Nouvelle-Calédonie
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Nouvelle-Calédonie | ||||
|---|---|---|---|---|
|
|
||||
| Quốc ca La Marseillaise |
||||
| Thủ đô (và là thành phố lớn nhất) |
Nouméa | |||
| Ngôn ngữ chính thức | tiếng Pháp | |||
| Chính phủ | Lãnh thổ hải ngoại của Pháp | |||
| Lãnh thổ phụ thuộc | ||||
| Diện tích | ||||
| - | Tổng số | 18,575 km² (hạng 154) |
||
| Dân số | ||||
| - | Ước lượng 2007 | 240.400 (hạng 176) | ||
| - | Mật độ | 13 /km² (hạng 200) |
||
| GDP (PPP) | Ước tính 2003 | |||
| - | Tổng số | 3,158 tỷ đô la | ||
| - | Theo đầu người | 14.800 đô la | ||
| Đơn vị tiền tệ | CFP franc | |||
| Múi giờ | (UTC+11) | |||
| Tên miền Internet | .nc | |||
| Mã số điện thoại | +687¹ | |||
Nouvelle-Calédonie, còn có tên thông dụng là Kanaky và Le caillou, là lãnh thổ phụ thuộc của Pháp tại châu Đại Dương. Đối với người Việt Nouvelle-Calédonie còn được gọi với tên Tân Đảo.
Lãnh thổ này nằm trong khu vực tây nam Thái Bình Dương, vùng Melanesia, gồm đảo chính (Grand Terre), quần đảo Loyauté và một số đảo nhỏ. Tổng diện tích là 18.575 km² với dân số 240.400 người tính vào đầu năm 2007. Thủ phủ Nouméa cũng là thành phố lớn nhất.
[sửa] Lịch sử
Con người có mặt ở vùng nam Thái Bình Dương khoảng 50.000 năm trước. Riêng quần đảo Nouvelle-Calédonie thì người Lapita đến lập nghiệp khoảng 1500 năm trước Công nguyên. Họ giỏi nghề đi biển và biết trồng trọt. Ảnh hưởng của họ bao gồm vùng rộng lớn trong khu vực này.
Khoảng thế kỷ 11 trở đi người Polynesia di cư và hòa nhập vào số thổ dân trên đảo.
Người châu Âu biết đến Nouvelle-Calédonie vào cuối thế kỷ 18. Nhà thám hiểm James Cook người Anh đặt tên "New Caledonia" cho đảo để nhớ về Scotland vì Caledonia vốn là tên cổ (tiếng Latin) của Scotland. Quần đảo gần đó thì ông đặt tên "New Hebrides", cũng để nhớ lại quần đảo Hebrides thuộc Scotland. Người Pháp sau dịch "New Caledonia" thành "Nouvelle-Calédonie" tức là tên hiện hữu.
Thương thuyền và ngư thuyền Anh và Úc ghé Nouvelle-Calédonie để cất dầu cá voi hay mua gỗ trầm hương nhưng quan hệ với thổ dân không mấy tốt đẹp. Năm 1849 thì bạo động bùng nổ: thủy thủ thuyền Cutter bị thổ dân bắt giết và ăn thịt. Ngược lại thổ dân bị nhiễm bệnh đậu, sởi, cúm, giang mai của người da trắng khiến chết nhiều.
Với lượng trầm hương giảm, Nouvelle-Calédonie biến thành nơi xuất xứ dân nô lệ đi làm phu ở Úc. Tệ nạn này đến đầu thế kỷ 20 mới chấm dứt.
Trong khi đó việc truyền giáo của đạo Thiên Chúa làm biến đổi văn hóa thổ dân về mặt tín ngưỡng, trang phục cũng như dẹp tục ăn thịt người.
Năm 1853 Pháp sát nhập vùng đảo trong cuộc tranh đua thuộc địa với Anh vì Anh đã thu nạp Úc và New Zealand. Cũng giống như cách người Anh dùng xứ Úc để lưu đày tội phạm, Pháp gửi 22.000 tù nhân sang khai lập Nouvelle-Calédonie từ năm 1864 đến 1922. Thêm vào đó là thường dân Pháp và dân phu chân đăng Á Châu (Việt Nam). Cùng lúc đó số thổ dân lại giảm nghiêm trọng vì bệnh dịch và chính sách hà khắc của bộ luật Code de l'Indigénat nhằm củng cố địa vị độc tôn của người da trắng và hạn chế tối đa quyền đi lại, sinh nhai và sở hữu của người thổ dân.
Trong cuộc Thế chiến thứ hai với quân đội Nhật Bản tiến chiếm vùng Nam Thái Bình Dương, tư lệnh quân đội Mỹ được đặt ở Nouméa để chặn bước tiến quân địch.
Kể từ thập niên 1980 phong trào độc lập bắt đầu tranh đấu đòi thành lập nước "Kanaky". Bạo động như vụ bắt con tin và ám sát buộc Pháp tăng quyền tự trị cho Nouvelle-Calédonie và nhìn nhận hành trình "giảm chính" (devolution) qua hiệp ước Matignon 1988 và Nouméa 1998. Phương thức bày nhằm tạo ý niệm dân tộc Calédonie gồm quyền dân tịch và biểu tượng địa phương hầu đưa tới một ngày quyết định chính trị cho lãnh thổ này trong tương lai.
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |
|
|
||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|


