Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hangeul.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 / 大韓民國 (tiếng Triều Tiên)
Daehan Minguk (tiếng Triều Tiên)
Flag of South Korea.svg Emblem of South Korea.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Hàn Quốc
Khẩu hiệu
홍익인간
(Hong-i Gin-gan, Hoằng Ích Nhân Gian 弘益人間)
Cống hiến cho hạnh phúc của nhân loại
Quốc ca

애국가
"Aegukga"
"Ái quốc ca"
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống Park Geun-hye
Thủ tướng Jung Hong-won
Lập pháp Quốc hội Hàn Quốc
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hàn
Thủ đô Seoul
37°35′B, 127°0′Đ
Thành phố lớn nhất Seoul
Địa lý
Diện tích 100,140 km²
Diện tích nước 0,3% %
Múi giờ Giờ tiêu chuẩn Triều Tiên (UTC+9)
Lịch sử
2333 TCN[1] Thành lập Cổ Triều Tiên
29 tháng 8, 1910 Bị Nhật chiếm đóng
1 tháng 3, 1919 Tuyên bố độc lập
13 tháng 4, 1919 Chính phủ lâm thời
15 tháng 8, 1945 Giải phóng, chia cắt Bắc Nam
17 tháng 7, 1948 Hiến pháp
15 tháng 8, 1948 Tuyên bố chính phủ
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 48.860.500[2] người (hạng 25)
Mật độ 500 người/km² (hạng 21)
Kinh tế
GDP (PPP) (2012) Tổng số: 1,614 ngàn tỉ đô la
GDP (danh nghĩa) (2012) Tổng số: 1,156 tỉ đô la[3] (hạng 15)
Bình quân đầu người: 23,113 đô la[3]
HDI (2013) Green Arrow Up Darker.svg 0,909[4] rất cao (hạng 12)
Chỉ số Gini (2007) 31,3[5] (thấp)
Đơn vị tiền tệ Đại Hàn Dân Quốc Weon (KRW)
Thông tin khác
Tên miền Internet .kr
Cách ghi ngày tháng yyyy년 mm월 dd일
yyyy/mm/dd (CE)
Lái xe bên Phải

Hệ thống điện thoại di động CDMA, WCDMA, HSDPA và WiBro
Điện dân dụng 220V/60 Hz, CEE 7/7 sockets

Hàn Quốc chụp từ vệ tinh vào tháng 1 năm 2004

Đại Hàn Dân Quốc (Tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk), gọi tắt là Hàn Quốc, còn gọi là Nam Hàn, Nam Triều Tiên, Đại Hàn, Cộng hòa Triều Tiên là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. phía bắc giáp với Bắc Triều Tiên. phía đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía tây là Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là Seoul, một trung tâm đô thị lớn thứ hai trên thế giới[6] và là thành phố toàn cầu quan trọng.[7] Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,032 km vuông. Với dân số 48 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ ba (sau BangladeshĐài Loan) trong số các quốc gia có diện tích đáng kể.[8]

Những chứng cứ khảo cổ học cho thấy bán đảo Triều Tiên đã có người sinh sống từ Thời đại đồ đá cũ.[9][10] Lịch sử Triều Tiên bắt đầu khi nước Cổ Triều Tiên thành lập 2333 TCN bởi Đàn Quân. Sau thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, Triều Tiên trải qua triều đại Cao Ly (Goryeo) và triều đại Triều Tiên (Joseon) trong một đất nước thống nhất cho đến cuối Đế quốc Đại Hàn năm 1910, khi đó Triều Tiên bị Nhật Bản sáp nhập. Sau khi được giải phóng và bị chia cắt vào cuối Đệ nhị Thế chiến, quốc gia này trở thành hai nước là Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc. Hàn Quốc được thành lập năm 1948 như một nền dân chủ. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc bằng hiệp định ngừng bắn. Kinh tế Hàn Quốc phát triển vượt bậc và trở thành một nên kinh tế lớn.[11]

Hàn Quốc hiện là một nước Dân chủ đầy đủ và theo chế độ cộng hòa tổng thống bao gồm 16 đơn vị hành chính. Hàn Quốc là một nước phát triển có mức sống cao, có nền kinh tế phát triển theo phân loại của Ngân hàng Thế giớiIMF.[12][13] Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và thứ 15 trên thế giới. Nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, tập trung vào hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu và rô-bốt. Hàn Quốc là thành viên của Liên hiệp quốc, WTO, OECDnhóm các nền kinh tế lớn G-20. Hàn Quốc cũng là thành viên sáng lập của APECHội nghị cấp cao Đông Á và là đồng minh không thuộc NATO của Hoa Kỳ. Gần đây, Hàn Quốc đã tạo ra và tăng cường sự phổ biến văn hóa đặc biệt là ở châu Á, còn được gọi là Làn sóng Hàn Quốc.[14][15]

Tên gọi

Hai tên gọi khác nhau Đại Hàn và Triều Tiên khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây được dịch giống nhau, ví dụ như trong tiếng Anh Đại Hàn và Triều Tiên đều dịch là "Korea", trong tiếng Pháp đều dịch là "Corée", trong tiếng Nga đều dịch là "Корея" (chuyển tả Latin: Koreya). Tên gọi chung chỉ cả Đại Hàn và Triều Tiên trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ tên gọi của vương quốc Cao Ly, quốc gia từng tồn tại trên bán đảo Triều Tiên từ Công nguyên năm 918 đến Công nguyên năm 1392. Thời Cao Ly tên gọi Cao Ly qua các thương nhân Ả-rập đã được truyền bá đến phương Tây.

Từ dân quốc (chữ Hán: 民國) trong Đại Hàn dân quốc (大韓民國) được vay mượn từ Trung Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây được dịch giống với cộng hoà quốc (共和國, nước cộng hoà), ví dụ như trong tiếng Anh dân quốc và cộng hoà quốc đều được dịch là "republic", trong tiếng Pháp đều được dịch là "républiqu", trong tiếng Nga đều được dịch là "республика" (chuyển tả Latin: respublika).

Trước đây quốc hiệu của Đại Hàn dân quốc được dịch qua các ngôn ngữ phương Tây sang tiếng Việt là "Cộng hoà Triều Tiên". Đại sứ quán Cộng hoà Triều Tiên trong công hàm số KEV-398 ngày 23 tháng 3 năm 1994 gửi Bộ Ngoại giao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đề nghị phía Việt Nam gọi Cộng hoà Triều Tiên là Đại Hàn dân quốc, gọi tắt là Hàn Quốc, không gọi là Cộng hoà Triều Tiên hoặc Nam Triều Tiên, Triều Tiên là tên gọi của miền bắc (tức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên). Bộ Ngoại giao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau đó ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi các cơ quan bộ, tổng cục, các cơ quan thông tin, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu từ nay gọi Nam Triều Tiên là Đại Hàn dân quốc, gọi tắt là Hàn Quốc, không dùng các tên gọi Cộng hoà Triều Tiên và Nam Triều Tiên nữa.[16]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Triều Tiên

Lịch sử Hàn Quốc trước năm 1945 được trình bày trong phần Lịch sử Triều Tiên. (Xin xem thêm bài Danh sách Tổng thống Hàn Quốc.)

Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Thế chiến thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về nam. Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Vào tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên hợp quốc. Tuy nhiên, Liên bang Xô viết đã khước từ việc tuân theo giải pháp này và từ chối những ảnh hưởng của Ủy ban Liên Hiệp Quốc đối với nửa phía nam của bán đảo.

Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.

Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Đại Hàn Dân Quốc ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.

Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, buộc tội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công—Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa KỳLiên Hiệp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc, còn đứng đằng sau Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên XôCộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày nay.

Gần 3 triệu người thiệt mạng hoặc bị thương và hàng triệu người khác mất nhà cửa hoặc chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh này.

Sau đó Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ ở miền nam và chọn con đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa còn Hàn Quốc coi chính phủ của mình là thực thể hợp pháp trên bán đảo Triều Tiên và sự thống nhất là sự mở rộng chủ quyền quốc gia. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991 cả hai nước được cả hai phe công nhận để chính thức gia nhập Liên hiệp quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp người dân Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 làm chết 2 triệu người thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc.

Tổng thống Lee Myung-Bak
Park Geun-hye con của Tổng thống Park Chung-hee và là nữ Tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc

Năm 1948, Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở khu vực nam bán đảo Triều Tiên và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc. Ông giữ cương vị này cho tới năm 1960. Chính phủ kế nhiệm của Trương Miễn (Chang-Myon) bị tướng Phác Chính Hy (Park Chung-hee) lật đổ vào năm 1961. 1963 Phác Chính Hy trở thành tổng thống. Năm 1979 Tổng thống Phác Chính Hy bị ám sát, một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị thiết quân luật.

Năm 1980 Chun Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Tới năm 1987 hiến pháp được sửa đổi, theo đó nhân dân Hàn Quốc lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Các tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987) và Kim Young-sam (1992). Năm 1997, Tổng thống Kim Dae-jung được trao giải Nobel hoà bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Năm 2003 học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm chức Tổng thống Hàn Quốc.

Hằng ngày vẫn có công dân biểu tình chính trị trước Nhà Xanh

Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ phi thường, đến giữa thập niên 1980 đã trở thành một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs). Năm 2004 GDP của Hàn Quốc là 680 tỉ USD (Đô la Mỹ), đứng thứ 12 trên thế giới. Thành công trong phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là "Kỳ tích sông Hàn".

Tái thống nhất (Tongil) với Bắc Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng vẫn chưa có hiệp định hoà bình nào được kí kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía CHDCND Triều Tiên. Tổng thống Roh Moo-hyun đã nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại nó vẫn chưa được thực thi.

Năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Cuộc gặp gỡ này được xem như thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ hai miền Triều Tiên.

Địa lý

Bản đồ Hàn Quốc
Bờ biển đảo Jeju.

Hàn Quốc nằm ở phần phía nam bán đảo Triều Tiên thuộc khu vực Đông Á. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông; vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và Nam. Bãi bồi ven biển Saemangeumbãi nổi ven biển lớn thứ hai thế giới.

Thành phố lớn nhất Hàn Quốc là Seoul (Hán Thành), dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người, nằm ở phía tây Bắc. Những thành phố lớn khác là Incheon (Nhân Xuyên) ở phía tây Seoul, Daejeon (Đại Điền) ở miền trung, Kwangju (Quang Châu) ở phía tây nam, Daegu (Đại Khâu) và Busan (Phủ San) ở phía đông nam.

Khí hậu

Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa được gọi là Jangma. Vào mùa đông nhiệt độ thường xuyên dưới 0°C và có thể xuống rất thấp. Gió mùa mang không khí lạnh từ Siberi thổi tới.

Đơn vị hành chính

Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị).

Tên Hangul Hanja âm Hán Việt Dân số
Thành phố đặc biệt (thủ đô) (Teukbyeolsi)
Seoul 서울특별시 서울特別市 Seoul đặc biệt thị 9,794,304
Thành phố lớn (Quảng vực thị) (Gwangyeoksi)
Busan 부산광역시 釜山廣域市 Phủ San quảng vực thị 3,635,389
Daegu 대구광역시 大邱廣域市 Đại Khâu quảng vực thị 2,512,604
Incheon 인천광역시 仁川廣域市 Nhân Xuyên quảng vực thị 2,628,000
Daejeon 대전광역시 大田廣域市 Đại Điền quảng vực thị 1,442,857
Gwangju 광주광역시 光州廣域市 Quang Châu quảng vực thị 1,456,308
Ulsan 울산광역시 蔚山廣域市 Uất Sơn quảng vực thị 1,087,958
Tỉnh (đạo) (Do)
Gyeonggi 경기도 京畿道 Kinh Kỳ đạo 10,415,399
Gangwon 강원도 江原道 Giang Nguyên đạo 1,592,000
Chungcheong Bắc 충청북도 忠淸北道 Trung Thanh Bắc đạo 1,462,621
Chungcheong Nam 충청남도 忠淸南道 Trung Thanh Nam đạo 1,840,410
Jeolla Bắc 전라북도 全羅北道 Toàn La Bắc đạo 1,890,669
Jeolla Nam 전라남도 全羅南道 Toàn La Nam đạo 1,994,287
Gyeongsang Bắc 경상북도 慶尙北道 Khánh Thượng Bắc đạo 2,775,890
Gyeongsang Nam 경상남도 慶尙南道 Khánh Thượng Nam đạo 2,970,929
Tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) (Teukbyeoljachi-do)
Jeju 제주특별자치도 濟州特別自治道 Tế Châu đặc biệt tự trị đạo 560,000
Thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị) (Teukbyeol-jachisi)
Sejong 세종특별자치시 世宗特別自治市 Thế Tông đặc biệt tự trị thị 122,263

Chính trị

Người đứng đầu Đại Hàn Dân quốc là Tổng thống do dân trực tiếp bầu ra mỗi năm năm một lần và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có quyền chỉ huy quân đội (tương đương chức: Tổng Tư lệnh). Thủ tướng do Tổng thống chỉ định và lãnh đạo chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do thủ tướng chỉ định. Chức vụ thủ tướng cũng như bộ trưởng phải được sự thông qua của quốc hội.

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện và được gọi là 국회 (國會, Gukhoe, Quốc hội). Đại biểu quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu.

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị Hàn Quốc là Toà án tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên phải được sự chấp thuận của tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Dân cư

Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số. Dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm khắc phục được khủng hoảng, vì vậy mà một số lượng lớn lao động từ các nước châu Á khác (như Philippines, Ấn Độ) cũng như từ các nước châu Phi đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm trong các nhà máy lớn. Một bộ phận không nhỏ người Hoa Kỳ cũng đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại một khu vực của thành phố Seoul có tên động Itaewon (Lê Thái Viện). Ở đây người ta cũng có thể tìm thấy một khu "làng Liên hiệp quốc" bên cạnh nhiều đại sứ quán và công ty nước ngoài.

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc sinh sống tại nước ngoài, ví dụ như tại Trung Quốc và nhiều nước vùng Trung Á. Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó. Trong thời kì bị Nhật đô hộ, một số người cũng đã bị đưa sang Nhật Bản. Sự bất ổn chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc nhiều người Hàn Quốc di cư sang CanadaHoa Kỳ. Từ khi tình hình trong nước trở lại ổn định, một số đã trở về quê hương (mang hai quốc tịch).

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Hàn Quốc
Hyundai, một trong bốn tập đoàn lớn của Hàn Quốc
Hàn Quốc dẫn đầu thế giới về công nghiệp bán dẫn

Hàn Quốc có một nền kinh tế thị trường trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng.

Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phichâu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới. Năm 2005 GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng 789 tỉ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỉ USD. Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (xếp thứ 33 và 34 thế giới). Năm 2010 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nưm 2010 tăng 6,2% cao hơn so với dự kiến sơ bộ đưa ra trước đó là 6,1%

Năm 1997, như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo, tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường dân chủ, phá bỏ quyền lực của các tài phiệt, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị - kinh doanh, mặt khác, đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy động quốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ. Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF. Dự trữ ngoại tệ đã đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003).

Từ những năm 1970 nhiều công ty lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới. Trong số đó có thể kể tới Samsung, Hyundai hay GM Daewoo. Việt Nam mới chỉ được làm quen với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương nghiệpbất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo đã phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ.

Hàn Quốc đã truy tố 100 người, trong đó có một cựu quan chức nhà nước hàng đầu trong vụ tham nhũng trong một vụ bê bối trên xác nhận an toàn giả mạo cho các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân của mình. Nền kinh tế lớn thứ tư châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì giống một nền văn hóa bí ẩn dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba điện của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng[17].

Văn hóa

Ngôn ngữ và chữ viết

Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum.

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào hệ ngôn ngữ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (language isolate). Kể từ bậc tiểu học, người ta bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này tiếng Trung Quốctiếng Nhật cũng trở thành ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Đứctiếng Tây Ban Nha ít phổ biến hơn.

Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangeul - chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 kí tự, 24 kí tự đơn và 27 kí tự kép. Những kí tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng có thể học xong).

Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ La tinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông ÁĐông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.

Văn học

Văn học Hàn Quốc có một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí được tổ chức tại các sân vận động.

Hwang Sok-Yong (1943) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất xứ Hàn. Ông đã trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên và từng tham chiến tại chiến tranh Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại.

Tôn giáo

Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử.[18] 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.

Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo.[19]

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 90.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.

Ẩm thực

Bibimbab - cơm trộn.

Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món kim chi, một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Đây là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitaminchất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước sốt truyền thống Hàn Quốc làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Bulgogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với súp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh súp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan.

Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap - có nghĩa là "cơm trộn" (cơm trộn với thịt, rau, tương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Một món ăn nhanh phổ biến ở Hàn Quốc là kimbab, gồm cơm trộn với rau và thịt cuộn trong lớp rong biển. Tuy ngày càng có nhiều thành phần thức ăn được cuộn trong kimbab nhưng cá dù sống hoặc chín vẫn hiếm khi được sử dụng, có lẽ do nguồn gốc kimbap là một món ăn cầm tay hoặc món ăn nhanh có thể gói lại mang đi, trong khi đó cá có thể nhanh chóng hư hỏng nếu không được đông lạnh.

Mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhẹ rất phổ biến. Người Hàn Quốc cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước sốt gochujang cay), khoai tây chiên mực và khoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.

Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và "nu lung ji" (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu lung ji hoặc đun với nước để tạo ra một món canh. Nu lung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.

Âm nhạc

K-Pop

Bài chi tiết: K-pop

K-Pop (viết tắt của Korean Pop, Pop Hàn Quốc) là dòng nhạc Pop ở Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của J-Pop (Pop Nhật).

Noraebang, karaoke của Hàn Quốc

Trong tiếng Triều Tiên không có từ nghĩa tương đương với karaoke. Thay vào đó, họ gọi loại hình giải trí này là norae (노래, tiếng hát). Các quán karaoke (노래방, noraebang) được tìm thấy ở khắp các ngóc ngách. Cả thanh niên lẫn người lớn tuổi đều mê loại hình giải trí này.

Điện ảnh

Kể từ thành công của phim Shiri 1999 ngành công nghiệp điện ảnh ở xứ Hàn có sự thăng tiến không ngừng. Hiện nay Hàn Quốc là một trong số ít những nước mà các sản phẩm của Hollywood không có mấy ảnh hưởng. Điều này thể hiện qua việc tỉ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước cao hơn hẳn so với các tác phẩm điện ảnh nước ngoài.

Shiri là một bộ phim của đạo diễn Khương Đế Khuê (Kang Jae Gyu) nói về một nữ điệp viên Bắc Triều Tiên, người có nhiệm vụ tổ chức một vụ khủng bố tại Seoul. Chỉ tính riêng ở Seoul số lượng khán giả đến xem phim đã vượt quá con số 2 triệu, vượt xa các bộ phim khác như Ma trận (The Matrix), Titanic hay Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars). Ngân sách chi cho phim này chỉ khoảng 5 triệu USD, trong khi số tiền thu về chỉ riêng ở Hàn Quốc đã lên tới trên 60 triệu USD. Thành công này được lý giải là nhờ vào chi phí lớn nếu so với các bộ phim khác của Hàn Quốc.

Trong năm 2000, tiêu điểm dồn vào phim Vùng an ninh chung (Joint Security Area). Bộ phim kể về sự chia cắt Triều Tiên này thậm chí còn thành công hơn cả Shiri. Bạn (Friend) là bộ phim của năm 2001. Bộ phim hài lãng mạn Cô nàng ngổ ngáo (My Sassy Girl) còn được yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings) hay Harry Potter. Năm 2004 bộ phim Old Boy giành giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes và được bán cho nhiều nước. Sau khi dự liên hoan phim này, đạo diễn Quentin Tarantino đã phát biểu: "Những bộ phim hấp dẫn nhất thế giới hiện đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc."

Những thành công này khiến cho Hollywood phải chú ý. Những phim như Shiri giờ đây được bán ở cả Hoa Kỳ. Miramax đã mua bản quyền phim Vợ tôi là Gangster (My Wife is a Gangster), bộ phim còn trội hơn một số sản phẩm của Hollywood, và hiện đang làm lại bộ phim này để bán trên thị trường Mỹ. Những phim nổi tiếng khác như My Sassy Girl, Old Boy hay A Tale of Two Sisters (Câu chuyện hai chị em) cũng đang nằm trong tầm ngắm của các nhà làm phim người Mỹ.

Giống như ở nhiều nước châu Á khác, tại Việt Nam phim Hàn Quốc cũng giành được sự ưu ái đặc biệt. Ngoài những tác phẩm điện ảnh được chiếu ngoài rạp, những bộ phim truyền hình dài tập cũng thu hút một số lượng lớn khán giả. Những cái tên quen thuộc với người xem như Mối tình đầu (1996), Trái tim mùa thu (2000), Bản tình ca mùa đông (2002) hay Đại Trường Kim (Dae Jang Geum, 2003).

Những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng của Hàn Quốc: Bae Yong-jun, Song Hye-kyo, Song Seung-heon, Jang Dong-gun (Jang Dong Gun), Jang Na-ra, Won Bin, Lee Young Ae, Kwon Sang Woo, Choi Ji Woo, Park Chae-rim.

Các ngày lễ

Ngày Tên tiếng Việt Hangeul Phiên âm cách đọc Ghi chú
1 tháng 1 Tết Dương lịch    
1 tới 3 tháng 1 (âm lịch) Tết Nguyên Đán 설날 Seollal
1 tháng 3 Phong trào 1.3 3.1절 Samil Jeol Kỷ niệm ngày đòi độc lập của nhân dân Hàn Quốc 1.3.1919
5 tháng 4 Tết cây xanh 식목일 Singmogil
5 tháng 5 Tết thiếu nhi 어린이날 Eorininal
8 tháng 4 (âm lịch) Lễ Phật Đản 부처님 오신날 Bucheonim Osinnal Ngày sinh Đức Phật
6 tháng 6 Ngày tưởng niệm 현충일 Hyeonchung-il
17 tháng 7 Ngày lập hiến 제헌절 Jehyeonjeol 17.7.1948
15 tháng 8 Ngày độc lập 광복절 Gwangbokjeol Kỉ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật 15.8.1945
15 – 18 tháng 8 (âm lịch) Tết Trung Thu 추석 Chuseok
3 tháng 10 Ngày khai sinh dân tộc 개천절 Gaecheonjeol
25 tháng 12 Giáng sinh    

Giáo dục

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc gồm sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "Phí hỗ trợ hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.[20]

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù sinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc khắt khe và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) bị lên án như là một vấn đề lớn của xã hội. Tuy nhiên, sau khi sinh viên bước vào đại học, tình hình lại đảo ngược đáng kể.

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng đất nước này đã đi hơi quá trớn với nó, với 407 trường cao đẳng và đại học kết quả là học sinh tốt nghiệp quá nhiều kết quả là tỷ lệ thất nghiệp cao. Giáo dục đã trở thành một cống tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ tư châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra "thanh niên thất nghiệp tuổi 20". Chính phủ đã đưa tỷ lệ thất nghiệp cao trên danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng nhưng chương trình này không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp đóng một vai trò xây dựng hơn trong việc đào tạo trình độ nghề vì việc tập trung vào các trường khiến thiếu hụt trong lĩnh vực lao động thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư có tay nghề thấp[21].

Khoa học và công nghệ

Jikji, quyển sách xưa nhất được tìm thầy sử dụng phương pháp in thủ công dùng kim loại vào năm 1377. Bảo tàng Quốc gia Bibliothèque Paris.

Một trong những hiện vật nổi tiếng trong lịch sử của Hàn Quốc về khoa học và công nghệ là Cheomseongdae (첨성대, ), một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng năm 634.

Mẫu bản in khắc gỗ Hàn Quốc xưa nhất còn sót lại là Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mugujeonggwang.[22] Bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào năm 750-751 trước công nguyên, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn Kim cương Kinh. Tơ Cao Ly được người phương Tây đánh giá cao và đồ gốm Hàn Quốc làm bằng gốm men ngọc màu xanh dương-xanh lá có chất lượng cao nhất và các thương gia Ả Rập săn lùng. Cao Ly đã có một nền kinh tế tấp nập với thủ đô thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới ghé qua.

Trong thời kỳ Joseon những Geobukseon (tàu con rùa) được phát minh, sử dụng sàn gỗ và gai sắt,[23][24][25] cùng các vũ khí khác như bigyeokjincheolloe (비격진천뢰, ) và hwacha.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Thế Tông (Sejong) phát minh trong thời gian này.

Thể thao

Hàn Quốc có một nền thể thao tương đối mạnh ở châu Á và trên thế giới. Những môn thể thao mạnh là:

Các cầu thủ nổi tiếng: Ahn Jung Hwan (hiện chơi cho Yokohama City FC), Phác Trí Tinh (Manchester United FC), Lý Toán Thù (Lee Chun Soo), Từ Đảu Lý (Cha Doo Ri),...

Bóng chày được du nhập vào Triều Tiên năm 1905 và sau đó trở thành một môn thể thao được nhiều người xem ở Hàn Quốc.[26] Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng Olimpic Bắc Kinh 2008.[27]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988, quốc gia này được xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng.[27] và cũng xuất sắc trong các môn như bắn cung, bóng bàn, cầu lông, trượt băng ? (patinaje de velocidad sobre pista corta), bóng ném, hockey trên băng, đấu vật, bóng chày, judo, taekwondo, patincử tạ. Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010, các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc).[27]

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seun) và 2002 (Busan) và sẽ đăng cai tổ chức Đại hội này năm 2014 (Inchon).[28] Cũng đã đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Mùa đông châu Á 1999; và sự kiện thể thao liên minh các trường đại học Thế giới Universiada Mùa đông năm 1997 và Mùa hè 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 với Nhật Bản, và đội bóng đá của Quốc gia này trở thành đội đầu tiên thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á lọt vào vòng bán kết.[29]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Theo văn học truyền miệng
    Savada, Andrea Matles. South Korea: A Country Study. Diện tích handbook series. Federal Research Division, Library of Congress. Washington, D.C.:1992. p109
  2. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  3. ^ a ă “South Korea”. International Monetary Fund. April năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  4. ^ “2013 Human Development Report”. United Nations Publications. 14 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Gini index CIA World Fact Book
  6. ^ R.L. Forstall, R.P. Greene, and J.B. Pick, "Which are the largest? Why published populations for major world urban areas vary so greatly", City Futures Conference, (University of Illinois at Chicago, tháng 7 năm 2004) – Table 5 (p.34)
  7. ^ http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story_id=4509&page=1
  8. ^ Population density calculated using surface area and population figures from [1].
  9. ^ Ancient civilizations
  10. ^ http://www.opm.go.kr/warp/webapp/content/view?meta_id=english&id=35
  11. ^ http://www.britannica.com/EBchecked/topic/322280/South-Korea/34997/Economic-and-social-developments
  12. ^ Country Groups World Bank, Truy cập: 20 tháng 9 năm 2009
  13. ^ Country Composition of WEO Groups, International Monetary Fund, Truy cập: 20 tháng 9 năm 2009
  14. ^ http://www.korea.net/news/news/NewsView.asp?serial_no=20061127020&part=106&SearchDay=
  15. ^ http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2004-11/21/content_393440.htm
  16. ^ An Chi. Sông Hán và Hàn Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2012 [Ngày 28 tháng 8 năm 2013].
  17. ^ http://www.reuters.com/article/2013/10/10/us-korea-nuclear-idUSBRE99905O20131010
  18. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  19. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  20. ^ OECD.org
  21. ^ http://www.ft.com/cms/s/0/b5bb3868-3b36-11df-a1e7-00144feabdc0.html#axzz2uuPSZQOT
  22. ^ “Cultural Heritage, the source for Koreans' Strength and Dream”. Cha.go.kr. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  23. ^ Hawley, Samuel: The Imjin War. Japan's Sixteenth-Century Invasion of Korea and Attempt to Conquer China, The Royal Asiatic Society, Korea Branch, Seoul 2005, ISBN 89-954424-2-5, p.195f.
  24. ^ Turnbull, Stephen: Samurai Invasion. Japan’s Korean War 1592-98 (London, 2002), Cassell & Co ISBN 0-304-35948-3, p.244
  25. ^ Roh, Young-koo: "Yi Sun-shin, an Admiral Who Became a Myth", The Review of Korean Studies, Vol. 7, No. 3 (2004), p.13
  26. ^ KOIS (2003), pág. 632.
  27. ^ a ă â “Republic of Korea”. Olympic.org (bằng tiếng Anh). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |autor= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |fecha= (trợ giúp)
  28. ^ “Asian Games” (bằng tiếng Anh). Consejo Olímpico de Asia. Truy cập 16 tháng 11 năm 2010. 
  29. ^ “República de Corea: Clasificación Mundial/FIFA Coca Cola”. FIFA.com (bằng español). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |autor= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |fecha= (trợ giúp)

Liên kết ngoài