Richard Nixon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Richard M. Nixon
Nixon 30-0316a.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 20 tháng 1 năm 1969 – 9 tháng 8 năm 1974
Tiền nhiệm Lyndon B. Johnson
Kế nhiệm Gerald Ford
Phó tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ 20 tháng 1 năm 1953 – 20 tháng 1 năm 1961
Tiền nhiệm Alben Barkley
Kế nhiệm Lyndon B. Johnson
Thông tin chung
Đảng Cộng hoà
Sinh 9 tháng 1 năm 1913
Yorba Linda, California
Mất 22 tháng 4, 1994 (81 tuổi)
New York, New York
Tôn giáo Quaker
Vợ Thelma Catherine Patricia Ryan (Pat) Nixon
Chữ ký Richard Nixon Signature.svg
Binh nghiệp

Richard Milhous Nixon (9 tháng 1, 191322 tháng 4, 1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ nhiệm kì phục vụ từ 1969 đến 1974. Ông là Tổng thống duy nhất đã từ chức khỏi nhiệm sở.

Chuyến thăm ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Khi R. Nixon nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ, khoảng 300 lính Mỹ chết mỗi tuần tại Việt Nam. Nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Hoa Kỳ phản đối chiến tranh tại Việt Nam.

Chính quyền Johnson đã đồng ý đình chỉ vụ đánh bom tại Việt Nam trong cuộc trao đổi đàm phán, tuy nhiên chính quyền này không đưa ra bất kỳ điều kiện nào thỏa hiệp dừng tấn công bằng bom và nhưng thỏa thuận này vẫn có hiệu lực.

Theo Walter Isaacson, ngay sau khi nhậm chức, Nixon đã biết rằng chiến tranh Việt Nam không thể thắng Việt Minh nên ông muốn kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng. Ngược lại, Black cho rằng Nixon chân thành tin rằng ông có thể đe dọa miền Bắc Việt Nam thông qua "lý thuyết điên" (Madman theory). Nixon đã sắp xếp cho lực lượng Mỹ rút lui, rời khỏi miền Nam Việt Nam an toàn khỏi các cuộc tấn công của Việt Minh.

Vào giữa năm 1969, Nixon nỗ lực đàm phán hòa bình với miền Bắc, gửi một bức thư cá nhân đến ban lãnh đạo miền Bắc Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình bắt đầu tại Paris. Các cuộc đàm phán tại Paris vẫn không đưa đến thỏa thuận nào.

Vào tháng 7 năm 1969, Nixon đã đến thăm miền Nam Việt Nam, gặp bộ chỉ huy quân đội Mỹ và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong bối cảnh các cuộc biểu tình tại Mỹ yêu cầu ông rút quân Mỹ về nước ngay lập tức, ông thực hiện chiến lược thay thế quân đội Mỹ với quân đội Việt Nam, được gọi là "Chiến Lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh".

Ông sớm lập ra từng giai đoạn rút quân về Hoa Kỳ, một phần ông muốn thông đường từ Lào về miền Nam Việt Nam, một phần muốn làm gián đoạn các cuộc chiến tranh Việt Minh, ông sử dụng phương pháp này để cung cấp lực lượng Bắc Việt Nam về Nam Việt Nam, thông qua Lào và Cam-pu-chia.

Nixon tuyên bố cuộc xâm lược từ Cam-pu-chia với công chúng Mỹ vào 30 tháng 4 năm 1970. Nêu liên hành động và phản ứng của ông cho những người biểu tình trong cuộc họp buổi sáng xảy ra ngẫu nhiên tại Đài tưởng niệm Lincoln 09 tháng 5 năm 1970. Các tài liệu được phát hiện từ tài liệu của Liên Xô (1991): Bắc Việt Nam vào tràn ngập ở Campuchia vào năm 1970 đã bị Khmer Đỏ đưa ra những thỏa thuận và đàm phán bởi Pol Pot.

Quân Hoa Kỳ vẫn tiếp tục rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa, quân sự suy giảm dần và đỉnh điểm vào năm 1973, tuy nhiên vẫn còn nhiều quân Mỹ tại miền Nam trở thành tình nguyện viên cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau nhiều năm chiến đấu, Hiệp định Paris đã được ký kết vào đầu năm 1973. Thỏa thuận thực hiện lệnh ngừng bắn và rút hết số quân đội Mỹ còn lại, tuy nhiên, 160.000 quân Giải phóng của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập trước đó và kiểm soát nhiều vùng. Sau khi kết thúc viện trợ chiến đấu của Mỹ, đã có thỏa thuận ngừng bắn ngắn ngủi, sau đó quân Giải phóng nổi dậy, lần này không có sự tham gia viện trợ từ Mỹ, Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng sụp đổ và Việt Nam đi đến thống nhất sau năm 1975.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ Watergate[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vụ Watergate

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Nixon, Richard Milhous” ghi đè từ khóa trước, “Nixon, Richard”.