Hệ ngôn ngữ Nam Đảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ngữ hệ Nam Đảo)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Đảo
Khu vực Đông Nam Á, châu Đại Dương, Madagascar, Đài Loan
Ngữ hệ Một trong các ngữ hệ chính trên thế giới; có thể là Nam Đảo–Ongan[1]
Ngôn ngữ tiền thân Nam Đảo nguyên thủy
Phân nhánh
Mã ngôn ngữ
ISO 639-2639-5 map
Phân bố
Malayo-Polynesian-en.svg

Các ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo phía Tây.

   Philippines (không hiển thị: Yami tại Đài Loan)

   Sama–Bajaw

   Bắc Sulawesi (Gorontalo, SangirMinahasa)

   Borneo

   Sunda–Sulawesi (không hiển thị: Chamorro)

   Trung Mã Lai-Đa Đảo

   Halmahera–Cenderawasih

   các ngôn ngữ cực tây của Nhóm ngôn ngữ châu Đại Dương

Chỉ có các nhóm đã được chứng minh mới được liệt trong danh sách
Oceanic languages.svg

Các nhánh của Nhóm ngôn ngữ châu Đại Dương:

   Admiralty và Yap

   St Matthias

   Miền Tây châu Đại Dương & Trung-Melanesia

   Temotu

   Đông Nam Solomon

   Nam châu Đại Dương

   Micronesia

   Fiji–Polynesia (không hiển thị: Rapa Nui)

   Ở phía tây bắc Micronesia là Palau & Chamorro thuộc nhóm ngôn ngữ Sunda–Sulawesi. Các vòng gần màu xanh lá cây là các ngôn ngữ Papua noài khơi

.

Ngữ hệ Nam Đảo là một ngữ hệ phân bổ rộng rãi tại các hải đảo Đông Nam ÁThái Bình Dương, Madagascar và một phần nhỏ tại đại lục châu Á. Ngữ hệ Nam Đảo được khoảng 386 triệu người nói. Otto Dempwolff, một học giả người Đức, là nhà nghiên cứu đầu tiên đã khảo sát một cách rộng rãi Ngữ hệ Nam Đảo bằng cách sử dụng phương pháp so sánh. Một học giả người Đức khác là Wilhelm Schmidt, đã đặt ra từ tiếng Đức austronesisch[2] bắt nguồn từ tiếng Latinh auster "gió nam" cộng với tiếng Hy Lạp nêsos "đảo". Đúng như tên gọi, phần lớn Ngữ hệ Nam Đảo được nói trên các hòn đảo, chỉ có một vài ngôn ngữ, như tiếng Mã Lainhóm ngôn ngữ Chăm là các ngôn ngữ bản địa tại lục địa châu Á. Nhiều ngôn ngữ Nam Đảo chỉ có rất ít người nói, song các ngôn ngữ Nam Đảo chính có hàng chục triệu người nói và đặc biệt, tiếng Mã Lai có đến 180 triệu người nói và là ngôn ngữ được nói nhiều thứ tám trên thế giới. Hai mươi hoặc nhiều hơn các ngôn ngữ Nam Đảo là ngôn ngữ chính thức của các quốc gia.

Các nguồn khác nhau đưa ra số lượng các ngôn ngữ khác nhau, song Nam Đảo và Niger–Congo là hai ngữ hệ lớn nhất trên thế giới về số lượng ngôn ngữ, mỗi ngữ hệ chiếm khoảng một phần năm tổng số ngôn ngữ được ước tính trên thế giới. Phạm vi địa lý của Ngữ hệ Nam Đảo lớn hơn bất kỳ ngữ hệ nào khác trước khi Ngữ hệ Ấn-Âu mở rộng phạm vi trong thời kỳ thuộc địa. Ngữ hệ Nam Đảo kéo dài từ Madagascar ở ngoài khơi đông nam châu Phi đến đảo Phục Sinh ở phía đông của Thái Bình Dương. Tiếng Hawaii, tiếng Rapa Nui, và tiếng Malagasy (nói tại Madagascar) là các ngôn ngữ phân bổ ở những vùng địa lý xa nhất của Ngữ hệ Nam Đảo.

Theo Robert Blust (1999), Ngữ hệ Nam Đảo được chia thành một số nhánh chính, ngoại trừ một nhánh duy nhất thì tất cả các nhánh còn lại đều ở Đài Loan. Nhóm ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan được phân thành 9 phân nhóm bậc đầu tiên của Ngữ hệ Nam Đảo. Toàn bộ các ngôn ngữ Nam Đảo được nói bên ngoài Đài Loan (bao gồm tiếng Yami ở ngoài khơi của đảo) thuộc nhánh Mã Lai-Đa Đảo, thỉnh thoảng được gọi là Ngoài-Formosa.

Bản đồ mở rộng phạm vi của Ngữ hệ Nam Đảo. Các thời kỳ dựa trên những nghiên cứu khảo cổ học.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Không dễ để khái quát về các ngôn ngữ của một ngữ hệ đa dạng như Nam Đảo. Ngữ hệ này được nói trên một phạm vi rộng rãi, các ngôn ngữ Nam Đảo có thể được chia thành ba nhóm ngôn ngữ: các ngôn ngữ kiểu Philippines, các ngôn ngữ kiểu Indonesia và kiểu hậu Indonesia (Ross 2002).

Các ngôn ngữ Nam Đảo có xu hướng sử dụng điệp từ (lặp lại tất cả hoặc một phần của một từ, như wiki-wiki hay agar-agar), và, giống như các ngôn ngữ ĐôngĐông Nam Á khác, hầu hết chúng có phương pháp tổ hợp ngữ âm rất hạn chế, với các âm vị thường có số lượng hạn chế và phần lớn là các âm tiết phụ âm-nguyên âm.

Từ vựng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngữ hệ Nam Đảo được hình thành theo phương pháp so sánh ngôn ngữ dựa trên cơ sở từ cùng nguồn gốc, các tập hợp từ tương tự trong cách phát âm và ý nghĩa có thể thể hiện chúng có nguồn gốc từ những từ tổ tiên giống nhau trong tiếng Nam Đảo nguyên thủy theo quy tắc thông thường. Một số tập hợp từ cùng gốc rất ổn định. Từ mắt trong nhiều ngôn ngữ Nam Đảo là mata (các ngôn ngữ Nam Đảo xa nhất về phía bắc miền Bắc, hệ ngôn ngữ Formosa như tiếng Bununtiếng Amis đến phía nam như tiếng Maori). Các từ khác có khó khăn hơn để xây dựng mối liên hệ. Từ hai cũng là một từ ổn định, nó xuất hiện trên toàn bộ phạm vi của các ngôn ngữ Nam Đảo, song một số dạng (tiếng Bunun rusya, lusha; tiếng Amis tusa; tiếng Māori tua, rua) yêu cầu cần phải được một số chuyên gia ngôn ngữ học công nhận. Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo đưa ra một danh sách từ cho xấp xỉ 500 ngôn ngữ Nam Đảo[3].

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Kết cấu nội tại của các ngôn ngữ Nam Đảo là phức tạp. Ngữ hệ gồm có nhiều ngôn ngữ tương tự và có liên hệ chặt chẽ với một số lượng lớn các phương ngữ liên tục, khiến việc xác định ranh giới ngôn ngữ giữa các nhánh gặp khó khăn. Tuy nhiên, có điều rõ ràng là tính đa dạng lớn nhất trong phả hệ ngôn ngữ là hệ ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan, và đây cũng là đảo có ngôn ngữ đa dạng nhất tại Thái Bình Dương, điều này ủng hộ luận điểm ngữ hệ Nam Đảo bắt nguồn từ Đài Loan hay Trung Quốc đại lục. Phân loại toàn diện đầu tiên để phản ánh điều này là Bản mẫu:Harvcoltxt.

Các bài viết chuyên đề về việc phân loại Hệ ngôn ngữ Formosa và, bằng cách mở rộng, cấu trúc cấp cao nhất của Ngữ hệ Nam Đảo—là Bản mẫu:Harvcoltxt. Các học giả chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ Formosa còn tranh luận về một số đặc điểm, và vẫn còn là vấn đề để các nhà ngôn ngữ học hiện đại nghiên cứu. Nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo thường được xếp vào trong nhánh Đông Formosa của Blust do chúng chia sẻ việc đồng nhất âm Nam Đảo nguyên thủy *t, *C thành /t/ và *n, *N thành /n/, chúng thay đổi *S thành /h/, và các tư vựng như *lima "năm" mà không được chứng thực trong các ngôn ngữ Formosa khác.

Có vẻ như đã có hai cuộc di cư vĩ đại của ngôn ngữ Nam Đảo và nó đã nhanh chóng bao phủ một khu vực rộng lớn. Đầu tiên là nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo phân bố đến Philippines, Indonesia, và Melanesia. Các ngôn ngữ thuộc Hệ ngôn ngữ Trung Mã Lai-Đa Đảo cũng tương tự như nhau sau không phải vì mối quan hệ phả hệ chặt chẽ, mà bởi chúng phản ánh sự tác động nền tảng mạnh mẽ của các ngôn ngữ phi Nam Đảo. Cuộc di cư thứ hai là các ngôn ngữ châu Đại Dương mở rộng đến PolynesiaMicronesia(Greenhill, Blust & Gray 2008).

Ngoài Mã Lai-Đa Đảo, mười ba hệ ngôn ngữ Formosa được chấp thuận rộng rãi. Cuộc tranh luận giữa các nhà ngôn ngữ học chủ yếu xoay quanh mối quan hệ giữ các hệ ngôn ngữ này. Trong một số phương pháp phân loại được trình bày trong bài, Bản mẫu:Harvcoltxt liên kết hai hệ ngôn ngữ vào nhóm Đồng bằng phía Tây, hai hệ nữa vào nhóm Tây Bắc Formosa, và ba hệ nữa vào nhóm Đông Formosa, trong khi Bản mẫu:Harvcoltxt liên kết năm hệ vào một nhóm Bắc Formosa. Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo (2008) chấp thuận nhóm phía Bắc, từ chối nhóm phía Đông, liên kết TsouRukai (hai ngôn ngữ khác nhau khá lớn), và liên kết nhóm Mã Lai-Đa Đảo với nhóm Paiwan thành nhóm Paiwan. Bản mẫu:Harvcoltxt chia tách nhóm Tsou, và lưu ý rằng Tsou, Rukai, và Puyama nằm ngoài việc phục dựng lại tiếng Nam Đảo nguyên thủy.

Các nghiên cứu khác trình bày về bằng chứng âm vị học để bác bỏ việc nhóm Paiwan gồm Paiwan, Puyuma, Bunun, Amis, và Mã Lai-Đa Đảo, song điều này không được phản ánh trong từ vựng. Những người nói tiếng Đông Formosa như Basay, Kavalan, và Amis cùng chia sẻ một câu chuyện rằng họ có nguồn gốc từ một hòn đảo gọi là Sinasay hay Sanasay (Li 2004). Người Amis, đặc biệt, vẫn duy trì quan niệm rằng họ đến từ phía đông, và bị người Puyuma đối xử như là một nhóm phục tùng(Taylor 1888).[4]

Blust (1999)[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ ngôn ngữ Formosa trước khi người Hán chinh phục, theo Blust (1999).
Nam Đảo

(theo chiều kim đồng hồ từ tây nam)

   Tsou

   Các đồng bằng phía Tây

   Tây Bắc Formosa

   Atayal

   Đông Formosa

   Bunun

   Rukai

  • (Mantauran, Tona, và các phương ngữ Maga bị phân tách)

   Puyuma

   Paiwan (cực nam Formosa)

   Mã Lai-Đa Đảo

Lý Nhâm Quý (2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Formosan languages 2005.png
Các hệ ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan trước khi người Hán chinh phục, theo Lý Nhâm Quý (2008). Các ngữ hệ màu lục (Bunun, Puyuma, Paiwan) có thể tạo thành một nhánh Nam Formosa, song điều này không chắc chắn.

Cách phân loại của Lý giữ lại nhóm Đông Formosa của Blust, và kết hợp hai hệ ngôn ngữ miền Bắc khác. Lý Nhâm Quý đề xuất một tổ tiên ngôn ngữ Formosa nguyên thủy (F0) tương đương với Nam Đảo nguyên thủy (PAN), theo mô hình của Starosta (1995).[5][6] Rukai và Tsou được xem là rất khác biệt,[5] mặc dù vị trí của nhóm Rukai là điều gây tranh cãi.[7]

Cơ sở dữ liệu từ vựng cơ bản Nam Đảo (2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ ngôn ngữ Formosa tại Đài Loan trước khi người Hán chinh phục, theo Austronesian Basic Vocabulary Database (Greenhill, Blust & Gray 2008).

Nghiên cứu này giữ nhóm Bắc Formosa của Lý Nhâm Quý, song tách nhóm Đông Formosa của Blust, và đề xuất Paiwan có thể là nhóm gần nhất với Mã Lai-Đa Đảo. Nó cũng kết hợp TsouRukai, hai ngôn ngữ khác biệt nhất theo Lý Nhâm Quý.

Nam Đảo

   Kavalan

   Bắc Formosa

   Ami

  • Sakizaya
  • Nataoran (Bắc Amis)
  • Amis

   Bunun

   Tsou–Rukai

   Siraya

  • Siraya (Taivoan, Makatao dialects)

   Puyuma

   Paiwan

Ross (2009)[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngữ hệ Formosa tại Đài Loan trước khi người Hán chinh phục, theo Ross (2009).

Năm 2009, Malcolm Ross đã đề xuất một cách phân loại mới cho Ngữ hệ Nam Đảo dựa trên bằng chứng hình thái học từ các ngôn ngữ Formosa khác nhau.[8] Ông đề xuất rằng hiện nay thì việc tái dựng ngôn ngữ Nam Đảo nguyên thủy thực sự tương ứng với một giai đoạn trung gian, mà ông gọi với thuật ngữ "Nam Đảo hạt nhân nguyên thủy". Đáng chú ý, cách phân loại của Ross không ủng hộ tính thống nhất của hệ ngôn ngữ Tsou, thay vào đó, ông coi hệ ngôn ngữ Nam Tsou gồm Kanakanavu và Saaroa là một nhánh riêng biệt. Điều này ủng hộ tuyên bố của Chang (2006) rằng Tsou không phải là một nhóm hợp lý.[9]

Nam Đảo

   Rukai

  • (các phương ngữ Mantauran và Tona–Maga phân biệt)

   Puyuma

   Tsou

   Nam Đảo hạt nhân

Các ngôn ngữ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ với trên 4 triệu người nói bản địa
Các ngôn ngữ chính thức

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blevins, Juliette (2007), “A Long Lost Sister of Proto-Austronesian? Proto-Ongan, Mother of Jarawa and Onge of the Andaman Islands”, Oceanic Linguistics 46 (1): 154–198, doi:10.1353/ol.2007.0015 
  2. ^ Official Oxford English Dictionary (OED2). Nhà xuất bản Đại học OxfordPress. 1989. tr. 22000.  Đã bỏ qua tham số không rõ |country= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |subject= (trợ giúp)
  3. ^ (Austronesian Basic Vocabulary Database
  4. ^ "The Tipuns... are certainly descended from emigrants, and I have not the least doubt but that the Amias are of similar origin; only of later date, and most probably from the Mejaco Simas [that is, Miyako-jima], a group of islands lying 110 miles to the North-east.... By all accounts the old Pilam savages, who merged into the Tipuns, were the first settlers on the plain; then came the Tipuns, and a long time afterwards the Amias. The Tipuns, for some time, acknowledged the Pilam Chief as supreme, but soon absorbed both the chieftainship and the people, in fact the only trace left of them now, is a few words peculiar to the Pilam village, one of which, makan (to eat), is pure Malay. The Amias submitted themselves to the jurisdiction of the Tipuns."
  5. ^ a ă Li, Paul Jen-kuei. 2008. "Time perspective of Formosan Aborigines." In Sanchez-Mazas, Alicia ed. Past human migrations in East Asia: matching archaeology, linguistics and genetics. Taylor & Francis US.
  6. ^ Starosta, S. 1995. "A grammatical subgrouping of Formosan languages." In P. Li, Cheng-hwa Tsang, Ying-kuei Huang, Dah-an Ho, and Chiu-yu Tseng eds. Austronesian Studies Relating to Taiwan, pp. 683–726, Taipei: Institute of History and Philology, Academia Sinica.
  7. ^ "The position of Rukai is the most controversial: Tsuchida... treats it as more closely related to Tsouic languages, based on lexicostatistic evidence, while Ho... believes it to be one of the Paiwanic languages, i.e. part of my Southern group, as based on a comparison of fourteen grammatical features. In fact, Japanese anthropologists did not distinguish between Rukai, Paiwan and Puyuma in the early stage of their studies" (Li 2008: 216).
  8. ^ Ross, Malcolm. 2009. "Proto Austronesian verbal morphology: A reappraisal." In Alexander Adelaar and Andrew Pawley (eds.). Austronesian historical linguistics and culture history: a festschrift for Robert Blust. Canberra: Pacific Linguistics.
  9. ^ Chang, Henry Yungli. 2006. "Rethinking the Tsouic Subgroup Hypothesis: A Morphosyntactic Perspective." In Chang, H., Huang, L. M., Ho, D. (eds.). Streams converging into an ocean: Festschrift in honor of Professor Paul Jen-Kuei Li on his 70th birthday. Taipei: Institute of Linguistics, Academia Sinica.
  10. ^ Educational characteristics of the Filipinos

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bellwood, Peter (July năm 1991). “The Austronesian Dispersal and the Origin of Languages”. Scientific American 265 (1): 88–93. doi:10.1038/scientificamerican0791-88. 
  • Bellwood, Peter (1997). Prehistory of the Indo-Malaysian archipelago. Honolulu: University of Hawai'i Press. 
  • Bellwood, Peter (1998). “Taiwan and the Prehistory of the Austronesians-speaking Peoples”. Review of Archaeology 18: 39–48. 
  • Bellwood, Peter; Fox, James; Tryon, Darrell (1995). The Austronesians: Historical and comparative perspectives. Department of Anthropology, Australian National University. ISBN 0-7315-2132-3. 
  • Bellwood, Peter & Alicia Sanchez-Mazas (June năm 2005). “Human Migrations in Continental East Asia and Taiwan: Genetic, Linguistic, and Archaeological Evidence”. Current Anthropology 46 (3): 480–484. doi:10.1086/430018. 
  • Blench, Roger (June 10–13, 2004). "Stratification in the peopling of China: how far does the linguistic evidence match genetics and archaeology?" (PDF) in Human migrations in continental East Asia and Taiwan: genetic, linguistic and archaeological evidence.. 
  • Blevins, Juliette (2007). “A Long Lost Sister of Proto-Austronesian? Proto-Ongan, Mother of Jarawa and Onge of the Andaman Islands”. Oceanic Linguistics 46 (1): 154–198. doi:10.1353/ol.2007.0015. 
  • Blundell, David. “Austronesian Dispersal”. Newsletter of Chinese Ethnology 35: 1–26. 
  • Blust, Robert (1985). “The Austronesian Homeland: A Linguistic Perspective”. Asian Perspectives 26: 46–67. 
  • Blust, Robert (1999). “Subgrouping, circularity and extinction: some issues in Austronesian comparative”. Trong Zeitoun, E.; Li, P.J.K. Selected papers from the Eighth International Conference on Austronesian Linguistics. Taipei: Academia Sinica. tr. 31–94. 
  • Comrie, Bernard (2001). “Languages of the world”. Trong Aronoff, Mark; Rees-Miller,, Janie. The Handbook of LinguisticsLanguages of the world. Oxford: Blackwell. tr. 19–42. 
  • Diamond, Jared M (2000). “Taiwan's gift to the world” (PDF). Nature 403 (6771): 709–10. doi:10.1038/35001685. PMID 10693781. 
  • Dyen, Isidore (1965). “A Lexicostatistical classification of the Austronesian languages”. International Journal of American Linguistics (Memoir 19). 
  • Fox, James J. (19–20 August 2004). "Current Developments in Comparative Austronesian Studies" (PDF) in Symposium Austronesia Pascasarjana Linguististik dan Kajian Budaya.. 
  • Fuller, Peter (2002). “Reading the Full Picture”. Asia Pacific Research. Canberra, Australia: Research School of Pacific and Asian Studies. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2005. 
  • Greenhill, S.J.; Blust, R.; Gray, R.D (2008). “The Austronesian Basic Vocabulary Database: From Bioinformatics to Lexomics”. Evolutionary Bioinformatics 4: 271–283. .
  • “Homepage of linguist Dr. Lawrence Reid”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2005. 
  • Li, Paul Jen-kuei (2004). “Origins of the East Formosans:Basay, Kavalan, Amis, and Siraya”. Language and Linguistics 5 (2): 363–376. 
  • Li, Paul Jen-kuei (17–20 January 2006). "The Internal Relationships of Formosan Languages" (PDF) in Tenth International Conference on Austronesian Linguistics (ICAL).. 
  • Lynch, John, Malcolm Ross and Terry Crowley (2002). The Oceanic languages. Richmond, Surrey: Curzon Press. 
  • Melton T., Clifford S., Martinson J., Batzer M., & Stoneking M. (1998). “Genetic evidence for the proto-Austronesian homeland in Asia: mtDNA and nuclear DNA variation in Taiwanese aboriginal tribes”. American Journal of Human Genetics 63 (6): 1807–23. doi:10.1086/302131. PMC 1377653. PMID 9837834. 
  • Ostapirat, Weera (2005). “Kra–Dai and Austronesian: Notes on phonological correspondences and vocabulary distribution”. Trong Laurent Sagart, Roger Blench & Alicia Sanchez-Mazas. The Peopling of East Asia: Putting Together Archaeology, Linguistics and Genetics. London: Routledge Curzon. tr. 107–131. 
  • Peiros, Ilia (June 10–13, 2004). "Austronesian: What linguists know and what they believe they know" in the workshop on Human migrations in continental East Asia and Taiwan.. 
  • Ross, Malcolm & Andrew Pawley (1993). “Austronesian historical linguistics and culture history”. Annual Review of Anthropology 22: 425–459. doi:10.1146/annurev.an.22.100193.002233. OCLC 1783647. 
  • Ross, John (2002). “Final words: research themes in the history and typology of western Austronesian languages”. Trong Wouk, Fay; Ross, Malcolm. The history and typology of Western Austronesian voice systems. Canberra: Pacific Linguistics. tr. 451–474. 
  • Sagart, Laurent (8–11 January 2002). "Sino-Tibeto-Austronesian: An updated and improved argument" (PDF) in Ninth International Conference on Austronesian Linguistics (ICAL9).. 
  • Sagart, Laurent (2004). “The higher phylogeny of Austronesian and the position of Tai–Kadai”. Oceanic Linguistics (43): 411–440. 
  • Sagart, Laurent (2005). “Sino-Tibeto-Austronesian: An updated and improved argument”. Trong Blench, Roger; Sanchez-Mazas, Alicia. The Peopling of East Asia: Putting Together Archaeology, Linguistics and Genetics. London: Routledge Curzon. tr. 161–176. 
  • Sapir, Edward (1968). “Time perspective in aboriginal American culture: a study in method”. Trong Mandelbaum, D.G. Selected writings of Edward Sapir in language, culture and personality. Berkeley: University of California Press. tr. 389–467. 
  • Taylor, G. (1888). “A ramble through southern Formosa”. The China Review 16: 137–161. 
  • Terrell, John Edward (December năm 2004). “Introduction: 'Austronesia' and the great Austronesian migration”. World Archaeology 36 (4): 586–590. doi:10.1080/0043824042000303764. 
  • Thurgood, Graham (1999). From Ancient Cham to Modern Dialects. Two Thousand Years of Language Contact and Change. Oceanic Linguistics Special Publications No. 28. Honolulu: University of Hawai'i Press. 
  • Trejaut JA, Kivisild T, Loo JH, Lee CL, He CL (2005). “Traces of archaic mitochondrial lineages persist in Austronesian-speaking Formosan populations” (PDF). PLoS Biol 3 (8): e247. doi:10.1371/journal.pbio.0030247. PMC 1166350. PMID 15984912. 
  • Wouk, Fay and Malcolm Ross, eds. (2002), The history and typology of western Austronesian voice systems. Pacific Linguistics. Canberra: Australian National University.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bengtson, John D., The "Greater Austric" Hypothesis, Association for the Study of Language in Prehistory.
  • Blust, R. A. (1983). Lexical reconstruction and semantic reconstruction: the case of the Austronesian "house" words. Hawaii: R. Blust.
  • Cohen, E. M. K. (1999). Fundaments of Austronesian roots and etymology. Canberra: Pacific Linguistics. ISBN 0-85883-436-7
  • Marion, P., Liste Swadesh élargie de onze langues austronésiennes, éd. Carré de sucre, 2009
  • Pawley, A., & Ross, M. (1994). Austronesian terminologies: continuity and change. Canberra, Australia: Dept. of Linguistics, Research School of Pacific and Asian Studies, The Australian National University. ISBN 0-85883-424-3
  • Sagart, Laurent, Roger Blench, and Alicia Sanchez-Nazas (Eds.) (2004). The peopling of East Asia: Putting Together Archaeology, Linguistics and Genetics. London: RoutledgeCurzon. ISBN 0-415-32242-1.
  • Tryon, D. T., & Tsuchida, S. (1995). Comparative Austronesian dictionary: an introduction to Austronesian studies. Trends in linguistics, 10. Berlin: Mouton de Gruyter. ISBN 110127296
  • Wittmann, Henri (1972). "Le caractère génétiquement composite des changements phonétiques du malgache." Proceedings of the International Congress of Phonetic Sciences 7.807-10. La Haye: Mouton.
  • Wolff, John U., "Comparative Austronesian Dictionary. An Introduction to Austronesian Studies", Language, vol. 73, no. 1, pp. 145–56, Mar 1997,ISSN-0097-8507

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]