Sydney

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

:Bài này nói về thành phố Sydney của Úc. Xin xem Sydney (định hướng)Sidney cho các nghĩa khác

Sydney
New South Wales
Sydney skyline at dusk - Dec 2008.jpg
Nhà hát Opera SydneySydney CBD lúc hoàng hôn
Dân số: 4.504.469 [1] (nhất)
Mật độ dân số: 2.058 /km2 (5.330/sq mi) (2006)[2]
Thiết lập: 26 tháng 1, 1788
Tọa độ: 33°51′35,9″N 151°12′40″Đ / 33,85°N 151,21111°Đ / -33.85000; 151.21111Tọa độ: 33°51′35,9″N 151°12′40″Đ / 33,85°N 151,21111°Đ / -33.85000; 151.21111
Diện tích: 12.144,6 km2 (4.689,1 sq mi)
Múi giờ:

 • Mùa hè (DST)

AEST (UTC+10)

AEDT (UTC+11)

Vị trí:
Chính quyền
địa phương
:
nhiều (38)
Quận: Cumberland[3]
Vùng cử tri
tiểu bang:
nhiều (49)
Vùng cử tri
liên bang:
nhiều (22)
Nhiệt độ tối đa Nhiệt độ tối thiểu Mực nước mưa
21.7 °C
71 °F
13.8 °C
57 °F
1.213,4 mm
47,8 in

Thành phố Sydney là thành phố lớn nhất, nổi tiếng nhất và lâu đời nhất của nước Úc. Sydney cũng là thủ phủ của tiểu bang New South Wales. Dân số của Sydney là 4.198.543 người (2003).

Nằm ở bờ biển phía đông của Úc, thành phố được thiết lập vào năm 1788 tại Sydney Cove bởi Arthur Phillip người dẫn đầu Đoàn tàu Thứ nhất (First Fleet) đến từ Anh.

Được xây dựng xung quanh cảng Jackson với cảnh đẹp nổi tiếng, thành phố Sydney được gọi là "Thành phố Cảng". Đây là trung tâm tài chính lớn nhất của Úc và cũng là một địa điểm du lịch của khách quốc tế, nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp và kiến trúc đôi: Nhà hát opera Sydney (Sydney Opera House) và Cầu Cảng (Harbour Bridge).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Sydney đã được sinh sống bởi thổ dân Úc ít nhất là khoảng 30.000 năm, và vào thời điểm Đoàn tàu Thứ nhất cập bến vào năm 1788, 4000-8000 người đang sinh sống tại khu vực này. Có ba nhóm thổ dân với ngôn ngữ khác nhau tại khu vực Sydney; những ngôn ngữ này lại trở thành những thổ ngữ bởi các bộ lạc nhỏ hơn. Ngôn ngữ chính là Darug, (Cadigal, những thổ dân nguyên thủy của thành phố Sydney sử dụng thổ ngữ vùng biển Darug), Dharawal và Guringai. Mỗi bộ lạc có một lãnh địa riêng; vị trí của lãnh địa được xác định bởi các nguyên vật liệu có sẵn nơi đó. Mặc dù sự đô thị hóa đã tiêu diệt hầu hết các chứng cớ của các vùng dân cư đó, các bản khắc trên đá vẫn tồn tại ở một số nơi.

Người châu Âu để ý đến Úc từ khi Đô đốc James Cook nhìn thấy Vịnh Botany vào năm 1770. Dưới chỉ thị của chính quyền Anh, một khu di dân cho những người tội phạm được thiết lập bởi Arthur Phillip vào năm 1788. Phillip thành lập khu dân cư tại Sydney Cove trên cảng Jackson. Ông ta đặt tên nơi đó theo tên của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Anh, Lord Thomas Townshend của Sydney, để công nhận vai trò của Lord Sydney trong việc giúp cho Phillip có giấy phép thành lập khu thuộc địa. Vào tháng 4 năm 1789 một dịch bệnh, được nghĩ là đậu mùa, đã làm giảm dân số thổ dân ở Sydney; một ước tính khiêm tốn là vào khoảng 500 đến 1000 thổ dân chết do nhiễm bệnh trong khu vực Broken và Botany Bay.

Có một sự nổi dậy vũ trang chống lại dân Anh, bởi những chiến binh Pemulwuy trong khu vực xung quanh Vịnh Botany, và những trận đánh nhỏ xảy ra khá phổ biến ở khu vực quanh sông Hawkesbury. Đến 1820 chỉ còn lại vài trăm thổ dân và Thống đốc Macquarie đã bắt đầu những hoạt động "văn minh hóa và giáo dục" thổ dân bằng cách đuổi họ đi khỏi bộ lạc.

Nhiệm kì mà Macquarie là Thống đốc của bang New South Wales là giai đoạn mà Sydney được nâng cấp từ buổi ban đầu sơ khai. Đường sá, cầu cống, các bến phà và các tòa nhà chính phủ được xây dựng lên bởi những phạm nhân, và đến năm 1822 thành phố đã có ngân hàng, các chợ, các đường phố lớn và sở cảnh sát có tổ chức. Những năm của thập kỉ 1830thập kỉ 1840 là giai đoạn phát triển đô thị, bao gồm sự phát triển của các khu ngoại thành đầu tiên, vì thành phố phát triển nhanh chóng khi những đoàn tàu từ eo biển Anh bắt đầu đến với những di dân tìm cách bắt đầu một đời sống mới ở một đất nước mới. Những cuộc đổ xô đi tìm vàng đầu tiên bắt đầu vào 1851, và cảng Sydney từ đó đã chứng kiến nhiều làn sóng người nhập cư từ khắp các nơi trên thế giới. Sự phát triển của các khu ngoại thành bắt đầu phát triển vào phần tư cuối cùng của thế kỉ 19 với sự phát minh của các xe lửa và xe điện chạy bằng động cơ hơi nước. Với sự công nghiệp hoá, Sydney mở rộng một cách nhanh chóng, và vào đầu thế kỉ 20 thành phố đã có dân số trên 1 triệu người. Khủng hoảng lớn Great Depression đã tác động đến Sydney một cách tồi tệ. Tuy nhiên, một trong những điểm sáng của thời Khủng hoảng là sự hoàn thành của cầu cảng Sydney Sydney Harbour Bridge vào năm 1932.

Trong suốt thế kỉ 20 Sydney tiếp tục mở rộng với nhiều làn sóng di cư khác nhau từ châu Âu và sau đó là từ châu Á, kết quả là thành phố có một không khí quốc tế. Phần đông dân Sydney có nguồn gốc Anh hoặc là Ireland. Những người mới đến sau này bao gồm từ các nước Ý, Hy Lạp, Israel, Liban, Cộng hoà Nam Phi, Nam Á (Ấn Độ, Sri LankaPakistan), Sudan, Thổ Nhĩ Kỳ, Macedonia, Croatia, Serbia, Nam Mỹ (Brasil, Chile, Argentina), Armenia, Đông Âu (Cộng hoà Séc,Ba Lan, Nga, Ukraina, Hungary) và Đông Á (bao gồm Trung Quốc, Triều TiênViệt Nam).

Toàn cảnh Port Jackson

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh của Sydney chụp bởi vệ tinh RS của NASA. Trung tâm thành phố khoảng 1/3 trên đường xuống bờ phía nam của ngõ vào phía trên.

Sydney tọa lạc trên một vùng đồng bằng trầm tích ven biển giữa Thái Bình Dương về phía đông và Blue Mountains về phía tây. Thành phố có vịnh biển tự nhiên lớn nhất thế giới, cảng biển Jackson, và hơn 70 vịnh và bãi biển, bao gồm cả bãi biển Bondi nổi tiếng. Khu vực nội thành của Sydney có diện tích 1687 km² (651 mi²) và giống như London mở rộng. Khu vực đô thị (Theo Sở thống kê Sydney) là 12.145 km² (4.689 mi²); một phần lớn của khu vực này là công viên quốc gia và các vùng đất chưa bị đô thị hóa.

Sydney chiếm hai khu vực địa lý: đồng bằng Cumberland, một vùng đồi thoai thoải tương đối bằng phẳng nằm về phía nam và tây của vịnh biển, và đồng bằng Hornsby, một đồng bằng về phía bắc của vịnh, cao trên 389 mét (1276 ft), được chia cắt bởi các thung lũng với các cánh rừng. Phần xưa nhất của thành phố nằm ở khu vực bằng phẳng; đồng bằng Hornsby, được gọi là North Shore, phát triển chậm hơn bởi vì địa hình nhiều đồi của nó, và là một vùng khá im lặng cho đến khi cầu cảng Sydney (Sydney Harbour Bridge) được xây vào năm 1932, nối nó với phần còn lại của thành phố.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sydney có cận nhiệt đới với những mùa hè ấm áp và với mùa đông mát mẻ, với lượng mưa trải đều trong năm. Thời tiết ôn hòa bởi ở gần đại dương, và các nhiệt độ khắc nghiệt hơn được ghi lại ở các vùng ngoại ô phía tây sâu trong lục địa. Tháng ấm nhất là tháng giêng, với nhiệt độ không khí trung bình trên bờ biển là 18,6–25,8°C và trung bình có 14.6 ngày trong năm nhiệt độ bên trên 30 °C. Nhiệt độ cao nhất được ghi lại là 45,3 °C vào ngày 14 tháng 1 năm 1939 vào cuối của một làn sóng nhiệt 4 ngày trên toàn quốc.[4] Mùa đông hơi mát, với nhiệt độ ít khi nào xuống thấp hơn 5 °C trong các khu vực ven biển. Tháng lạnh nhất là tháng 7, với trung bình xê xích 8,0–16,2 °C. Nhiệt độ thấp nhất được ghi lại là 2,1 °C.

Lượng mưa được chia khá đều giữa mùa hèmùa đông, nhưng cao hơn một ít trong suốt nửa đầu của năm, khi gió phía tây thổi nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm, điều hòa ít biến động, là 1217.0 mm, rơi trên trung bình là 138,0 ngày trong 1 năm.[5][6]. Tuyết rơi lần cuối cùng ở khu vực thành phố Sydney là vào thập niên 1830[7].

Mặc dù thành phố không chịu bão nhiệt đới hay các trận động đất lớn, hiệu ứng El Niño đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định khuôn mẫu thời tiết của Sydney: hạn hán và cháy rừng một mùa, và mưa bão và lụt lội mùa còn lại, liên hệ với các pha trái ngược nhau của sự dao động. Rất nhiều khu vực của thành phố giáp với các khu rừng bụi rậm đã bị ảnh hưởng bởi cháy rừng, đáng kể nhất là trong năm 1994 và 2002 – những lần này thường xảy ra vào mùa xuân hay mùa hè. Thành phố cũng thường bị mưa đá và bão lớn. Một cơn bão như vậy xảy ra ở các vùng ngoại vi phía đông Sydney vào buổi tối 14 tháng 4 năm 1999, tạo ra các hạt mưa đá lớn với các hạt đường kính ít nhất 9 cm và kết quả là bảo hiểm tốn khoảng $1,5 tỉ trong dưới 1 giờ.

Các nghiên cứu gần đây bởi các khoa học gia nghiên cứu về khí hậu tại Đại học Macquarie cho rằng việc khai phá đất ở phía tây Sydney đã góp phần vào những thay đổi lớn trong khí hậu của thành phố[8].

Trong bảng dưới đây, các giá trị từng tháng là trung bình trên giá trị của từng ngày trong tháng đó.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Sydney
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỷ lục °C (°F) 45.3 (114) 42.1 (108) 39.8 (104) 33.9 (93) 30.0 (86) 26.9 (80) 25.9 (79) 31.3 (88) 34.6 (94) 38.2 (101) 41.8 (107) 42.2 (108) 45,3 (114)
Trung bình tối cao °C (°F) 25.9 (79) 25.7 (78) 24.7 (76) 22.4 (72) 19.4 (67) 16.9 (62) 16.3 (61) 17.8 (64) 19.9 (68) 22.1 (72) 23.6 (74) 25.2 (77) 21,7 (71)
Trung bình tối thấp °C (°F) 18.7 (66) 18.8 (66) 17.5 (64) 14.7 (58) 11.5 (53) 9.3 (49) 8.0 (46) 8.9 (48) 11.0 (52) 13.5 (56) 15.6 (60) 17.5 (64) 13,8 (57)
Thấp kỷ lục °C (°F) 10.6 (51) 9.6 (49) 9.3 (49) 7.0 (45) 4.4 (40) 2.1 (36) 2.2 (36) 2.7 (37) 4.9 (41) 5.7 (42) 7.7 (46) 9.1 (48) 2,1 (36)
Lượng mưa mm (inch) 102.0 (4) 117.9 (4.6) 129.4 (5.1) 126.4 (5) 120.7 (4.8) 130.6 (5.1) 97.3 (3.8) 81.2 (3.2) 69.1 (2.7) 77.6 (3.1) 83.1 (3.3) 77.9 (3.1) 1.212,5 (47,7)
Nguồn: Bureau of Meteorology[9] 11 tháng 12 năm 2009.

Cấu trúc đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Khu cao ốc thương mại North Sydney
Sydney nhìn từ trên không

Khu vực rộng lớn bao phủ bởi nội thành Sydney chính thức được chia ra thành hơn 300 khu vực (cho mục đích địa chỉ và bưu điện), và được quản lý như là 38 khu vực hành chính địa phương (thêm vào nhiều trách nhiệm của Bang New South Wales và các sở)[10]. Bản thân Thành phố Sydney bao phủ một khu vực khá nhỏ bao gồm khu thương mại trung tâm và các khu vực trong thành phố. Thêm vào đó, có một số miêu tả từng vùng được sử dụng không chính thức để chỉ một phần lớn của khu đô thị. Tuy nhiên phải để ý rằng có nhiều khu vực không được bao phủ bởi cách chia vùng không chính thức bên dưới đây. Những vùng này là: Eastern Suburbs, Hills District, Inner West, Lower North Shore, Northern Beaches, North Shore, Southern Sydney, South-eastern Sydney, South-western Sydney, Sutherland ShireWestern Sydney.

Khu thương mại trung tâm Sydney (Central Business District CBD) mở rộng về phía nam vào khoảng 2 kilômét (1.25 mi) từ Sydney Cove, địa điểm cư trú đầu tiên của di dân châu Âu. Các tòa nhà cao ốc tập trung dày đặc và các tòa nhà khác bao gồm những tòa nhà lịch sử như Sydney Town HallQueen Victoria Building được xen kẽ bởi các công viên như WynyardHyde Park. Khu Sydney CBD được bao bọc phía đông bởi một dãy các công viên kéo dài từ Hyde Park cho đến the DomainRoyal Botanic Gardens đến Farm Cove trên vịnh biển. Phía tây được bao bởi Darling Harbour, một nơi thu hút nhiều khách du lịch và các hộp đêm trong khi Nhà ga trung tâm đánh dấu đầu cuối phía nam của CBD. George Street được xem là đường chính chạy dọc bắc-nam của khu Sydney CBD.

Mặc dù CBD chiếm hầu hết thương mại và đời sống văn hóa của thành phố trong các năm về trước, các khu thương mại/văn hóa khác đã phát triển theo theo kiểu nở rộng ra từ Thế chiến thứ hai. Kết quả là, tỷ lệ các công việc cổ trắng nằm ở khu CBD đã giảm từ 60% vào cuối Thế chiến thứ hai đến dưới 30% in 2004[cần dẫn nguồn]. Cùng với khu thương mại ở North Sydney, liên kết với CBD bởi Harbour Bridge, khu thương mại lớn nhất ở bên ngoài là Parramatta ở vùng trung-tây, Blacktown phía tây, Bondi Junction phía đông, Liverpool ở tây nam, Chatswood về phía bắc và Hurstville về phía nam.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành phần kinh tế lớn nhất ở Sydney, được đo bằng số lượng người được nhận việc, bao gồm các dịch vụ thương mại và địa ốc, buôn bán sĩ, sản xuất và dịch vụ sức khỏe và cộng đồng[11]. Kể từ thập niên 1980, các công việc đã di chuyển từ sản xuất sang các khu vực dịch vụ và thông tin.

Sydney là một trung tâm tài chính và thương mại lớn nhất ở Úc và cũng là một trung tâm tài chính quan trọng ở vùng châu Á Thái Bình Dương[12]. Thị trường chứng khoán ÚcNgân hàng trung ương Úc tọa lạc ở Sydney, cũng như là tổng hành dinh của 90 ngân hàng và trên phân nửa các công ty hàng đầu của Úc, và các trụ sở trong khu vực của khoảng 500 công ty đa quốc gia[13]. 20th Century Fox cũng có những phim trường lớn ở Sydney.

Sydney Futures Exchange (SFE) là một thị trường tài trao đổi futuresoptions tài chính lớn nhất châu Á - Thái Bình Dương, với 64,3 triệu hợp đồng được trao đổi trong năm 2005. Theo thứ tự toàn cầu nó là thị trường futures lớn thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 19 nếu tính luôn cả options[14]. Với vai trò thương mại tăng dần của Sydney nhiều phòng thí nghiệm y khoa và trung tâm nghiên cứu, khoa học và nghiên cứu là một lĩnh vực khác với nhiều tăng trưởng mạnh[cần dẫn nguồn].

Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế của Sydney, với 7,8 triệu du khách nội địa và 2,5 triệu du khách quốc tế trong năm 2004[15].

Tính vào tháng 9 năm 2003, tỉ lệ thất nghiệp ở Sydney là 5,3%[16]. Theo The Economist Intelligence Unit's Worldwide khảo sát về giá cả sinh hoạt, Sydney là thành phố đắt thứ 16 trên thế giới, trong khi một khảo sát của UBS xếp hạng Sydney thứ 26 trên thế giới tính theo thu nhập[17].

Tính vào tháng 12 năm 2005, Sydney có giá nhà trung bình cao nhất trong các thành phố thủ phủ các tiểu bang với giá $485.000[18]. Một báo cáo xuất bản bởi OECD vào tháng 11 năm 2005, cho thấy Úc có giá nhà cao nhất phương Tây khi so với những tiền lời đem lại từ việc thuê nhà[19].

Thành phố này đã được xếp loại là một thành phố toàn cầu "Alpha+" bởi Mạng lưới nghiên cứu toàn cầu hóa và các thành phố trên thế giới[20].

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lịch sử, Sydney được quản lý bởi Cumberland County (1945-1964). Ngày nay không có một cơ quan quản lý chung cho toàn bộ khu đô thị (metropolitan) của Sydney. Những công việc địa phương được điều hành bởi các cơ quan gọi là nhà nước địa phương (local government area- LGA). Những khu vực này đều đã bầu lên một hội đồng và họ có trách nhiệm trên một loạt các chức năng khác nhau được giao bởi chính quyền của tiểu bang New South Wales.

Thành phố Sydney bao gồm khu thương mại trung tâm và một số khu nội thành lân cận, và trong những năm gần đây đã được mở rộng thông qua sự sát nhập với các khu vực nhà nước lân cận, chẳng hạn như khu Nam Sydney. Nó được đứng đầu bởi Thị trưởng Sydney được bầu lên và một hội đồng. Thị trưởng, tuy nhiên, đôi khi được đối xử như là đại diện cho toàn thành phố.

38 khu nhà nước địa phương (LGA) trong Sydney là:

Đa số các hoạt động nhà nước tầm cỡ thành phố được quản lý bởi nhà nước tiểu bang. Những thứ này bao gồm phương tiện vận chuyển công cộng, các đường chính, điều khiển giao thông, cảnh sát, giáo dục trên mức nhà trẻ, và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. Bởi vì phần lớn dân số New South Wales sống ở Sydney, nhà nước tiểu bang theo truyền thống rất miễn cưỡng trong việc cho phép những cơ quan nhà nước cấp thành phố, mà sẽ trở thành những cơ quan cạnh tranh với nhà nước tiểu bang. Bởi vì lý do này, Sydney luôn luôn là tiêu điểm về chính trị của cả tiểu bang và Quốc hội liên bang. Chẳng hạn, biên giới của các vùng nhà nước địa phương (LGA) của thành phố Sydney đã bị thay đổi đáng kể bởi các nhà nước tiểu bang ít nhất là bốn lần từ năm 1945, với những hiệu quả đem lại những thuận lợi dự đoán được cho đảng cầm quyền ở New South Wales Parliament vào thời điểm đó.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Sydney mở từ năm 1850 là đại học cổ xưa nhất của Úc

Sydney là nơi của một vài trường đại học nổi tiếng nhất của nước Úc, và là nơi của trường đại học đầu tiên trên nước Úc, Đại học Sydney, thiết lập vào năm 1850[21]. Có năm trường đại học công khác hoạt động chủ yếu ở Sydney: Đại học New South Wales, Đại học Macquarie, Đại học Kỹ thuật Sydney, Đại học Tây SydneyĐại học Catholic Úc (2 trong số 6 campus). Các đại học khác có campus thứ hai ở Sydney bao gồm Đại học Notre Dame ÚcĐại học Wollongong.

Có 4 trường dạy nghề (Technical and Further Education - TAFE) đa campus được nhà nước tài trợ ở Sydney cung cấp việc đào tạo nghề nghiệp ở bậc cao đẳng: Viện kỹ thuật Sydney, Học viện TAFE Bắc Sydney, Học viện TAFE Tây SydneyHọc viện TAFE Tây Nam Sydney.

Sydney có các trường công, trường dòng, và trường tư. Các trường công, bao gồm mẫu giáo, tiểu học và trung học, và các trường đặc biệt được quản lý bởi Bộ Giáo dục và đào tạo New South Wales. Có 4 khu vực giáo dục được quản lý bởi nhà nước tiểu bang ở Sydney, cùng nhau quản lý 919 trường học[cần dẫn nguồn]. Trong 30 trường trung học tuyển chọn trong tiểu bang, 25 trường đó là nằm ở Sydney.

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhân khẩu học Sydney
Mười quốc gia có cộng đồng hải ngoại đông nhất[22]
Quốc gia nơi sinh ra Dân số (2006)
Liên hiệp Anh 175,166
CHDCND Trung Hoa 109,142
New Zealand 81,064
Việt Nam 62,144
Liban 54,502
Ấn Độ 52,975
Philippines 52,087
Ý 44,563
Hồng Kông 36,866
Hàn Quốc 32,124
Dân số Sydney
theo năm
1800 3,000
1820 12,000
1851 39,000
1871 200,000 (bùng nổ)
1901 500,000
1925 1.000.000
1962 2.000.000
2001 3.366.542
2006 4.119.190
2008 4.399.722
2010 4.504.469
2026 5.487.200 (dự báo)[23]
2056 7.649.000 (dự báo)[23]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Regional Population Growth, Australia, 2007-08”. Australian Bureau of Statistics. 2008. 23 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ Australian Bureau of Statistics (17 tháng 3 năm 2008). “Explore Your City Through the 2006 Census Social Atlas Series”. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008. 
  3. ^ Note: Counties are seldom used in Australia except for some land valuation purposes. Most residents do not know that counties exist.
  4. ^ Bureau of Meteorology. 2006. Climate summary for Sydney, tháng 1 năm 2006
  5. ^ Australian Bureau of Meteorology. 2005. Climate averages.
  6. ^ Ellyard, D. 1994. Droughts and Flooding Rains. Angus & Robertson ISBN 0-207-18557-3
  7. ^ MacDonnell, Freda. Thomas Nelson (Australia) Limited, 1967. Before King’s Cross
  8. ^ Sydney Morning Herald, June 29 2004. Climate change link to clearing.
  9. ^ Bản mẫu:BoM Aust stats
  10. ^ Department of Local Government. Local Council Boundaries Sydney Outer (SO)
  11. ^ Australian Bureau of Statistics. 2002. Sydney - Basic Community Profile and Snapshot - 2001 Census
  12. ^ Daly, M. T. and Pritchard, B. 2000. Sydney:Australia's financial and commercial capital. In J. Connell (Ed.). Sydney the emergence of a global city. pp 76-95. Oxford University Press ISBN 0-19-550748-7, pp 167-188
  13. ^ City Commerce - City of Sydney Media Centre. Truy cập 21 July, 2006.
  14. ^ Overview, Sydney Futures Exchange website, accesssed 3 July 2006
  15. ^ Tourism NSW. 2004.Tourism Data Card - Forecasts, Economic Impacts and selected Regional Data - 2004
  16. ^ Australian Bureau of Statistics. 2005. Sydney Statistical Division.
  17. ^ Richest Cities CityMayors.com, truy cập 3 July 2006
  18. ^ Real Estate Institute of Australia. December 14 2005. Still strong confidence in the housing market, Press Release
  19. ^ Boilling, M. February 2 2006. City among most costly, Herald Sun
  20. ^ Beaverstock, J.V. et al A Roster of World Cities
  21. ^ The Australian Education Network University and College Guide. 2005. Rankings of Australian universities.
  22. ^ Australian Bureau of Statistics (25 tháng 10 năm 2007). “Community Profile Series : Sydney (Statistical Division)”. 2006 Census of Population and Housing. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 
  23. ^ a ă http://www.abs.gov.au/Ausstats/abs@.nsf/mf/3222.0

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]