Nouvelle-Calédonie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nouvelle-Calédonie
Flag of New Caledonia.svg Emblem of New Caledonia.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Nouvelle-Calédonie
Quốc ca
La Marseillaise
Hành chính
Chính phủ Lãnh thổ hải ngoại của Pháp
Ngôn ngữ chính thức tiếng Pháp
Thủ đô Nouméa
Thành phố lớn nhất Nouméa
Địa lý
Diện tích 18.575 km² (hạng 154)
Múi giờ UTC+11
Lịch sử
Lãnh thổ phụ thuộc
Ngày thành lập 1853
Dân cư
Dân số ước lượng (2007) 240.400 người (hạng 176)
Mật độ 13 người/km² (hạng 200)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 3,158 tỷ đô la
Đơn vị tiền tệ CFP franc
Thông tin khác
Tên miền Internet .nc

Nouvelle-Calédonie, còn có tên thông dụng là KanakyLe caillou, là lãnh thổ phụ thuộc của Pháp tại châu Đại Dương. Đối với người Việt, từ thời Pháp thuộc, Nouvelle-Calédonie còn được gọi với tên là Tân Thế giới[1], hầu hết người Việt thời đó sang đây là những người chân đăng. Lãnh thổ này nằm trong khu vực tây nam Thái Bình Dương, vùng Melanesia, gồm đảo chính (Grand Terre), quần đảo Loyauté và một số đảo nhỏ. Tổng diện tích là 18.575 km² với dân số 240.400 người tính vào đầu năm 2007. Thủ phủ Nouméa cũng là thành phố lớn nhất.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Tân Đảo

Nouvelle-Calédonie nằm khoảng 1200 km phía đông nước Úc và 1500 km phía bắc New Zealand, khoảng tọa độ 21°30′N 165°30′Đ / 21,5°N 165,5°Đ / -21.500; 165.500

Đảo chính là Grande Terre. Một số hải đảo nhỏ hơn như quần đảo Belep nằm về phía bắc và Îles Loyauté về phía đông. Phía nam có Île des Pins và nhóm đảo Chesterfield Islands. Chủ quyền hai đảo Matthew và Hunter còn trong vòng tranh chấp giữa Pháp (nhân danh Nouvelle-Calédonie) và Vanuatu.

Đảo Grande Terre lớn hơn cả, diện tích 16.372 km2, bề rộng khoảng 70 km, dài 350 km, cấu tạo bởi một rặng núi chạy dọc chiều dài của đảo theo hướng tây bắc-đông. Ngọn núi cao nhất là đỉnh Panié đo được 1628 m.

Theo địa chất học thì Nouvelle-Calédonie là phần cực bắc của lục địa lớn chìm dưới biển, mang tên Zealandia. Chỉ có 7% diện tích của lục địa này lộ trên mặt biển. Zealandia tách rời khỏi lục địa Úc Châu khoảng 60–85 triệu năm trước và trôi dạt về hướng bắc. Xưa hơn nữa Zealandia tách khỏi Nam Cực Châu khoảng 130-85 triệu năm trước. Khoảng 50 triệu năm trước thì Nouvelle-Calédonie ổn định ở vị trí ngày nay.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Con người có mặt ở vùng nam Thái Bình Dương khoảng 50.000 năm trước. Riêng quần đảo Nouvelle-Calédonie thì người Lapita đến lập nghiệp khoảng 1500 năm trước Công nguyên. Họ giỏi nghề đi biển và biết trồng trọt. Ảnh hưởng của họ bao gồm vùng rộng lớn trong khu vực này.

Khoảng thế kỷ 11 trở đi người Polynesia di cư và hòa nhập vào số thổ dân trên đảo.

Người châu Âu biết đến Nouvelle-Calédonie vào cuối thế kỷ 18. Nhà thám hiểm James Cook người Anh đặt tên "New Caledonia" cho đảo để nhớ về ScotlandCaledonia vốn là tên cổ (tiếng Latin) của Scotland. Quần đảo gần đó thì ông đặt tên "New Hebrides", cũng để nhớ lại quần đảo Hebrides thuộc Scotland. Người Pháp sau dịch "New Caledonia" thành "Nouvelle-Calédonie" tức là tên hiện hữu.

Thương thuyền và ngư thuyền Anh và Úc ghé Nouvelle-Calédonie để cất dầu cá voi hay mua gỗ trầm hương nhưng quan hệ với thổ dân không mấy tốt đẹp. Năm 1849 thì bạo động bùng nổ: thủy thủ thuyền Cutter bị thổ dân bắt giết và ăn thịt. Ngược lại thổ dân bị nhiễm bệnh đậu, sởi, cúm, giang mai của người da trắng khiến chết nhiều.

Với lượng trầm hương giảm, Nouvelle-Calédonie biến thành nơi xuất xứ dân nô lệ đi làm phu ở Úc. Tệ nạn này đến đầu thế kỷ 20 mới chấm dứt.

Trong khi đó việc truyền giáo của đạo Thiên Chúa làm biến đổi văn hóa thổ dân về mặt tín ngưỡng, trang phục cũng như dẹp tục ăn thịt người.

Năm 1853 Pháp sát nhập vùng đảo trong cuộc tranh đua thuộc địa với Anh vì Anh đã thu nạp ÚcNew Zealand. Cũng giống như cách người Anh dùng xứ Úc để lưu đày tội phạm, Pháp gửi 22.000 tù nhân sang khai lập Nouvelle-Calédonie từ năm 1864 đến 1922. Thêm vào đó là thường dân Pháp và dân phu chân đăng Á Châu (Việt Nam). Cùng lúc đó số thổ dân lại giảm nghiêm trọng vì bệnh dịch và chính sách hà khắc của bộ luật Code de l'Indigénat nhằm củng cố địa vị độc tôn của người da trắng và hạn chế tối đa quyền đi lại, sinh nhai và sở hữu của người thổ dân.

Trong cuộc Thế chiến thứ hai với quân đội Nhật Bản tiến chiếm vùng Nam Thái Bình Dương, tư lệnh quân đội Mỹ được đặt ở Nouméa để chặn bước tiến quân địch.

Kể từ thập niên 1980 phong trào độc lập bắt đầu tranh đấu đòi thành lập nước "Kanaky". Bạo động như vụ bắt con tin và ám sát buộc Pháp tăng quyền tự trị cho Nouvelle-Calédonie và nhìn nhận hành trình "giảm chính" (devolution) qua hiệp ước Matignon 1988 và Nouméa 1998. Phương thức bày nhằm tạo ý niệm dân tộc Calédonie gồm quyền dân tịch và biểu tượng địa phương hầu đưa tới một ngày quyết định chính trị cho lãnh thổ này trong tương lai.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ lực lượng phong trào độc lập

Nouvelle-Calédonie có quy chế đặc biệt vì đây là một lãnh thổ hải ngoại của Pháp nhưng có nhiều điểm gần như một quốc gia độc lập.

Nghị viện lãnh thổ (Congrès du territoire) và chính phủ địa phương ngày càng rộng quyền chiếu theo Hiệp ước Nouméa (1998) ký với chính phủ trung ương. Các lãnh vực thuế má, luật lao động, vệ sinh y tế và cả ngoại thương nay thuộc quyền của chính phủ địa phương. Mục đích giảm chính (devolution) là tiến tới thể chế khi Pháp chỉ nắm giữ một số lãnh vực then chốt như ngoại giao, hình pháp, quốc phòng, an ninh công cộng, và ngân khố. Những lãnh vực khác sẽ thuộc chính phủ địa phương. Chính phủ Nouvelle-Calédonie đã theo đuổi một số chính sách độc lập như duy trì đơn vị tiền tệ franc CFP thay vì đổi theo Euro như ở trung ương. Chủ đích của chính phủ Nouvelle-Calédonie là xây dựng ý niệm công dân riêng cho Nouvelle-Calédonie.

Đề tài độc lập sẽ hoãn đến sau năm 2013

Đại diện chính quốc Pháp là Cao ủy Cộng hòa (Haut-Commissaire de la République, thường gọi là "haussaire"). Lãnh thổ Nouvelle-Calédonie gửi hai đại biểu lên Hạ viện Quốc hội Pháp ở Paris và một nghị sĩ lên Thượng viện.

Hành chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc khu được chia thành ba đơn vị:

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ dân Kanak chiếm khoảng 42%, dân gốc Âu Châu 37%, số còn lại là dân gốc Polynesia và Á Châu, trong đó khoảng 1,5% là dân gốc Việt.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Người Việt ở Tân Thế Giới
  2. ^ Boyer & Giribet 2007: 355

Bạn có thể tham khảo nội dung bài này trong Wikipedia tiếng Pháp để có thêm thông tin mở rộng cho bài này. Nếu bạn không biết tiếng Pháp, có thể dùng công cụ dịch, như Google Dịch.