Trận chiến biển Coral

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến biển Coral
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
BattleCoralSea.jpeg
Hàng không mẫu hạm USS Lexington đang bị đánh chìm vào ngày 8 tháng 5, 1942, góc nhìn từ tuần dương hạm Minneapolis
.
Thời gian 4 tháng 58 tháng 5, 1942
Địa điểm Biển Coral, nằm giữa Australia, New Guinea, và quần đảo Solomon
Kết quả Đế quốc Nhật giành thắng lợi chiến thuật;
Đồng Minh giành thắng lợi chiến lược
Tham chiến
Cờ của Hoa Kỳ Hải quân Mỹ
Cờ của Úc Hải quân Úc
Flag of the Empire of Japan Hải quân đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Cờ của Hoa Kỳ Frank J. Fletcher
Cờ của Úc John Crace
Flag of the Empire of Japan Shigeyoshi Inoue
Flag of the Empire of Japan Takeo Takagi
Flag of the Empire of Japan Kiyohide Shima
Flag of the Empire of Japan Sadamichi Kajioka
Flag of the Empire of Japan Kuninori Maruma
Flag of the Empire of Japan Aritomo Goto
Lực lượng
2 hàng không mẫu hạm hạng nặng,
3 tuần dương hạm
2 hàng không mẫu hạm hạng nặng,
1 hàng không mẫu hạm nhỏ,
4 tuần dương hạm
Tổn thất
1 hàng không mẫu hạm,
1 khu trục hạm và 1 tàu chở dầu
65 máy bay chiến đấu [1]
543 người chết
1 hàng không mẫu hạm nhỏ và 1 khu trục hạm
69 máy bay chiến đấu[2]
1.074 người chết
.

Trận chiến biển Coral hay trận chiến biển San Hô là trận hải chiến diễn ra trong thế chiến thứ hai từ ngày 4 tháng 5 đến ngày 8 tháng 5 1942 giữa hải quân đế quốc Nhậthải quân Mỹ. Địa điểm diễn ra trận đánh là biển Coral (hay biển San Hô) nằm giữa Australia, New Guineaquần đảo Solomon thuộc Thái Bình Dương.

Trận đánh này được xem là cuộc chạm trán lần đầu tiên giữa các hàng không mẫu hạm trong lịch sử. Kết thúc trận đánh, tổn thất của cả 2 bên gần như ngang nhau nhưng hải quân Mỹ đã phá tan kế hoạch tấn công Australia của Nhật, đồng thời tạo ra những tình thế có lợi cho người Mỹ trước trận đánh quyết định sau đó 1 tháng của chiến trường Thái Bình Dương, trận Midway.

Hoàn cảnh diễn ra trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 12 1941, Nhật bất ngờ tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu cảng (Pearl Harbor), mở màn mặt trận Thái Bình Dương. Đến mùa hè 1942, đế quốc Nhật đã thống trị 1 vùng lãnh thổ gần 8 triệu km² bao gồm nhiều vùng đất ở Đông Á, Đông Nam ÁTây Thái Bình Dương. Trong khi đó, quân Đồng Minh sau những thất bại liên tiếp buộc phải có thời gian để hồi phục và chuẩn bị lực lượng phản công. Do đó, chiến thuật của quân Đồng Minh vào thời điểm đó là thiết lập 1 vành đai phòng thủ trên Thái Bình Dương. Hải quân Mỹ tổ chức phòng thủ tại New Caledonia, phía nam quần đảo Solomon còn hải quân Australia phòng thủ quanh khu vực phía đông và nam New Guinea. Tướng Douglas MacArthur lui về Australia thành lập bộ tư lệnh Tây Thái Bình Dương ở Melbourne.

Trong khi đó, bộ chỉ huy Nhật Bản bước vào năm 1942 có sự tranh cãi giữa hải quân và lục quân về phương hướng chiến lược. Trong khi lục quân Nhật có ý định củng cố vững chắc các lãnh thổ đã chiếm được thì ngược lại hải quân lại cho rằng mọi thành quả vừa đạt được sẽ không thể giữ lâu bền nếu quân Nhật chỉ giới hạn trong việc phòng thủ.[3]. Trong tình hình đó, người Nhật hoàn toàn có thể có thể tiến hành các chiến dịch đánh chiếm Úc, Ấn Độ, Hawaii và các căn cứ quan trọng khác trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đó sẽ là vành đai phòng thủ từ xa của Nhật Bản.

Ngày 1112 tháng 3 1942, thủ tướng Nhật Hideki Tōjō đã tuyên bố tại đài phát thanh TokyoQuốc hội Nhật:

"Australia và New Zealand hiện đang nằm trong tầm tay của quân đội đế quốc Nhật và họ nên hiểu rằng chờ đợi sự tiếp viện vào thời điểm này là vô ích. Nếu chính phủ Australia vẫn không thay đổi chính sách đối ngoại thì họ sẽ phải chịu chung số phận với Indonesia, thuộc địa Hà Lan".[4]

Từ Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, các lực lượng Nhật Bản ngày càng tiến xa hơn về phía Nam và đe dọa Úc. Tháng 4 1942, quân đội Nhật xây dựng căn cứ tại Rabaul gần đảo New Britain, phía bắc New Guinea. Không quân Nhật cũng nhiều lần oanh tạc xuống hải cảng Darwin trên bờ biển phía Bắc nước Úc. Ý định của người Nhật là mở 2 hướng tấn công: 1 đổ bộ vào cảng Moresby và 2 là Tulagi thuộc quần đảo Solomon để có thể đưa vùng đông bắc Australia vào tầm khống chế và kiểm soát quần đảo Solomon. Phó đô đốc Shigeyoshi Inoue thành lập bốn lực lượng xung kích khác nhau gồm phó đô đốc Kiyohide Shima chỉ huy lực lượng tấn công Tulagi; phó đô đốc Marushige hành quân tại quần đảo Louisiade; phó đô đốc Sadamichi Kajioka chỉ huy lực lượng tấn công Morseby và phó đô đốc Aritomo Goto chỉ huy không lực trên các mẫu hạm. Các tư lệnh Nhật Bản rất lạc quan vì tưởng rằng hải quân Mỹ chỉ có một mẫu hạm trong vùng.

Hải quân đế quốc Nhật đã tổ chức 1 hạm đội với lực lượng gồm 2 hàng không mẫu hạm hạng nặng ShōkakuZuikaku (cả 2 hàng không mẫu hạm này đều đã tham gia trận Trân Châu cảng), 1 hàng không mẫu hạm nhỏ Shōhō, 4 tuần dương hạm và 1 số tàu chở hàng cho kế hoạch tấn công. Tuy nhiên động hướng tấn công của quân Nhật đã bị phân đội Custer của tình báo Mỹ giải mã thành công nên hải quân Mỹ đã có kế hoạch đối phó. Hàng không mẫu hạm Yorktown đã có mặt tại biển Coral (biển San Hô) dưới sự chỉ huy của đô đốc Frank Jack Fletcher cùng với hàng không mẫu hạm USS Lexington đang trên đường đến. 2 hàng không mẫu hạm khác cũa Mỹ là HornetEnterprise đang ở quá xa chiến trường nên đã không thể tham gia trận đánh này.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tulagi[sửa | sửa mã nguồn]

Lexington cuối cùng đã gặp mặt Yorktown vào ngày 1 tháng 5 1942. Quân Nhật do phó đô đốc Kiyohide Shima chỉ huy đã tấn công và chiếm Tulagi vào ngày 3 tháng 5 rồi ngay lập tức tổ chức xây dựng tại đây 1 căn cứ thủy phi cơ. Ngày hôm sau lực lượng tấn công hải cảng Morseby bắt đầu di chuyển, có một chiến hạm nhẹ và sáu khu trục hạm yểm trợ. Cũng vào ngày đó, sau khi được nạp nhiên liệu đầy đủ, Yorktown đã mở 3 cuộc tấn công tại Tulagi, đánh chìm khu trục hạm Kikuzuki và 5 tàu chở hàng của Nhật. Căn cứ thủy phi cơ của Nhật cũng bị tàn phá. Sau đợt tấn công này, Yorktown tiến xuống phía nam để gặp lại Lexington. Sau cuộc tấn công này của quân Mỹ, lực lượng của phó đô đốc Takeo Takagi đang ở phía bắc quần đảo Solomons được lệnh phải tiến gấp tới đối đầu với hạm đội Mỹ. Lực lượng Nhật Bản có nhiệm vụ tiến chiếm hải cảng Morseby vẫn tiếp tục cuộc hành quân và được lực lượng của phó đô đốc Aritomo Goto bảo vệ.

6 tháng 5[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 5, từ các căn cứ mặt đất, các "pháo đài bay" B-17 của Đồng Minh xuất kích ném bom hạm đội Nhật đổ bộ tấn công cảng Moresby nhưng hiệu quả thu được của đợt oanh tạc này không cao. Trong ngày này, cả 2 hạm đội Mỹ và Nhật tiếp tục ra sức tìm kiếm nhau trên mặt biển nhưng thời tiết xấu đã ngăn cản điều đó. Các máy bay chiến đấu của phe Đồng Minh liên tục được tăng cường cho trận đánh từ các phi trường tại CooktownMareeba thuộc Cape York Peninsula, Australia.

Chiếc Shōhō đang bốc cháy sau khi trúng ngư lôi.

Đêm hôm đó, đô đốc Frank Jack Fletcher, người được giao trọng trách bảo vệ cảng Moresby đã đưa ra một quyết định khó khăn khi điều lực lượng đặc nhiệm 44 thuộc quyền Chuẩn Đô đốc người Australia John Crace chặn tất cả các con đường mà từ đó hạm đội Nhật có thể đổ bộ. Lực lượng trong tay Crace lúc đó bao gồm các tuần dương hạm HMAS Australia, HMAS HobartUSS Chicago, các khu trục hạm USS Perkins, USS WalkeUSS Farragut. Fletcher và Crace đều hiểu rằng khi tung các tàu chiến vào trận đánh mà thiếu sự yểm trợ trên không thì thảm kịch của 2 chiến hạm khổng lồ của Anh HMS Prince of WalesHMS Repulse cách đây 5 tháng có thể sẽ lặp lại. Nỗi sợ hãi của họ suýt nữa đã trở thành hiện thực khi hạm đội của Crace bị máy bay Nhật tấn công bằng ngư lôi vào chiều ngày 7 tháng 5 tuy nhiên các tuần dương hạm của họ chỉ bị thương nhẹ và gặp tổn thất không đáng kể. Một điều hy hữu đã xảy ra: sau đợt tấn công trên của phi đội Nhật vài phút, hạm đội của Crace đã bị các máy bay B-17 của phe mình vô tình tấn công nhầm nhưng may mắn là không có điều gì đáng tiếc xảy ra.

7 tháng 5[sửa | sửa mã nguồn]

Shōkaku bị trúng bom vào ngày 8 tháng 5 1942

Sáng ngày 7 tháng 5, máy bay trinh sát của Nhật tưởng đã phát hiện được hạm đội Mỹ nên ngay lập tức báo tin về cho bộ chỉ huy. Đô đốc Takeo Takagi thấy cơ hội đã đến liền hạ lệnh cho gần 100 máy bay ném bommáy bay tiêm kích tấn công. Tuy nhiên khi đến gần mục tiêu các máy bay Nhật mới phát hiện ra đó chỉ là tàu chở dầu cỡ lớn Neosho chứ không phải là hàng không mẫu hạm như trinh sát báo cáo. Chiếc tàu chở dầu này ngay lập tức bị đánh chìm cùng tàu khu trục Sims đi theo hộ tống. Trên đường tìm kiếm các hàng không mẫu hạm Mỹ, 27 máy bay ném bom của Nhật đã chạm trán hạm đội Mỹ nhưng 9 chiếc đã bị máy bay tiêm kích Mỹ bắn hạ, 18 chiếc còn lại trút toàn bộ bom xuống biển để dễ dàng chạy trốn nên đã không thể tiêu diệt được các mục tiêu.

Trong khi đó, các máy bay ném bom của Mỹ cũng bị hướng dẫn sai đường nên đã bỏ lỡ cơ hội tấn công 2 hàng không mẫu hạm ShōkakuZuikaku của Nhật nhưng may mắn trên đường rút về đã phát hiện hàng không mẫu hạm nhỏ Shōhō. Shōhō ngay lập tức bị ném bom đánh chìm. Đây cũng là chiến công đánh chìm 1 hàng không mẫu hạm của Nhật đầu tiên của Đồng minh và tin này nhanh chóng được báo về đại uý hải quân Robert E. Dixon lúc đó đang trên tàu Lexington[5].

8 tháng 5[sửa | sửa mã nguồn]

USS Lexington đang bốc cháy
6 tháng 5:
Tàu chở dầu, SimsNeosho, tàu sân bay LexingtonYorktown
Tàu sân bay Shoho, ShokakuZuikaku

7 tháng 5:
Tuần dương hạm Mỹ --- Máy bay ném bom Mỹ từ tàu sân bay --- Máy bay ném bom Nhật từ tàu sân bay --- Phi trường mặt đất của Đồng Minh --- phi trường mặt đất của Nhật
1. Sims chìm cùng Neosho.
2. Shoho bị đánh chìm.
3. Tuần dương hạm Mỹ bị tấn công nhưng tổn thất không cao.
8 tháng 5:
4.LexingtonYorktown bị tấn công.
5. Shokaku bị tấn công.
6. Lexington chìm.

Sáng ngày 8 tháng 5, hai hạm đội Mỹ và Nhật cuối cùng đã chạm trán nhau ở khoảng cách 175 hải lý. Các máy bay chiến đấu trên hàng không mẫu hạm của cả 2 bên đều đồng loạt xuất kích. Hàng không mẫu hạm Zuikaku nhờ lẩn dưới mưa giông nên không bị phát hiện còn Shōkaku bị trúng 3 lần bom, sàn tàu bị tàn phá nặng nề làm cho các máy bay còn lại trên tàu không thể tham gia trận đánh khiến Shōkaku xem như mất khả năng chiến đấu.

Một số lớn các máy bay Nhật trên 2 hàng không mẫu hạm trên theo lệnh của Takeo Takagi đã cất cánh đi tìm hạm đội Mỹ. Các máy bay này trên đường trở về đã phát hiện ra hạm đội Mỹ và ngay lập tức tấn công. Lexington bị trúng bomthuỷ lôi chìm ngay lập tức còn Yorktown may mắn chỉ bị thương nhẹ bởi bom. Đến cuối ngày, hạm đội của cả 2 bên đều không còn sức chiến đấu và trận hải chiến giữa 2 hạm đội cũng kết thúc.

5 giờ chiều ngày 8 tháng 5, phó đô đốc Shigeyoshi Inoue bất thần ra lệnh lực lượng xung kích phải ngưng cuộc tấn công, và rút lui khỏi vùng chiến trường. Tiếp theo đó là lệnh đình hoãn kế hoạch tiến chiếm hải cảng Morseby và các toán hải quân hỗ trợ việc tiến chiếm hải cảng Morseby phải quay trở về căn cứ tại Rabaul. Lệnh tạm hoãn cuộc tấn công này được đưa ra là vì ông ước tính rằng mặc dù hải quân Nhật đã đè bẹp lực lượng mẫu hạm của Mỹ nhưng sức mạnh của Nhật còn lại không đủ để bảo vệ lực lượng đổ bộ vào hải cảng Morseby.

Khi báo cáo lệnh lui quân về bộ tư lệnh hải quân tối cao thì đô đốc Yamamoto Isoroku vô cùng tức giận trước thất bại của Inoue vì không khai thác được lợi điểm trong trận đánh hạ được mẫu hạm địch buổi sáng hôm đó. Yamamoto gửi ngay cho Inoue, tư lệnh đệ tứ hạm đội, một điện tín bằng những lời lẽ rất cứng rắn, yêu cầu Inoue phải dùng mọi nỗ lực để tiêu diệt hoàn toàn hải lực còn lại của địch quân. Phó đô đốc Takeo Takagi cũng được lệnh phải tiến về hướng nam và phải tìm cho ra lực lượng hải quân của Mỹ để tiêu diệt. Nhưng lực lượng của Takagi cố gắng tìm kiếm thêm hai ngày nữa, nhưng vô hiệu quả, và đành phải rút lui khỏi vùng Biển San Hô vào đêm 10 tháng 5.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Kết thúc trận đánh, tổn thất của 2 bên hầu như ngang nhau: hải quân Nhật bị đánh chìm 1 tàu sân bay hạng nhẹ, 1 khu trục hạm và 69 máy bay chiến đấu trong khi đó của hải quân Mỹ là 1 tàu sân bay (USS Lexington), 1 tàu chở dầu cỡ lớn, 1 khu trục hạm và 65 máy bay chiến đấu.

Về mặt chiến thuật, hải quân Nhật xem như giành được 1 thắng lợi nhỏ khi họ chỉ mất 1 hàng không mẫu hạm loại nhỏ và bị thương 1 hàng không mẫu hạm lớn trong khi Mỹ mất và bị thương 1 hàng không mẫu hạm lớn. Về mặt chiến lược, trận đánh này là 1 thất bại của hải quân Nhật khi họ đã không thể đổ bộ lên bờ biển phía nam New Guinea khiến cho kế hoạch tấn công Australia cũng theo đó mà phá sản. Với kết quả này, quân Đồng Minh đã phần nào lấy lại được thế chủ động tại chiến trường Thái Bình Dương sau gần 6 tháng thời điểm diễn ra trận Trân Châu cảng.

Ngoài ra, trận chiến biển Coral còn gây ra những hệ quả cho trận Midway sau này, trận đánh có tính chất quyết định tại chiến trường Thái Bình Dương. 2 tàu sân bay ShōkakuZuikaku của hải quân Nhật đã không thể tham gia trận Midway vào tháng 6 1942 vì không kịp hồi phục. Ngược lại, tàu sân bay Yorktown của Mỹ cũng bị thương rất nặng nhưng đã được sửa chữa kịp thời và góp phần giúp hải quân Mỹ đánh bại hoàn toàn hải quân Nhật trong trận Midway.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Funk and Wagnalls New Encyclopedia (New York, 1986), Volume 7, p. 209, "Coral Sea, Battle of the".
  2. ^ Lundstrom, Guadalcanal Campaign, p. 92. Breakdown of aircraft losses: 19 "Zero" fighters, 19 "Val" dive bombers, and 31 "Kate" torpedo bombers.
  3. ^ Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, sđd, trang 146
  4. ^ “Battle of The Coral Sea — May 4–8, 1942”. Bluejacket.com. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  5. ^ Adm. Robert E. Dixon, Hero of a Naval Battle - New York Times