Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ
600px-Republicanlogo.svg.png
Tổng bí thư Michael Steele (MD)
Lãnh tụ Thượng viện Mitch McConnell (KY)
Lãnh tụ Hạ viện John Boehner (Chủ tịch) (OH)
Eric Cantor (Lãnh tụ đa số) (VA)
Chủ tịch Hiệp hội Thống đốc Haley Barbour (MS)
Trụ sở 310 First Street NE
Washington, D.C. 20003
Tổ chức thanh niên Thanh niên Cộng hòa, Thiếu niên Cộng hòa
Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị
Hiện đại:
Bảo thủ Mỹ
Bảo thủ xã hội
Bảo thủ tài khóa
Tự do kinh tế
Bảo thủ tự do

Lịch sử:
Giải phóng nô lệ
Tự do cổ điển
Phe phái nội bộ:
Bảo thủ
Cộng hòa ôn hòa
Cộng hòa tự do
Phe phái lịch sử:
Cộng hòa cấp tiến
Carpetbagger
Scalawags
Stalwarts
Half-Breeds
Cộng hòa Rockefeller

Thuộc tổ chức quốc tế Liên hiệp Dân chủ Quốc tế
Hoa Kỳ
Great Seal of the United States (obverse).svg

Chính trị và chính phủ
Hoa Kỳ

Đảng Cộng hòa (tiếng Anh: Republican Party, thường được gọi là GOP, viết tắt của "Grand Old Party") là một trong hai đảng chính trị lớn của hệ thống hai đảng của Hoa Kỳ, cùng với đảng Dân chủ. Đảng Cộng hòa được thiết lập vào năm 1854 bởi một tập hợp của các thành viên trước đây của Đảng Whig, Dân chủ Democrats miền Bắc, và Free-Soilers là những người chống lại sự bành trướng của chế độ nô lệ và có một phương hướng hiện đại hóa Hoa Kỳ. Đảng này khởi đầu đóng tại phía Đông bắc và trung tây, nhưng trong những thập kỉ gần đây đã chuyển về miền Tây trong lục địa, và đặc biệt là phía nam. Trong giai đoạn lịch sử hiện tại, Đảng Cộng hòa đã được thấy là bảo thủ hơn về mặt xã hội và tự do hơn về mặt kinh tế khi so sánh hai đảng chính.

Đảng Cộng hòa là đảng đứng thứ nhì tính vào năm 2004 với 55 triệu cử tri đăng ký, bao gồm khoảng một phần ba số cử tri.[1] Các cuộc thăm dò ý kiến gần đây cho thấy khoảng 20% đến 33% người Mỹ tự nhận là thành viên đảng Cộng hòa.[2][3][4][5][6]

Trong 43 người được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, 18 người là đảng viên Cộng hòa và 15 là đảng viên Dân chủ. Hiện tại Đảng Cộng hòa chiếm đa số tại Hạ viện Hoa Kỳ nhưng là khối thiểu số tại Thượng viện Hoa Kỳ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Abraham Lincoln là tổng thống Cộng hòa đầu tiên (1861–1865)

Được thành lập tại Ripon, Wisconsin trong năm 1854 bởi các nhà hoạt động chống chế độ nô lệ và những người muốn hiện đại hóa,[7] Đảng Cộng hòa đã nhanh chóng vượt qua Đảng Whig làm đảng chính đối lập Đảng Dân chủ.[8] Đảng này nắm quyền đầu tiên năm 1860 khi Abraham Lincoln, một cựu đảng viên của Đảng Whig, được bầu làm tổng thống và cầm quyền trong giai đoạn Nội chiếnThời kỳ tái thiết.[9][10]

Đảng đã bắt đầu thành lập vào cuối thập niên 1840, nhưng mãi đến việc chống đối Đạo luật Kansas-Nebraska thì đảng mới thống nhất.[11] Đại hội đảng chính thức đầu tiên diễn ra vào ngày 6 tháng 7 năm 1854 tại Jackson, Michigan.[12] Địa điểm hoạt động ban đầu của đảng là tại vùng Đông BắcTrung Tây, và nó dần dần củng cố vị trí là đảng thứ hai khi đảng đề cử John C. Fremont trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1856. Tư tưởng ban đầu của Đảng Cộng hòa được thể hiện qua khẩu hiệu free labor, free land, free men ("lao động tự do, đất đai miễn phí, con người tự do"). "Free labor" ("lao động tự do") chỉ đến niềm tin vào tầng lớp trung lưu đã rời tầng lớp lao động để tạo ra các doanh nghiệp nhỏ. "Free land" ("đất đai miễn phí") chỉ đến các nỗ lực làm thuật tiện các doanh nghiệp này bằng cách phân phát đất đai nhà nước cho người dân. Đảng Cộng hòa mong muốn rằng sự phát triễn này sẽ ngăn chận lại, và cuối cùng bãi bỏ chế độ nô lệ.[13] Abraham Lincoln nhận được đề cử của đảng Cộng hòa trong năm 1860 và sau đó thắng cử tổng thống. Đảng vẫn tham gia trong Liên bang miền Bắc trong thời kỳ Nội chiến và đã quản lý Thời kỳ Tái thiết. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1864, phần đông các đảng viên Cộng hòa đã thống nhất với các đảng viên Dân chủ ủng hộ cuộc chiến để đề cử Lincoln dưới phiếu của Đảng Liên hiệp Quốc gia. Một phần của các đảng viên Cộng hòa Cấp tiến đã rời khỏi đảng để thành lập Đảng Dân chủ Cấp tiến. Nhóm này chọn John C. Frémont làm ứng cử viên tổng thống trước khi đồng ý rút lui ra khỏi cuộc bầu cử vào tháng 9 năm 1864.

Sự thành công của đảng Cộng hòa đã tạo ra nhiều bè phái trong đảng trong thập niên 1870. Những người lo ngại với Ulysses S. Grant đã đề cử Horace Greeley làm tổng thống chống đối ông. Phe Stalwarts ủng hộ hệ thống bổng lộc; nhóm Half-Breeds kêu gọi cải tổ ngành dân chính. Nói chung đảng Cộng hòa ủng hộ tầng lớp thương gia, bảng vị vàng, thuế quan cao, lương hưu cao cho các cựu quân nhân miền Bắc, và việc sáp nhập Hawaii. Các đảng viên Cộng hòa cũng ủng hộ những nhà hoạt động Tin Lành đòi cấm bán rượu. Với nền kinh tế miền Bắc sau chiến tranh phát triển mạnh với ngành công nghiệp nặng và nhẹ, xe lửa, mỏ, thành phố tăng trưởng nhanh và nền nông nghiệp giàu có, đảng Cộng hòa hưởng công trạng và đảy mạnh các chính sách giữ vững tăng trưởng nhanh. Nhưng đến năm 1890, đảng Cộng hòa đã đồng ý thông qua Đạo luật Chống độc quyền ShermanỦy ban Thương mại Liên bang sau khi bị các doanh nhân và nông dân phàn nàn. Thuế quan McKinley trong năm 1890 đã làm tổn hại đảng và đảng Dân chủ đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa kỳ.

Tổng thống William Howard Taft.

Sau hai nhiệm kỳ của tổng thống Dân chủ Grover Cleveland, sự kiện William McKinley thắng cử cuộc bầu cử năm 1896, được xem là sự nổi dậy lại của Đảng Cộng hòa. McKinley hứa hẹn thuế quan cao để chấm dứt sự gian khổ do Khủng hoảng năm 1893 gây ra, và rằng Đảng Cộng hòa sẽ bảo đảm một hệ thống mà tất cả mọi nhóm sẽ có lợi. Đảng Cộng hòa củng cố địa vị đảng của doanh nghiệp, tuy được dịu bớt sau khi Theodore Roosevelt đưa ra các chính sách chống độc quyền. Sau này Roosevelt tranh cử dưới đảng Cấp tiến và vận động chống lại William Howard Taft, người kế nhiệm ông. Đảng Cộng hòa giữ chức tổng thống trong thập niên 1920, dưới cương lĩnh chống lại Hội Quốc Liên, thuế quan cao, và ủng hộ các quyền lợi của doanh nghiệp. Warren G. Harding, Calvin CoolidgeHerbert Hoover lần lượt được bầu cử làm tổng thống trong năm 1920, 1924, vav 1928. Vụ bê bối Teapot Dome đe dọa làm tổn hại đảng nhưng Harding qua đời và Coolidge đổ lỗi vào Harding, và các chống đối bị chia phối vào năm 1924. Các chính sách ủng hộ doanh nghiệp trong thập niên dường như đã tạo ra một sự giàu có chưa từng thấy cho tới khi Phố Wall bị sụp đổ vào năm 1929, bắt đầu cuộc Đại Khủng hoảng.

Liên minh New Deal của tổng thống Dân chủ Franklin D. Roosevelt thống trị chính trị Mỹ trong ba thập niên kế tiếp, trừ hai nhiệm kỳ của tổng thống Cộng hòa Dwight D. Eisenhower. Người Mỹ gốc Phi bắt đầu ủng hộ Đảng Dân chủ trong thời Roosevelt. Sau khi Roosevelt nhậm chức vào năm 1933, các đạo luật New Deal được nhanh chóng thông qua. Trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 1934, 10 thượng nghị sĩ cộng hòa bị thất cử, đưa đến một Thượng viện với 25 nghị sĩ Cộng hòa và 71 nghị sĩ Dân chủ. Hạ viện cũng bị chia tương tự. "New Deal thứ nhì" bị các dân biểu và nghị sĩ Cộng hòa chỉ trích nặng, họ ví nó với chiến tranh giai cấpchủ nghĩa xã hội. Các đảng viên Dân chủ bảo thủ, chủ yếu là từ miền Nam, liên minh với các đảng viên Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Robert Taft để tạo một liên hiệp bảo thủ, và thống trị các vấn đề quốc nội cho đến năm 1964.

Trong hậu phần thế kỷ 20, các tổng thống Cộng hòa Dwight D. Eisenhower, Richard Nixon, Gerald Ford, Ronald Reagan, George H. W. Bush, và George W. Bush thắng cử. Đảng Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của dân biểu phụ trách phe thiểu số Newt Gingrich, vận động dưới cương lĩnh Contract with America, giành được đa số ghế trong cả hai viện trong Quốc hội trong cuộc Cách mạng Cộng hòa năm 1994. Đảng Cộng hòa giành vị trí đa số cho đến khi Đảng Dân chủ giành lại vị trí đa số vào cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2006. Trong thế kỷ 21, Đảng Cộng hòa có cương lĩnh bảo thủ xã hội, chính sách ngoại giao chiến tranh ngăn chận để đánh bại chủ nghĩa khủng bố và xúc tiến dân chủ toàn cầu, một ngành hành pháp mạnh hơn, giảm thuế, quyền sở hữu súng và bớt quy định trong công nghiệp.

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, các ứng cử viên của đảng là John McCain từ Arizona, cho chức vụ tổng thống và Thống đốc Alaska Sarah Palin cho chức vụ phó tổng thống. Họ bị Nghị sĩ Barack ObamaJoe Biden đánh bại.

Trong cuộc Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 2012 các ứng cử viên của đảng là Mitt Romney từ Massachusetts (Và cũng là cựư thống đốc của tiểu bang này) cho chức vụ tổng thống và Paul Ryan là dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ cho chức vụ phó tổng thống. Họ bị đương kim Tổng Thống Barack Obama và đương kim Phó tổng thống Joe Biden đánh bại.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Al Neuharth (22 tháng 1 năm 2004). “Why politics is fun from catbirds' seats”. USA Today. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007. 
  2. ^ http://www.rasmussenreports.com/public_content/politics/mood_of_america/mood_of_america_archive/partisan_trends2/summary_of_party_affiliation
  3. ^ The Washington Post, "The Republican Shrinkage Problem", 4/29/2009, Accessed 6/15/2009
  4. ^ Politico, "Self-Identified Independents Surge in Poll", 5/26/09, Accessed 6/15/09
  5. ^ Washington Post-ABC News Poll, April 21-24 2009, Accessed 6/15/09
  6. ^ http://politicalticker.blogs.cnn.com/2009/10/21/steele-not-really-concerned-about-declining-gop-support/
  7. ^ Wyeth, Newton. Republican Principles and Policies: A Brief History of the Republican National Party. Harvard, MA: Republic Press, 1916. Print.
  8. ^ Rapaport, Ronald, and Walter Stone. Three's a crowd: the dynamic of third parties, Ross Perot, & Republican resurgence. 1st ed. University of Michigan Press, 2005 ISBN 0-472-11453-0, 9780472114535
  9. ^ Franklin, John Hope. Reconstruction after the Civil War. University of Chicago Press, 1995 ISBN 0-226-26079-8, 9780226260792
  10. ^ Foner, Eric. Politics and Ideology in the Age of the Civil War. Oxford University Press, 1981 ISBN 0-19-502926-7, 9780195029260
  11. ^ tr.168 Gienapp, William. The Origins of the Republican Party. 1989 ISBN 0-19-505501-2
  12. ^ p.43 Stocking, William. Under the oaks. Detroit: 1904.
  13. ^ Foner, Eric. Free soil, free labor, free men: the ideology of the Republican Party before the Civil War. 2nd. Oxford University Press, 1995 ISBN 0-19-509497-2, 9780195094978