Nauru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ripublik Naoero
Flag of Nauru.svg 85px
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Nauru
Khẩu hiệu
God's Will First
Quốc ca
Nauru Bwiema
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
Tổng thống Marcus Stephen
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anhtiếng Nauru
Thủ đô Yaren 1
0°32′N, 166°55′Đ
Thành phố lớn nhất Yaren
Địa lý
Diện tích 21 km²
Múi giờ UTC+12
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2010) 9.322 người (hạng 219)
Mật độ 621 người/km² (hạng 10)
Kinh tế
GDP (PPP) (2001) Tổng số: 36,9 Triệu đô la Mỹ
Đơn vị tiền tệ Đô la Úc (AUD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .nr
1Yaren là khu lớn nhất và được coi là thủ đô. Nauru là quốc gia duy nhất trên thế giới không có thủ đô chính thức.

Tọa độ: 0°31′38″N 166°56′12″Đ / 0,527288°N 166,936724°Đ / -0.527288; 166.936724 Nauru (phát âm /nɑːˈʊəruː/ (Speaker Icon.svg listen) nah-OO-roo), tên chính thức là Cộng hoà Nauru trước đây có tên Đảo Pleasant, là một quốc đảo thuộc Micronesia nằm ở Nam Thái Bình Dương. Nơi gần nhất với nước này là Đảo Banaba thuộc Kiribati, khoảng 300 km về phía đông. Nauru là quốc đảo nhỏ nhất thế giới với diện tích 21 kilômét vuông (8,1 sq mi).[1]

Hòn đảo là nơi định cư của người MicronesiaPolynesia, và vào cuối thế kỷ 19 Nauru bị sát nhập làm một phần thuộc địa của Đế chế Đức. Sau Thế chiến thứ nhất, Nauru trở thành lãnh thổ uỷ trị bởi Úc, New Zealand, và Vương quốc Anh. Trong suốt Thế chiến II, Nauru bị chiếm đóng bởi người Nhật và sau đó là lực lượng Đồng Minh trong khi tiến qua Thái Bình Dương, và sau khi chiến tranh kết thúc, nước này lại trở về tình trạng uỷ trị.[2] Nauru tuyên bố độc lập vào năm 1968.

Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, kinh tế Nauru dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nauru là một đảo đá phosphate lộ thiên, cho phép các hoạt động khai thác diễn ra thuận lợi. Hòn đảo này là nhà xuất khẩu chủ yếu phosphate bắt đầu vào năm 1907, khi công ty Pacific Phosphate bắt đầu hoạt động ở đây, thông qua sự thành lập Uỷ ban Phosphate Anh vào năm 1919, và tiếp tục hoạt động sau khi nước này giành được độc lập. Nauru nắm quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động khai thác mỏ thông qua Tập đoàn Phosphate Nauru, cho đến khi trữ lượng cạn kiệt trong thập niên 1980.[3] Nhờ nguồn lợi tức này, Nauru nhanh chóng trở thành quốc gia có chủ quyền đạt được thu nhập bình quân đầu người cao trên thế giới trong khoảng cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Khi trữ lượng phosphate bị cạn kiệt, đi cùng với nó là môi trường cũng bị huỷ hoại nghiêm trọng vì hoạt động khai thác mỏ, một quỹ được thành lập để quản lý nguồn tài sản của hòn đảo đang dần giảm giá trị. Để có thu nhập, chính phủ đã phải viện đến những biện pháp khác thường. Trong thập niên 1990, Nauru nhanh chóng trở thành một trung tâm ẩn trú thuếrửa tiền.Từ năm 2001 đến năm 2008, nước này chấp nhận sự giúp đỡ của chính phủ Úc trong việc xây dựng Trung tâm tạm giam Nauru nhằm giam giữ và xử lý những người tìm cách xâm nhập Australia trái phép.[4]

Từ tháng 12, 2005 đến tháng 9, 2006, Nauru trở nên cô lập một phần với thế giới khi hãng hành không duy nhất của quốc gia này là Air Nauru bị ngừng hoạt động. Cách tiếp cận duy nhất khi đó đến Nauru là qua các tàu biển. Sau đó hoạt động của hãng đã được phục hồi dưới các tên mới là Our Airline nhờ tiền trợ giúp từ Đài Loan. Hòn đảo có một sân bay là Sân bay Quốc tế Nauru.

Mục lục

Lịch sử [sửa]

Bài chi tiết: Lịch sử Nauru
Trong năm 1943, Không quân Hoa Kỳ đã ném bom các sân bay Nhật Bản trên đảo Nauru, phá hủy khoảng 15 máy bay chiến đấu của Nhật Bản
Chiến binh Nauru, 1880

Nauru được định cư đầu tiên bởi những người Micronesia và Polynesia vào khoảng ít nhất 3.000 năm trước đây.[3]

Đảo Nauru do thuyền trưởng người Anh, John Fearn, phát hiện năm 1798, thuộc quyền sở hữu của Đức từ năm 1888. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Nauru trở thành xứ ủy trị của Anh, bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1947, Liên Hiệp Quốc ủy quyền cho Úc cai quản đảo này. Nauru trở thành quốc gia độc lập từ năm 1968 và gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1999.

Nguồn tài nguyên phosphat bị các công ti nước ngoài khai thác cạn kiệt. Nauru kiện lên Tòa án Quốc tế đòi các nước khai thác trong thời kì chiếm đóng phải bồi thường. Năm 1993, Úc đồng ý trả mỗi năm là 2,5 triệu đô la Úc trong vòng 20 năm. New ZealandAnh cũng đồng ý trả một lần với số tiền là 12 triệu USD. Phosphat rớt giá, giá vé các tuyến bay quốc tế cao, chính phủ quản lí tài chính yếu kém làm kinh tế suy sụp trong những năm cuối thập niên 1990 và đất nước hầu như trong tình trạng vỡ nợ.

Năm 2000, nhóm các nước G8 gây áp lực với Nauru đòi xem xét lại hệ thống ngân hàng vì có liên quan đến việc rửa tiền của bọn tội phạm Nga. Tháng 9 năm 2001, Nauru đồng ý tiếp nhận 3 chiếc thuyền chở người tị nạn người châu Á định vào Úc. Bù lại, chính quyền Úc cung cấp cho Nauru 20 triệu USD cùng những khoản tài chính khích lệ vì đã giúp giải quyết vấn đề người tị nạn.

Chính trị [sửa]

Quốc hội Nauru

Nauru là một quốc gia cộng hòa với chế độ nghị viện. Cứ ba năm một lần, người dân lại đi bầu Quốc hội Nauru gồm 18 thành viên. Sau đó, Quốc hội sẽ bầu Tổng thống trong số 18 người này. Tổng thống vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ (với 5 hoặc 6 thành viên nội các).

Hiện nay có 4 chính đảng đang hoạt động ở Nauru gồm Đảng Dân chủ, Đảng Đầu tiênĐảng Trung tâm, Đảng Nauru.

Đối ngoại [sửa]

Sau khi độc lập vào năm 1968, Nauru gia nhập Khối thịnh vượng chung Anh và trở thành một thành viên đầy đủ vào năm 2000.[5] Nauru đã công nhận là thành viên của Ngân hàng Phát triển châu Á vào năm 1991 và Liên Hợp Quốc vào năm 1999. Nauru là còn là thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương, Chương trình môi trường khu vực Nam Thái Bình Dương, Ủy ban Nam Thái Bình Dương, và Ủy ban Ứng dụng Khoa học Địa chất Nam Thái Bình Dương. Chương trình đo lường bức xạ khí quyển của Mỹ có một cơ sở theo dõi khí hậu trên Nauru.

Nauru và Úc có quan hệ gần gũi ngoại giao với nhau từ nhiều năm nay. Ngoài ra các thoả thuận quốc phòng chính thức, các biên bản ghi nhớ đã được ký kết giữa Nauru và Úc vào tháng 9 năm 2005. Sự hiểu biết giữa hai nước cũng đã cung cấp cho Nauru nguồn viện trợ tài chính và hỗ trợ kỹ thuật, bao gồm đào tạo một Bộ trưởng Tài chính cho Nauru, và các cố vấn về y tếgiáo dục từ Úc.[6] Nauru sử dụng đồng đô la Úc là tiền tệ chính thức của mình. Nauru đã sử dụng vị trí thành viên của mình tại Liên Hiệp Quốc để đạt được sự hỗ trợ tài chính từ cả Đài LoanCộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng cách thay đổi công nhận từ Đài Loan sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Nauru đã ký một thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 21 tháng 7 năm 2002. Nauru đã nhận được 130 triệu USD từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho hành động này. Để đáp lại, Đài Loan đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Nauru hai ngày sau đó. Nauru sau đó lại thành lập liên kết ngoại giao với Đài Loan vào ngày 14 tháng 5 năm 2005.[7] và các quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chính thức cắt đứt vào ngày 31 tháng 5 năm 2005. Tuy nhiên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn tiếp tục duy trì một văn phòng đại diện ở Nauru. Tương tự như vậy trong năm 2008, Nauru công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập tách khỏi Serbia. Sau đó, trong năm 2009, Nauru trở thành quốc gia thứ tư, sau khi Nga, NicaraguaVenezuela công nhận khu vực ly khai của GruziaAbkhazia. Nga đã viện trợ cho Nauru 50 triệu đô la với việc này.[8] Ngày 15 tháng 7 năm 2010, chính phủ Nauru đã công bố một chương trình nâng cấp cảng biển quốc tế của mình sẽ hoàn thành vào đầu năm 2011. Chương trình được tài trợ 9 triệu USD từ Nga. Chính phủ Nauru tuyên bố viện trợ này không liên quan đến công nhận AbkhaziaNam Ossetia.[9]

Hành chính [sửa]

Bản đồ Nauru

Nauru được chia thành 8 khu vực bầu cử với 14 quận bao gồm:

   

Địa lí [sửa]

Đảo quốc thuộc quần đảo Polynesia, nằm ngay dưới phía Nam Xích đạo, cách đảo Honolulu khoảng 4.023 km, ở giữa MicronesiaKiribati thuộc vùng Đông Nam của quần đảo Micronesia. Lãnh thổ gồm một vỉa san hô ngầm bao bọc quanh đảo và các bãi cát ven biển tiếp nối với dải đồng bằng hẹp và vùng cao nguyên trung tâm.

Khí hậu [sửa]

Nhiệt đới, gió mùa; mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 2. Nhiệt độ trung bình: 28oC. Lượng mưa trung bình: khoảng 2.500 mm.

Kinh tế [sửa]

Kinh tế chủ yếu dựa vào đánh bắt cá và khai thác phốt phát (gần như đã cạn kiệt).

Xuất khẩu phốt phát là nguồn thu nhập chính của đảo này, nhưng nguồn phốt phát đang bị cạn kiệt. Nhờ có phốt phát nên Nauru có thu nhập bình quân theo đầu người thuộc loại cao nhất trong các nước thế giới thứ ba. Do ít có các nguồn tài nguyên khác nên hầu hết các nhu cầu thiết yếu đều phải nhập khẩu (trong đó có nước sạch phải nhập từ Úc). Việc phục hồi lại các vùng đất trước đây là khu vực mỏ và tìm nguồn thay thế cho nguồn thu từ phốt phát (mở các dịch vụ tàu biển, hàng không) là những vấn đề lớn có tính lâu dài ở đảo quốc này.

Dân cư [sửa]

Dân số Nauru hiện nay khoảng 11.800 người. Bao gồm các sắc tộc chính : người Nauru (58%), người các đảo khác thuộc Thái Bình Dương (26%), người Trung Quốc (8%), người châu Âu (8%).

Ngôn ngữ : tiếng Nauru là ngôn ngữ chính thức, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.

Có 2 tôn giáo chính : Tin Lành chiếm trên 65% dân số, Công giáo Rôma 35%.

Văn hóa [sửa]

Quan hệ quốc tế [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ CIA World Fact Book URL Accessed 2 May 2006
  2. ^ “Historia — Nauru — Onet.pl — WIEM Lajt”. Lajt.onet.pl. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  3. ^ a b Nauru Department of Economic Development and Environment. 2003. First National Report To the United Nations Convention to Combat Desertification (UNCCD). Retrieved 2006-05-03.
  4. ^ “Australia ends 'Pacific Solution'”. BBC News. 8 tháng 2 năm 2008. 
  5. ^ Republic of Nauru Permanent Mission to the United Nations[liên kết hỏng] URL Accessed 10 May 2006
  6. ^ Nauru (High Court Appeals) Act (Australia) 1976.
  7. ^ AAP. 14 May 2005. Taiwan Re-establishes Diplomatic Ties with Nauru URL Accessed 5 May 2006 [liên kết hỏng]
  8. ^ Harding, Luke (14 tháng 12 năm 2009). “Tiny Nauru struts world stage by recognising breakaway republics”. London: The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  9. ^ “Nauru expects to earn more from exports after port upgrade with Russian aid”. Wellington: Radio New Zealand International. 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 

Liên kết ngoài [sửa]