm bắt liên lạc với Cụm Thiết giáp số 1.[28]

Lúc 2h30 ngày 12 tháng 4, Sư đoàn Thiết giáp số 8 đã tiến vào Mitrovica sau khi 2 cây cầu trọng yếu bắc qua sông Sava bị đánh chiếm nguyên vẹn. Sư đoàn này tiếp tục tiến về phía Lazarevac, cách Beograd khoảng 20 dặm về phía nam, nơi được chọn là điểm gặp mặt Cụm Thiết giáp số 1.[28]

Chiều ngày 12 tháng 4, Quân đoàn Thiết giáp số 46 đã nhận được mệnh lệnh mới. Theo đó, chỉ những bộ phận thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 8 là phải tiếp tục tiến về phía đông để đánh chiếm và giữ vững cầu Sava ở gần ngoại ô phía tây Beograd. Lúc 18h30, bộ phận chính của sư đoàn này đã rẽ sang phía đông và hành quân theo hướng Valjevo để bắt liên lạc với cánh trái của Cụm Thiết giáp số 1 tại tây nam Beograd. Đồng thời, sư đoàn bộ binh cơ giới số 16, vốn đang theo sau Sư đoàn Thiết giáp số 8, cũng quay về phía nam, băng qua sông Sava, và tiến về Zvornik. Như vậy cả 2 sư đoàn đều đã rời khỏi mục tiêu ban đầu của mình là Beograd để tham gia cuộc tấn công Sarajevo sau đó.[28]

Trong lúc này, cả tập đoàn quân số 2 và Bộ tư lệnh Lục quân đều đang lo lắng chờ nghe tin Beograd thất thủ. Theo lần báo cáo cuối cùng thì trong 3 lực lượng thiết giáp, có Quân đoàn Thiết giáp 41 là ở gần thủ đô nhất, đã tiến tới Pancevo trên bờ đông sông Danube cách thành phố khoảng 10 dặm về phía đông. Sự kháng cự ở phía nam Beograd đã trở ngại cho Sư đoàn Thiết giáp 11, mũi nhọn của Cụm Thiết giáp số 1, trong việc tiếp cận thủ đô.[28]

Beograd thất thủ [sửa]

Quân Nam Tư đầu hàng.

Do cả 3 lực lượng tấn công riêng rẽ đều đang đồng thời biệt tiến về Beograd, Bộ tư lệnh Lục quân không thể xác định ngay được là lực lượng nào sẽ tiếp cận thủ đô đối phương trước tiên. Cho đến chiều ngày 12 tháng 4, Thượng úy Fritz Klingenberg của sư đoàn SS số 2 "Đế chế", nhận thấy rằng tất cả các cây cầu trên sông Danube đều đã bị phá hủy, nên đã đưa một đội tuần tra SS qua sông trên những chiếc xuồng hơi chiếm được. Đội tuần tra vào trong thành phố không gặp trở ngại gì, và đến 17h00 đã kéo một lá cờ Chữ Vạn lên nóc tòa công sứ Đức. Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, thị trưởng Beograd chính thức trao thành phố cho Klingenberg cùng với một viên đại diện của Bộ Ngoại giao Đức, vốn bị Nam Tư bắt giam trước đó.

Tại Tổng hành dinh của Tập đoàn quân số 2, không có tin tức gì từ Sư đoàn Thiết giáp số 8 kể từ báo cáo cuối cùng rằng họ đã tiếp cận vùng ngoại ô phía tây Beograd vào 24 giờ đồng hồ trước đó. Cuối cùng, lúc 11h52 ngày 13 tháng 4, đã nhận được thông báo qua radio sau đây của các sĩ quan chỉ huy của sư đoàn:

Trong đêm qua Sư đoàn Thiết giáp số 8 đã tiến vào Belgrade, chiếm đóng khu trung tâm thành phố, và dựng cờ chữ Vạn.

Tuy nhiên, do có hệ thống liên lạc tốt hơn giữa Tập đoàn quân số 2 và Cụm Thiết giáp số 1, nên bức điện sau đã đến ngay trước thông báo của Sư đoàn Thiết giáp số 8 kịp đến:

Cụm Thiết giáp von Kleist đã chiếm được Belgrade từ phía nam. Các đội tuần tra của trung đoàn bộ binh cơ giới Đại Đức đã tiến vào thành phố từ phía bắc. Với tướng von Kleist đi đầu, Sư đoàn Thiết giáp số 11 đã tràn vào thủ đô từ lúc 6h32.

Như vậy là cuộc chạy đua vào Beograd đã kết thúc với kết quả sít sao khi cả 3 lực lượng đều tiếp cận mục tiêu gần như cùng một lúc. Sau khi thành phố thất thủ, Cụm Thiết giáp số 1 được chuyển từ tập đoàn quân số 12 sang tập đoàn quân số 2, còn Quân đoàn Thiết giáp 46 được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của lực lượng thiết giáp trong giai đoạn tiếp theo của chiến dịch - truy kích và tiêu diệt hoàn toàn bộ phận còn lại của quân đội Nam Tư.

Các hoạt động của Ý và Hungary [sửa]

Quân Bersaglieri (xạ thủ) của Ý trong cuộc xâm lược.

Tập đoàn quân số 2 Ý vượt biên giới ngay sau quân Đức, đối đầu với họ là Tập đoàn quân số 7 của Nam Tư. Người Ý chỉ gặp phải những sự kháng cự hạn chế và và đã chiếm được một phần Slovenia, Croatia, và bờ biển Dalmatia. Ngoài tập đoàn quân số 2, Ý còn có 4 sư đoàn thuộc tập đoàn quân số 9 tại biên giới Nam Tư - Albania. Các đơn vị này phải phòng thủ trước một cuộc tấn công của Nam Tư tại mặt trận này. Khoảng 300 quân tình nguyện thuộc phong trào Ustaše dưới quyền chỉ huy của Ante Pavelić đi cùng tập đoàn quân số 2 Ý trong chiến dịch; và một số khoảng bằng ấy thành viên Ustaše đi cùng quân Đức và các đồng minh khác trong phe Trục.[30]

Ngày 12 tháng 4, tập đoàn quân số 3 của Hungary đã vượt biên giới với lực lượng gồm 1 lữ đoàn kỵ binh 2 lữ đoàn cơ giới và 6 lữ đoàn bộ binh. Tập đoàn quân này phải đối mặt với tập đoàn quân số 1 của Nam Tư. Cho đến lúc quân Hungary vượt biên giới, người Đức đã tấn công Nam Tư được hơn một tuần lễ. Kết quả là những lực lượng Nam Tư đối đầu với họ rất ít kháng cự, ngoại trừ các đơn vị tại các công sự dọc biên giới, họ đã cầm chân được quân Hungary trong một thời gian,[9] và gây thiệt hại cho đối phương vào khoảng 350 người.[31] Các đơn vị thuộc tập đoàn quân số 3 Hungary đã tiến vào một khu vực tam giác nằm giữa sông Danube và sông Drava, và chiếm được Bačka thuộc tỉnh Vojvodina. Các lực lượng Hungary chỉ chiếm đóng những vùng lãnh thổ này, vốn là một phần của nước Hungary trước khi có hòa ước Trianon. Để biểu thị sự phản đối của mình với các hành động chiến tranh của Hungary, thủ tướng Pál Teleki đã tự tử.

Nam Tư tấn công tại Albania [sửa]

Theo kế hoạch chiến tranh của Quân đội Hoàng gia Nam Tư, một chiến lược đã được xây dựng, gọi là R-41, theo đó thì trước cuộc tấn công lớn của phe Trục, họ sẽ tiến hành rút lui trên tất cả các mặt trận ngoại trừ khu vực phía nam. Tại đây, tập đoàn quân số 3 Nam Tư, phối hợp với quân đội Hy Lạp, sẽ mở một cuộc tấn công vào các lực lượng Ý tại Albania. Điều này nhằm chiếm được những không gian cho cuộc rút lui của chủ lực quân đội Nam Tư về phía nam. Họ sẽ đi qua lãnh thổ Albania để đến Hy Lạp và tiếp cận các lực lượng Đồng Minh đóng tại đó. Chiến lược này dựa trên cơ sở tiền đề rằng quân đội Nam Tư sẽ cùng với quân Hy Lạp và Đồng Minh lập nên một phiên bản mới của mặt trận Salonika trong chiến tranh thế giới thứ nhất[32].

Tập đoàn quân số 3 thuộc Cụm tập đoàn quân số 3 Nam Tư được giao nhiệm vụ tiến hành chiến dịch tấn công quân Ý tại bắc Albania. Với dự định này, tập đoàn quân số 3 đã tập trung 4 sư đoàn bộ binh và 1 trung đoàn kết hợp (Odred) tại MontenegroKosovo, bao gồm: Sư đoàn bộ binh số 15 "Zetska", sư đoàn bộ binh số 13 "Hercegovacka", sư đoàn bộ binh số 31 "Kosovska", sư đoàn bộ binh số 25 "Vardarska" và Odred kỵ binh "Komski".

Lực lượng dự bị chiến lược của cụm tập đoàn quân số 3 là sư đoàn bộ binh số 22 "Ibarska", đóng xung quanh Uroševac thuộc tỉnh Kosovo.

Ngoài ra, còn có chiến dịch tấn công vùng đất Zadar của Ý nằm trên bờ biển Dalmatia được thực hiện bởi sư đoàn bộ binh số 12 "Jadranska".

Các bộ phận đầu tiên của tập đoàn quân số 3 đã mở màn chiến dịch tấn công Bắc Albania ngày 7 tháng 4 năm 1941, khi Odred Komski phòng thủ tại khu vực các dãy núi Gusinje-Prokletije tiến quân về làng Raja-Puka. Sư đoàn Kosovska vượt biên giới tại khu Prizren thuộc Kosovo và tiến qua thung lũng sông Drin. Sư đoàn Vardarska đã thu được một vài thành công tại Debar, trong khi các đơn vị còn lại của tập đoàn quân vẫn còn đang trong quá trình tập hợp.

Ngày 8 tháng 4, sư đoàn Zetska vững tiến dọc theo đường PodgoricaShkodër. Odred kỵ binh Komski vượt qua được dãy núi Prokletije đầy nguy hiểm và tới làng Koljegcava tại thung lũng sông Valjbone. Về phía nam, sư đoàn Kosovska đã đột phá qua tuyến phòng thủ của Ý tại thung lũng sông Drin, nhưng do Skopje sớm thất thủ trước cuộc tấn công của Đức, sư đoàn Vardarska đã buộc phải chấm dứt các hoạt động của mình tại Albania[9].

Ngày 9 tháng 4 năm 1941, quân Nam Tư không phát triển được gì nhiều hơn, vì mặc dù sư đoàn Zetska vẫn tiếp tục tấn công về phía Shkodër và Odred Komski đã tới được sông Drin, nhưng sư đoàn Kosovska đã phải ngừng mọi hoạt động tấn công trên mặt trận Albania trớc sự xuất hiện của quân Đức tại Prizren.

Ngày 10 tháng 4 năm 1941, sư đoàn Zetska vẫn vững vàng trên con đường hướng về phía Shkodër và đã tiến sâu được 50 km tại một vài nơi. Cuộc tiến quân này được hỗ trợ bởi máy bay thuộc các Cụm Ném bom số 66 và 81 thuộc Không quân Hoàng gia Nam Tư, họ đã tấn công các sân bay và các đội quân Ý tập trung quanh Shkodër, cũng như tại cảng Durrës[33].

Odred Komski và đội hình cánh phải của sư đoàn Kosovska tiến dọc theo bờ phải sông Drin tiến về Shkodër nhằm mục đích gặp được sư đoàn Zetska, nhưng các đội hình trung tâm và cánh trái của sư đoàn Kosovska đã buộc phải thiết lập một chu vi phòng thủ để chống giữ trước áp lực ngày càng tăng từ phía quân Đức.

Trong các ngày 11–13 tháng 4 năm 1941, khi các đạo quân Đức và Ý đã tiến đến khu vực sau lưng, sư đoàn Zetska bị sư đoàn thiết giáp 131 Centauro của Ý buộc phải rút về sông Pronisat, và ở lại đó cho đến khi chiến dịch kết thúc ngày 16 tháng 4. Sư đoàn Centauro sau đó đã tiến vào căn cứ hạm đội Kotor của Nam Tư tại Montenegro[9].

Các hoạt động hải quân [sửa]

Khu trục hạm Dubrovnik của Nam Tư. Trọng tải 1.880 tấns, được trang bị đại bác 4x5.5 inch, súng 2x84 li và súng phòng không 6x40 li, cùng với ống phóng thủy lôi 6x533 li.
Khu trục hạm Beograd của Nam Tư. Trọng tải 1.210 tấn, được trang bị đại bác 4x4.7 inch và súng phòng không 4x40 li, cùng với ống phóng thủy lôi 6x533 li. "Beograd" đã bị đánh trọng thương bởi máy bay Ý ngoài khơi Šibenik trong chiến dịch tháng Tư.

Vào thời điểm Đức và Ý tấn công Nam Tư ngày 6 tháng 4 năm 1941, Hải quân Hoàng gia Nam Tư hiện đang có 3 khu trục hạm, 2 tàu ngầm và 10 tàu phóng ngư lôi có động cơ, đây là những đơn vị hiệu quả nhất của hạm đội. Một khu trục hạm khác, chiếc "Ljubljana" đang được sửa chữa trong thời gian cuộc chiến và đã được sử dụng cùng với những khẩu pháo phòng không của nó để phòng thủ căn cứ hạm đội tại Kotor. Phần còn lại của hạm đội chỉ được sử dụng trong việc phòng thủ bờ biển, hoạt động hộ tống tại địa phương và công tác tuần tra.

Kotor nằm gần biên giới Albania và mặt trận Hy Lạp-Ý tại đó, nhưng Zadar, một lãnh thổ biệt lập của Ý, nằm ở phía tây bắc bờ biển đã gây khó khăn cho việc thiết lập một đầu cầu. Khu trục hạm " Beograd", cùng với 4 tàu phóng ngư lôi cũ và 6 tàu phóng ngư lôi có động cơ đã được điều đến Šibenik, cách Zadar 80 km về phía nam, để chuẩn bị một cuộc tấn công. Cuộc tấn công này được phối hợp với sư đoàn bộ binh số 12 "Jadranska" và 2 Odred của Quân đội Hoàng gia Nam Tư tiến đánh từ khu vực Benkovac, với sự hỗ trợ của không quân thuộc Cụm Ném bom số 81 thuộc Không quân Hoàng gia Nam Tư. Các lực lượng Nam Tư mở màn cuộc tấn công ngày 9 tháng 4, nhưng đến 13 tháng 4 quân Ý đã tiến hành phản công và tiến vào Benkovac ngày 14 tháng 4[9]. Mũi nhọn tấn công của hải quân trong chiến dịch này đã bị bẻ gãy khi tàu "Beograd" bị máy bay Ý đánh trọng thương ngoài khơi Šibenik làm động cơ bên phải của nó ngừng hoạt động, sau đó nó ỳ ạch chạy về Kotor để sửa chữa với sự hộ tống của các lực lượng còn lại.[34]

Các tàu bay có phao phụ trách công tác tuần tra hàng hải của Không quân Hoàng gia Nam Tư đã thực hiện các chuyến bay trinh sát và cả nhiệm vụ tấn công trong chiến dịch này, đồng thời yểm trợ trên không cho các hoạt động thả mìn ngoài khơi Zadar. Họ thu được một vài thành công với một tàu chở dầu của Ý bị thương nặng trên bờ biển Ý gần Bari, các cuộc tấn công vào cảng Durrës của Albania, cũng như đánh vào các đoàn vận tải tái cung cấp của Ý đến Albania. Ngày 9 tháng 4, đáng chú ý có một chiếc Dornier Do 22 đã làm rối loạn một đoàn vận tải 12 tàu hơi nước của Ý và đội hộ tống gồm 8 khu trục hạm đang vượt biển Adriatic trong ngày hôm đó, khi một mình đơn độc tấn công trước hỏa lực phòng không dữ dội của địch[35].

Hải quân Hoàng gia Nam Tư còn có 4 tuần giang hạm bọc thép cỡ lớn được trang bị vũ khí hạng nặng trong lực lượng đường sông của mình. Chúng được sử dụng để tuần tra các sông Danube, Drava và Sava ở miền bắc Nam Tư và biên giới với Hungary. Các tuần giang hạm này, Drava, Sava, MoravaVardar được chuyển giao từ hải quân Áo khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất. Tất cả đều có tải trọng khoảng 400-500 tấn với trang bị chủ yếu là 2 khẩu pháo 120 li, 2 đến 3 khẩu 66 li, súng cối 120 li, pháo phong không 40 li và súng máy. Vào lúc bắt đầu chiến dịch họ đã tiến hành các hoạt động tấn công bằng cách pháo kích sân bay tại Mohács thuộc Hungary ngày 6 tháng 4 và 8 tháng 4, nhưng đã phải bắt đầu rút lui về Novi Sad ngày 11 tháng 4 sau khi gặp phải đòn tấn công liên tiếp của máy bay ném bom bổ nhào Đức. Sáng sớm ngày 12 tháng 4, một phi đội ném bom bổ nhào Junkers Ju 87 của Đức đã tấn công các tuần giang hạm Nam Tư trên sông Danube. Chiếc "Drava" do Aleksandar Berić chỉ huy[36] đã bị đánh trúng nhiều lần nhưng vẫn trụ vững nhờ lớp giáp sàn dày 300 li của tàu, cho đến khi một quả bom tình cờ rơi thẳng vào ống khói, giết chết 54 người trong số 67 thành viên thủy thủ đoàn. Trong cuộc tấn công này các pháo thủ phòng không trên tàu tuyên bố rằng có máy bay ném bom bị bắn hạ. 3 tuần giang hạm còn lại sau đó đã bị các thủy thủ cho tự đánh đắm ngày 12 tháng 4 khi các lực lượng Đức và Hungary kiểm soát được các căn cứ và hệ thống sông ngòi nơi họ hoạt động[37].

Thương vong [sửa]

Một chiếc xe tăng Renault FT-17 hoặc NC-27 của Nam Tư bị phá hủy

Thiệt hại mà các lực lượng tấn công của Đức phải chịu trong chiến dịch này thấp đến bất ngờ. Trong 12 ngày chiến đấu tổng số thương vong là 558 người: 151 chết, 392 bị thương, và 15 mất tích. Như trong cuộc tiến quân của Quân đoàn Thiết giáp 41 vào Beograd, sĩ quan duy nhất tử trận lại là nạn nhân của một viên đạn của thường dân bắn tỉa. Luftwaffe mất xấp xỉ 60 máy bay bị bắn hạ trên bầu trời Nam Tư, với ít nhất 70 phi hành đoàn thiệt mạng. Quân đội Ý đã phải chịu thiệt hại nặng tại miền bắc Albania do chiến dịch tấn công của Nam Tư tại đây[9], trong đó không quân Ý bị thiệt xấp xỉ 10 máy bay bị bắn rơi, và 22 chiếc khác bị thương. Quân đội Hungary bị thương vong khoảng 350 người (120 chết, 223 bị thương và 13 mất tích) do các cuộc pháo kích của thủy quân Nam Tư bố trí tại vùng biên giới và trong cuộc tấn công lực lượng biên phòng Nam Tư ở Vojvodina,[31] với một số lính dù tương đương 1/4 tiểu đoàn Hungary gặp tai nạn khi một máy bay vận tải chở theo 30 lính bị rơi ngày 12 tháng 4[38].

Quân Đức bắt được từ 254.000 đến 345.000 tù binh Nam Tư, trong đó bao gồm một số lượng đáng kể người thuộc dân tộc Croatia, Đức và Hungary bị ép đi lính cho quân đội Nam Tư và họ đã nhanh chóng được giải phóng sau khi sàng lọc, ngoài ra quân Ý cũng bắt được thêm 30.000 tù binh nữa.[39][40]

Khoảng 1.000 lục quân và hàng trăm nhân viên thuộc lực lượng không quân (trong đó có một phân xưởng cơ động với 6 xe cộ) đã trốn thoát qua Hy Lạp để đến Ai Cập[41].

Tàu của Nam Tư bị Ý bắt giữ trong tháng 4 năm 1941. Lần lượt từ trái qua: tàu rải mìn lớp Malinska, tuần dương hạm hạng nhẹ Dalmacija và tàu hỗ trợ tàu ngầm Hvar.

Trong cuộc chiến đấu ngắn ngủi của mình, Không quân Hoàng gia Nam Tư đã mất 49 máy bay do lực lượng tiêm kích và phòng không của phe Trục, với nhiều hư hỏng không thể sửa chữa. Ngoài ra còn có 27 phi công tiêm kích và 76 phi hành đoàn ném bom thiệt mạng. Thêm 85 máy bay bị phá hủy trên mặt đất do bị không kích, cùng với nhiều chiếc khác bị tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa do chính phi hành đoàn của mình, hay bị rơi trong quá trình chiến đấu hoặc di tản.

Bất chấp những thiệt hại này, hơn 70 máy bay Nam Tư đã trốn thoát được sang lãnh thổ của Đồng Minh, chủ yếu là Hy Lạp, riêng 8 máy bay ném bom Dornier và Savoia Marchetti đã chạy sang Liên Xô và có 4 chiếc được an toàn. Hàng chục máy bay trốn thoát được đã bị phá hủy trong một cuộc oanh kích dữ dội của không quân Ý vào sân bay Paramitia tại Hy Lạp, chỉ còn lại 9 máy bay ném bom và vận tải sang được đến Ai Cập. Hơn 300 máy bay tác chiến, phụ trợ và huấn luyện đã bị chiếm giữ và chuyển giao cho lực lượng Không quân Nhà nước Độc lập Croatia mới thành lập[42], Phần Lan, Romania và Bulgaria.

Quân Ý đã bắt giữ phần lớn Hải quân Nam Tư (1 trong 4 khu trục hạm, chiếc "Ljubljana", được sử dụng trong chiến dịch khi còn đang sửa chữa)[34]. Tuy nhiên, có một khu trục hạm khác, chiếc "Zagreb", đã bị 2 sĩ quan của nó tự đánh chìm tại Kotor để ngăn không cho tàu rơi vào tay địch, và 1 tàu ngầm do Anh sản xuất cùng 2 tàu phóng ngư lôi có động cơ đã trốn thoát được sang Alexandria thuộc Ai Cập để tiếp tục chiến đấu theo phe Đồng Minh[11]. Cũng cần chú ý rằng chiếc khu trục hạm thứ tư bị chiếm khi còn đang trong quá trình sản xuất tại xưởng tàu Kotor là chiếc "Split", nhưng Regia Marina đã không thể đóng xong nó trước hiệp định đình chiến năm 1943. Rốt cục nó cũng được trả lại cho Nam Tư sau chiến tranh và được hoàn tất với cái tên ban đầu của mình[43].

10 tàu bay tuần tra hàng hải của hải quân Nam Tư đã trốn thoát sang Hy Lạp, và 9 chiếc được đưa sang Ai Cập, tại đó chúng lập thành một phi đội dưới sự chỉ huy của RAF.

Kết quả [sửa]

Bản đồ phân chia lãnh thổ Nam Tư giữa các nước phe Trục

Chiến thắng của phe Trục là rất chóng vánh. Ngày 17 tháng 4 năm 1941, Nam Tư đầu hàng sau 11 ngày chiến đấu. Cố gắng phòng thủ trên toàn tuyến biên giới của quân đội Nam Tư đã không đem lại kết quả. Nam Tư giờ bị chia xẻ giữa các nước Đức, Hungary, Ý và Bulgaria. Phần lớn Serbia bị Đức chiếm đóng. Thủ lĩnh phát xít Croatia Ante Pavelić được Ý ủng hộ đã tuyên bố về một Nhà nước Độc lập Croatia[44] trước cả khi cuộc xâm lăng kết thúc.

Xem thêm [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Young, Peter; World War II, trg 68
  2. ^ a b c d Kurt Assmann, “Trận Moscow: Bước ngoặt của chiến tranh” Foreign Affairs 28:2 (1950)
  3. ^ Heather Williams; Parachutes, Patriots and Partisans: The Special Operations Executive and Yugoslavia, 1941-1945, trg 28-36; C. Hurst & Co., 2003; ISBN 1-85065-592-8
  4. ^ Heather Williams; Parachutes, Patriots and Partisans: The Special Operations Executive and Yugoslavia, 1941-1945, trg 33; C. Hurst & Co., 2003; ISBN 1-85065-592-8
  5. ^ William L. Shirer, The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany, Simon and Schuster, trg 824; 1990; ISBN 0-671-72868-7
  6. ^ Tomasevich, 1975, trg 58.
  7. ^ a b Tomasevich, 1975, trg 59.
  8. ^ Novak et al., 1998, trg 15.
  9. ^ a b c d e f g h i Fatutta, et al., 1975.
  10. ^ a b Shores, et al., 1987, trg 260.
  11. ^ a b Conways, 1980.
  12. ^ Geschichte, trg 317-318
  13. ^ Fatutta, et al., 1975. trg 52.
  14. ^ Tomasevich, 1975, trg 61.
  15. ^ Shaw, 1973, trg 92
  16. ^ Times Atlas, trg 54
  17. ^ Shaw, 1973, trg 89
  18. ^ Thomas, 1995, trg 24.
  19. ^ Goss 2005, trg 89.
  20. ^ Weal, 1998 trg 25.
  21. ^ Shores, et al., 1987, trg 200.
  22. ^ Shores, et al., 1987, trg 174.
  23. ^ a b Shores, et al., 1987.
  24. ^ Savic, et al., 2002, trg 8.
  25. ^ a b Goss 2005, trg 10.
  26. ^ Ciglic, et al., 2007. trg 32-38.
  27. ^ Weal, 1998 trg 29.
  28. ^ a b c d e f g h i j k l Trung tâm lịch sử quân sự quân đội Hoa Kỳ (United States Army Center of Military History) Publication 104-4, 1986.
  29. ^ Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội Hoa Kỳ, Publication 104-4, 1986.
  30. ^ Ivo Goldstein, (1999). Croatia: một kịch sử. NXB McGill-Queen's University Press, trg 131–134. ISBN 0-7735-2017-1.
  31. ^ a b Niehorster, 1998, trg 66.
  32. ^ Tomasevich, 1975, trg 57.
  33. ^ Shores, et al., 1987, trg 213.
  34. ^ a b Whitely, 2001, trg 312.
  35. ^ Shores, et al., 1987, trg 218.
  36. ^ Miroslav Krleža; Vladislav Brajković, Petar Mardešić (1972). Pomorska enciklopedija, quyển 2. Jugoslavenski leksikografski zavod. trg 240.
  37. ^ Shores, et al., 1987, trg 224.
  38. ^ Shores, et al., 1987, trg 222.
  39. ^ US Govt History, trg 64
  40. ^ Geschichte, trg 325
  41. ^ Ciglic, et al., 2007, trg 32.
  42. ^ Shores, et al., 1987, trg 310.
  43. ^ Whitely, 2001, trg 313.
  44. ^ Tomasevich, 2001, trg 52-53.

Thư mục [sửa]

  • B. Ciglic và D. Savic, Dornier Do 17 The Yugoslav Story, Operational Record 1937-1947, Jeroplan, Belgrade, 2007. ISBN 978-86-909727-0-8
  • Buckley, Christopher, "Greece and Crete 1941", HMSO, 1977
  • Conways All The World's Fighting Ships 1922-1946 - Conway Maritime Press, London,1980. ISBN 0-85177-146-7
  • F. Fatutta và L. Covelli, 1941: Attack on Yugoslavia, in The International Magazine of Armies & Weapons, Year IV - Nos. 15 and 17, January and May 1975, Lugano, Switzerland.
  • Geschichte des Zweiten Weltkrieges Vol. 3, A. A. Gretschko, Berlin: Militärverlag der Deutschen Demokratischen Republik, 1977.
  • Chris Goss, Dornier 17: In Focus, Surrey, UK: Red Kite Books, 2005. ISBN 0-9546201-4-3
  • Leo W.G. Niehorster, The Royal Hungarian Army, 1920-1945, Europa Books Bayside New York 1998 ISBN 978-1-891227-19-6
  • J. Novak và D. Spencer, Hrvatski Orlovi: Paratroopers of the Independent State of Croatia 1942-1945, Axis Europa Books, Bayside NY, 1998. ISBN 1-891227-13-0
  • L. Shaw, Trial by Slander: A background to the Independent State of Croatia, Harp Books, Canberra, 1973. ISBN 0-909432-00-7
  • C. Shores, B. Cull và N. Malizia, Air War for Yugoslavia, Greece & Crete – 1940-41, Grub Street, London, 1987. ISBN 0-948817-07-0
  • The Times Atlas of the Second World War, John Keegan (ed.), New York: Harper and Row, 1989.
  • N. Thomas và K. Mikulan, Axis Forces in Yugoslavia 1941-45, Osprey Publications, 1995. ISBN 1-85532-473-3
  • Jozo Tomasevich, War and Revolution in Yugoslavia 1941-1945: The Chetniks, Stanford, Cal., London, Oxford University Press, 1975. ISBN 0-8047-0857-6
  • Jozo Tomasevich, War and Revolution in Yugoslavia 1941-1945: Occupation and Collaboration, Stanford, Cal.: Stanford University Press, 2001. ISBN 0-8047-3615-4
  • John Weal,(1998). Junkers Ju 87 Stukageschwader of North Africa and the Mediterranean, Oxford: Osprey. ISBN 1-85532-722-8
  • M.J. Whitely, Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia, US Naval Institute Press, 2001. ISBN 978-0-87021-326-7
  • Các chiến dịch của Đức tại Balkan (xuân 1941). United States Army Center of Military History. 1986 [1953]. CMH Pub 104-4.

Liên kết ngoài [sửa]