Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ
Seal of the United States Supreme Court.svg
Chi tiết
Thành lập: Năm 1789
Khu vực
tài phán:
Hoa Kỳ Flag of the United States
Tọa lạc: Washington, D.C.
Bổ nhiệm bởi: Tổng thống sau khi được Quốc hội phê chuẩn
Ủy nhiệm bởi: Hiến pháp
Nhiệm kỳ thẩm phán: Trọn đời
Số lượng thẩm phán: 9
Website: Supreme Court of the United States

Chánh án
Đương nhiệm: John G. Roberts
Nhậm chức: 28 tháng 9, 2005

Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (cũng được gọi là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ; tiếng Anh: Supreme Court of the United States, đôi khi viết tắt SCOTUS hay USSC) là toà án liên bang cao nhất tại Hoa Kỳ, có thẩm quyền tối hậu trong việc giải thích Hiến pháp Hoa Kỳ, và có tiếng nói quyết định trong các tranh tụng về luật liên bang, cùng với quyền tài phán chung thẩm (có quyền tuyên bố các đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ và của các Viện lập pháp tiểu bang, hoặc các hoạt động của nhánh hành pháp liên bang và tiểu bang là vi hiến).

Là định chế quyền lực cao nhất của nhánh tư pháp trong Chính phủ Hoa Kỳ, Tối cao Pháp viện là tòa án duy nhất được thiết lập bởi Hiến pháp. Tất cả tòa án liên bang khác được thành lập bởi quốc hội. Thẩm phán tòa tối cao (hiện nay có chín người) được bổ nhiệm trọn đời bởi tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng viện. Một trong chín thẩm phán được chọn để trở nên Chủ tịch Pháp viện hay Chánh Án (Chief Justice).

Cơ cấu và quyền lực

Hoa Kỳ
Great Seal of the United States (obverse).svg

Chính trị và chính phủ
Hoa Kỳ

Điều III của Hiến pháp Hoa Kỳ qui định những trường hợp được đưa ra xét xử trước toà tối cao cũng như nhiệm kỳ của thẩm phán toà tối cao. Khoản I viết "Quyền tài phán của Hoa Kỳ được dành cho một toà tối cao", và ấn định nhiệm kỳ trọn đời cho các thẩm phán của toà án này, "trong khi họ có tư cách tốt"[1] (nghĩa là các thẩm phán có thể bị luận tội nhưng không thể bị cách chức vì các lý do khác), và lương bổng của họ cũng không bị cắt giảm khi đang nhiệm chức. Những qui định này của Hiến pháp là nhằm bảo vệ tính độc lập của của các thẩm phán khi đưa ra các phán quyết.

Điều III dành cho toà tối cao quyền xét xử tất các vụ án liên quan đến luật pháp và luật bất thành văn theo hiến pháp, các luật của Hoa Kỳ và các hiệp ước; tất cả vụ án liên quan đến các đại sứ, bộ trưởng và các lãnh sự; tất cả vụ án về các vùng biển; các vụ tranh chấp mà Hoa Kỳ là một bên; các tranh tụng giữa hai hay nhiều tiểu bang; giữa một tiểu bang và các công dân thuộc các tiểu bang khác...

Như vậy, thẩm quyền tài phán của toà tối cao được giới hạn trong các vụ án hoặc tranh tụng trong phạm vi luật liên bang. Toà án liên bang có thể xét xử các vụ tranh tụng giữa công dân của các bang khác nhau. Trong trường hợp này, tòa liên bang, bao gồm toà tối cao, phán quyết theo luật tiểu bang. Thí dụ, một cư dân Texas có thể kiện một công ty ở California vi phạm luật bang Texas.

Đa số các trường hợp được đem ra trước Tối cao Pháp viện là các vụ kháng án, chuyển đến từ các toà tối cao tiểu bang hay các toà liên bang.

Tuy không được ghi trong hiến pháp, toà tối cao, cũng như tất cả tòa liên bang, được công nhận quyền tài phán chung thẩm. Vào năm 1803 trong vụ án Marbury chống Madison, toà tối cao đã vô hiệu hoá một số đạo luật được thông qua bởi Quốc hội, cho rằng Quốc hội đã vượt quá quyền hiến định của mình. Trong vụ Fletcher chống Peck (1810) lần đầu tiên toà tối cao đã phán quyết một đạo luật được thông qua bởi một viện lập pháp tiểu bang là vi phạm hiến pháp, nhân đó mở rộng quyền tài phán của toà tối cao đến các đạo luật và nghị định của chính quyền tiểu bang. Dù ít được sử dụng trong thời gian đầu, quyền này lại được toà tối cao hành xử thường xuyên trong những thập niên gần đây.

Hiến pháp không qui định số lượng thẩm phán cho Tối cao Pháp viện, Quốc hội thực thi quyền này. Lúc đầu, tổng số thẩm phán được Đạo luật Judiciary năm 1789 ấn định là sáu người. Khi đất nước được mở rộng, con số thẩm phán của tòa tối cao gia tăng dần theo số lượng tòa án khu vực. Năm 1807, số thẩm phán là bảy người, lên đến chín người năm 1837, rồi mười người năm 1863. Đến năm 1866, vì không muốn phê chuẩn các bổ nhiệm của Tổng thống Andrew Johnson, Quốc hội thông qua đạo luật Judicial Circuits, theo đó sẽ không bổ nhiệm người thay thế cho ba thẩm phán sắp về hưu; như thế, số thẩm phán dần dà chỉ còn lại bảy người; một vị trí bị huỷ bỏ năm 1866, vị trí thứ hai năm 1867. Trước khi chiếc ghế thứ ba bị dời đi, Quốc hội đã kịp thông qua luật Circuit Judges năm 1869, ấn định số thẩm phán ở con số chín (một chánh án và tám thẩm phán), con số này được duy trì cho đến ngày nay.

Với dự luật Cải tổ Tư pháp năm 1937, Tổng thống Franklin D. Roosevelt muốn mở rộng tòa tối cao, cho phép tổng thống bổ nhiệm thêm một người cho mỗi thẩm phán đã đến tuổi bảy mươi mà không muốn về hưu, như vậy số thẩm phán có thể lên đến tối đa là mười lăm người. Có vẻ như tổng thống muốn làm giảm bớt gánh nặng trên vai các thẩm phán cao tuổi, nhưng nhiều người tin rằng Roosevelt chỉ muốn đem vào tòa tối cao những người ủng hộ chính sách New Deal của ông. Trước đây, New Deal đã bị Tối cao Pháp viện tuyên bố là vi hiến. Đề án này của Roosevelt không được quốc hội thông qua. Dù vậy, thời kỳ lâu dài của Roosevelt tại Tòa Bạch Ốc cho phép ông bổ nhiệm tám thẩm phán (chỉ sau George Washington), và đưa một thẩm phán lên vị trí Chánh án Tòa án Tối cao.[2]

Bổ nhiệm

Đề cử

Bổ nhiệm thẩm phán cho toà tối cao là một qui trình mang nhiều yếu tố chính trị và luôn luôn gây tranh cãi. Hiện nay có chín vị trí trong tòa, con số này đã được xác lập từ năm 1869, dù nó có thể bị thay đổi bởi Quốc hội. Tiến trình bổ nhiệm bắt đầu khi một thẩm phán qua đời, từ chức, về hưu hay bị bãi nhiệm vì bị luận tội và bị kết án (điều này chưa bao giờ xảy ra). Tính trung bình cứ hai năm thì có một chỗ khuyết, nhưng không phải luôn luôn như vậy.

John Roberts, Chánh án
Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ

Như một qui luật, tổng thống sẽ đề cử vào Tối cao Pháp viện những người đồng quan điểm với mình, với ít nhiều nhượng bộ, để bảo đảm sự đề cử sẽ được thông qua tại Thượng viện, thường thì các ứng viên có quan điểm cực đoan ít có cơ may được phê chuẩn. Các ứng cử viên thường được chọn từ tòa kháng án liên bang, tòa án tiểu bang, nhánh hành pháp, Quốc hội hoặc giới trí thức khoa bảng.

Tuy nhiên, trong thực tế có không ít các quyết định của thẩm phán đi ngược lại những mong đợi của người bổ nhiệm, nổi tiếng nhất là trường hợp Chánh án Earl Warren, Tổng thống Eisenhower mong đợi ông sẽ trung thành với lập trường bảo thủ, nhưng các quyết định của Warren đã chứng tỏ ông là một trong số những thẩm phán có khuynh hướng tự do nhất trong lịch sử Tối cao Pháp viện. Về sau, Eisenhower chua chát thú nhận việc bổ nhiệm Warren là "sai lầm lớn nhất tôi từng mắc phải."[3] Bởi vì Hiến pháp không ấn định bất kỳ tiêu chuẩn nào cho chức vụ thẩm phán tòa tối cao, tổng thống có thể đề cử bất cứ ai. Song, ứng viên cho chức vụ này cần có được sự chuẩn thuận của Thượng viện, nghĩa là cần thuyết phục đa số thượng nghị sĩ tin rằng họ xứng đáng với vị trí phục vụ trọn đời tại thiết chế tư pháp tối cao của quốc gia.

Phê chuẩn

Trong lịch sử đương đại, qui trình phê chuẩn thẩm phán tòa tối cao luôn thu hút sự quan tâm của các nhóm có quyền lợi đặc biệt, họ thường vận động các thành viên thượng viện phê chuẩn hoặc bác bỏ tùy theo quá trình hoạt động của ứng viên ấy có phù hợp với quan điểm của họ hay không.

Thủ tục phỏng vấn ứng viên chỉ mới có không lâu. Ứng viên đầu tiên làm chứng trước Ủy ban là Harlan Fiske Stone năm 1925. Có một số thượng nghị sĩ đến từ miền Tây tỏ ra quan ngại về những quan hệ của Stone với Phố Wall, cho biết sẽ chống đối việc phê chuẩn ông. Stone đưa ra một đề nghị còn mới lạ vào lúc ấy, là ông sẽ ra trước Ủy ban Tư pháp để trả lời các câu hỏi, việc này đã bảo đảm cho Stone sự chuẩn thuận của Thượng viện với rất ít chống đối. Ứng viên thứ hai giải trình trước Ủy ban là Felix Frankfurter, ông này ra làm chứng theo yêu cầu của Ủy ban để giải thích về điều ông xem là những vu khống chống lại ông. Qui trình thẩm vấn đang được áp dụng yêu cầu ứng viên bày tỏ lập trường của mình bắt đầu từ vụ phê chuẩn John Marshall Harlan II năm 1955; Harlan được đề cử ngay sau khi tòa tối cao đưa ra phán quyết lịch sử trong vụ án Brown v. Board of Education, và một số thượng nghị sĩ miền Nam cố phong tỏa việc phê chuẩn Harlan, do vậy mà tổ chức phiên điều trần.[4]

Một ứng viên được tổng thống đề cử phải được phê chuẩn bởi đa số phiếu tại Thượng viện, dù qui trình này có thể bị ngăn cản. FBI sẽ kiểm tra nhân thân của ứng viên. Cùng với các nhân chứng, ứng cử viên phải ra trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện để trả lời những câu hỏi như "Quan điểm của ông (bà) về vụ án Roe chống Wade?" hoặc về hôn nhân đồng tính... Ủy ban sẽ bỏ phiếu để quyết định đề cử người này hay không, sau đó sự việc được chuyển sang Thượng viện. Ban thường trực về tư pháp liên bang của Hội luật sư Hoa Kỳ sẽ thẩm định phẩm chất của ứng viên như tính liêm khiết, năng lực chuyên môn, tính cách của một thẩm phán... Ban này, gồm 15 thẩm phán liên bang (không có thẩm phán toà tối cao), sẽ đưa ra một bản thẩm định – "rất tốt", "tốt" và "không tốt". Đời tư các ứng viên thường bị xét nét đến từng chi tiết.

Toàn thể Thượng viện họp lại để xem xét; chỉ cần một đa số tương đối (quá bán) là đủ để quyết định chuẩn thuận hoặc bác bỏ sự đề cử. Trong suốt lịch sử, Thượng viện chỉ bác bỏ mười hai trường hợp.[5] Gần đây nhất là biểu quyết của Thượng viện năm 1987 bác bỏ việc đề cử Robert Bork.

Không phải tất cả đề cử đều được biểu quyết tại Thượng viện. Một khi Thượng viện bắt đầu thảo luận về sự đề cử, những người chống đối có thể tìm cách kéo dài cuộc tranh luận để ngăn không cho biểu quyết. Cho đến nay vẫn chưa có việc đề cử thẩm phán nào bị ngăn không biểu quyết. Tuy nhiên, năm 1968 Tổng thống Lyndon Johnson đã thất bại trong nỗ lực đề cử thẩm phán Abe Fortas vào vị trí chánh án thay thế Earl Warren.

Tổng thống cũng có thể rút lại danh sách đề cử trước khi Thượng viện bỏ phiếu. Điều này xảy ra khi tổng thống cảm thấy ứng viên của mình không có đủ cơ may để được phê chuẩn. Gần đây nhất, Tổng thống George W. Bush rút tên Harriet Miers trước khi phiên điều trần bắt đầu, do những quan ngại về khả năng Miers sẽ bị thẩm vấn về việc bà từng tiếp cận các tư liệu nội bộ của nhánh hành pháp khi đang là cố vấn pháp luật cho Nhà Trắng. Năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan rút lại sự đề cử dành cho Douglas H. Ginsburg vì những cáo buộc về việc sử dụng ma túy.

Cho đến năm 1981, thủ tục phê chuẩn thường diễn ra mau chóng. Từ chính phủ Truman đến Nixon, các ứng viên được phê chuẩn trong vòng một tháng. Tuy nhiên, kể từ chính phủ Reagan cho đến nay, qui trình này kéo dài hơn. Một số suy đoán cho rằng ấy là do vai trò của chính trị của các thẩm phán ngày càng gia tăng.[6]

Thủ tục

Mỗi năm, Tối cao Pháp viện bắt đầu làm việc vào thứ Hai đầu tiên của tháng Mười, kéo dài cho đến tháng Sáu hay tháng Bảy năm sau.

Muốn khởi kiện hay biện hộ tại toà tối cao, luật sư (attorney) phải là thành viên của luật sư đoàn toà tối cao. Muốn được thu nhận vào luật sư đoàn toà tối cao, ứng viên phải có thâm niên ít nhất ba năm trong đoàn luật sư của toà tối cao tiểu bang, phải được giới thiệu bởi hai thành viên của đoàn luật sư toà tối cao (hai người này không có liên hệ huyết thống hay hôn nhân với người được giới thiệu), không bị kỷ luật bởi tòa án hay bởi luật sư đoàn.

Khi ra phán quyết, mỗi thẩm phán trình bày ý kiến của mình bằng văn bản; tất cả văn bản này được công bố cho công chúng. Thường thì có một quan điểm cho đa số, được gọi là "Quan điểm của Toà", kèm theo đó là ý kiến "tương đồng" (thuận với phán quyết nhưng vì những lý do khác) và ý kiến bất đồng (không đồng ý với phán quyết).

Tập tục công bố quan điểm của toà bắt đầu từ nhiệm kỳ của chánh án toà tối cao Justin Marshall vào đầu thế kỷ 19[cần dẫn nguồn]. Trước đó, mỗi thẩm phán tự công bố ý kiến của mình.

Các Thẩm phán Đương nhiệm

Tên Ngày sinh Bổ nhiệm bởi Số phiếu Ngày nhậm chức Quá trình công tác
Roberts

John Roberts (Chánh án)

27 tháng 1, 1955 (59 tuổi) tại Buffalo, New York G.W. Bush 78-22 29 tháng 11, 2005 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực D.C. (2003–2005); Hành nghề tư (1993–2003); Phụ tá Thứ trưởng Tư pháp (1989–1993); Hành nghề tư (1986–1989); Phó Cố vấn Pháp luật cho Tổng thống (1982–1986); Phụ tá Đặc biệt Bộ trưởng Tư pháp (1981–1982)
Stevens

John Paul Stevens

20 tháng 4, 1920 (94 tuổi) tại Illinois Ford 98-0 19 tháng 12, 1975 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực 7 (1970–1975); Hành nghề tư (1948–1970); Giảng viên, Trường Luật Đại học Chicago (1950–1954); Giảng viên, Trường Luật Đại học Northwestern (1954–1958)
Scalia

Antonin Scalia

11 tháng 3, 1936 (78 tuổi) tại New York Reagan 98-0 26 tháng 9, 1986 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực D.C. (1982–1986); Giáo sư, Trường Luật Đại học Chicago (1977–1982); Phụ tá Bộ trưởng Tư pháp (1974–1977); Giáo sư, Trường Luật Đại học Virginia (1967–1974)
Kennedy

Anthony Kennedy

23 tháng 7, 1936 (78 tuổi) tại California Reagan 97-0 18 tháng 2, 1988 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực 9 (1975–1988); Giáo sư, Trường Luật Đại học McGeorge, Đại học Pacific (1965–1988); Hành nghề tư (1963–1975)
Thomas

Clarence Thomas

23 tháng 6, 1948 (66 tuổi) tại Georgia G.H.W. Bush 52-48 23 tháng 10, 1991 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực D.C. (1990–1991); Chủ tịch, Ủy ban Bình đẳng Nhân dụng (1982–1990); Phụ tá Pháp lý cho Thượng nghị sĩ John Danforth bang Missouri (1979–1981); làm việc tại Công ty Monsanto, Inc. (1977– 1979); Phụ tá Bộ trưởng Tư pháp Missouri dưới quyền Bộ trưởng Tư pháp Missouri John Danforth (1974–1977)
Ginsburg

Ruth Bader Ginsburg

15 tháng 3, 1933 (81 tuổi) tại New York Clinton 97-3 10 tháng 8, 1993 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực D.C. (1980–1993); Cố vấn Pháp luật cho American Civil Liberties Union (1973–1980); Giáo sư, Trường Luật Columbia (1972–1980); Giáo sư, Trường Luật Đại học Rutgers (1963–1972)
Breyer

Stephen Breyer

15 tháng 8, 1938 (76 tuổi) tại California Clinton 87-9 3 tháng 8, 1994 Chánh án Tòa Phúc thẩm Khu vực 1 (1990–1994); Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực 1 (1980–1990); Giáo sư, Giáo sư Trường Luật Đại học Harvard (1967–1980)
Alito

Samuel Alito

1 tháng 4, 1950 (64 tuổi) tại New Jersey G.W. Bush 58-42 31 tháng 1, 2006 Thẩm phán Tòa Phúc thẩm Khu vực 3 (1990–2006); Giáo sư, Trường Luật Đại học Seton Hall (1999–2004); Biện lý Liên bang Khu vực New Jersey (1987–1990); Phụ tá Bộ trưởng Tư pháp (1985–1987); Phụ tá Thứ trưởng Tư pháp (1981–1985); Phụ tá Biện lý Liên bang Khu vực New Jersey (1977–1981)
Sotomayor

Sonia Sotomayor

25 tháng 6, 1954 (60 tuổi) tại New York Obama 68-31 8 tháng 8, 2009 Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Khu vực 2 (1998–2009); Thẩm phá Tòa Sơ thẩm khu vực miền Nam New York (1992–1998); Phụ tá Công tố viên Thành phố New York.

Lợi tức

Đến năm 2008, thẩm phán tòa tối cao nhận 208 100 USD mỗi năm, riêng chánh án được trả 217 400 USD.[7]

Tuổi tác và Địa vị

Trong những phiên họp của tòa tối cao, vị trí của các thẩm phán được ấn định theo tuổi tác: Chánh án ngồi ở vị trí trung tâm, các thẩm phán ở hai bên, tuổi càng cao càng ngồi gần với chánh án. Như vậy, thẩm phán cao tuổi nhất ngồi ngay bên phải chánh án, và người nhỏ tuổi nhất ngồi xa bên trái. Nếu từ góc nhìn của luật sư tranh luận tại tòa, thứ tự vị trí của các quan tòa như sau: Breyer, Thomas, Kennedy, Stevens (thẩm phán niên trưởng), Roberts (Chánh án), Scalia, Souter, Ginsburg and Alito (nhỏ tuổi nhất).

Các Thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ năm 2007. Hàng trên (từ trái): Stephen G. Breyer, Clarence Thomas, Ruth Bader Ginsburg, Samuel A. Alito. Hàng dưới (từ trái): Anthony M. Kennedy, John Paul Stevens, Chánh án John G. Roberts, Antonin G. Scalia, David H. Souter.

Trong các phiên họp kín, các thẩm phán phát biểu và bỏ phiếu theo thứ tự tuổi tác, người đầu tiên là chánh án người cuối cùng là thẩm phán nhỏ tuổi nhất. Vì là họp kín nên thẩm phán nhỏ tuổi nhất được giao trách nhiệm phục vụ khi cần thiết, thường là công việc mở cửa và dọn cà phê. Ngoài ra, thẩm phán nhỏ tuổi nhất cũng là người có nhiệm vụ chuyển án lệnh của tòa đến tay thư ký tòa. Joseph Story có thành tích phục vụ lâu nhất trong cương vị thẩm phán nhỏ tuổi nhất, từ ngày 3 tháng 2 năm 1812 đến ngày 1 tháng 9 năm 1823, tổng cộng là 4 228 ngày. Thẩm phán Stephen Breyer được xếp kế tiếp, kém kỷ lục của Story chỉ có 29 ngày, khi Thẩm phán Samuel Alito vào Tối cao Pháp viện và thay thế Breyer ở vị trí này vào ngày 31 tháng 1 năm 2006.[8]

Khuynh hướng

Trong khi các thẩm phán không đại diện hoặc chấp nhận lập trường chính thức của các chính đảng, như tại hai nhánh lập pháp và hành pháp, họ thường được xếp vào các nhóm chính trị và pháp lý có quan điểm khác nhau chẳng hạn như nhóm bảo thủ, trung dung, hoặc cấp tiến. Các hình dung từ này chỉ biểu thị khuynh hướng tư pháp, không phải chính trị hoặc lập pháp.

Bảy trong số chín thẩm phán đương nhiệm được bổ nhiệm bởi các tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa, hai người còn lại nhận sự bổ nhiệm từ các tổng thống Dân chủ. Nhiều người tin rằng Chánh án Roberts và các thẩm phán Scalia, Thomas, và Alito hình thành nhóm bảo thủ trong tòa. Các thẩm phán Stevens, Souter, Ginsburg, và Breyer được xem là cánh cấp tiến.[9] Trong khi đó, Thẩm phán Kennedy, có khynh hướng bảo thủ trung dung, được xem là nhân tố quyết định kết quả khi xảy ra tình trạng số phiếu biểu quyết ngang nhau.[10]

Về hưu

Các cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng các thẩm phán Tối cao Pháp viện đều có những tính toán chiến lược khi quyết định rời ghế quan tòa. Những cân nhắc này chịu tác động bởi các yếu tố cá nhân, đảng phái và cơ chế.[11] Các quan ngại về sự suy nhược trí tuệ khi cao tuổi cũng thường là động cơ thúc đẩy các thẩm phán muốn về hưu. Áp lực muốn tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của tòa tối cao được kể là một nhân tố khác. Sau cùng, các thẩm phán thường quyết định rút lui vào thời điểm thuận lợi nhất, nghĩa là vào lúc tổng thống và quốc hội có thể bổ nhiệm thẩm phán thay thế là người có cùng quan điểm với người ra đi.

Gần đây nhất chỉ có một thẩm phán của Tối cao Pháp viện về hưu là Sandra Day O’Connor; bà được Samuel Alito thay thế năm 2006.

Lịch sử

Tối cao Pháp viện đã tích luỹ quyền lực hiện có suốt trong nhiệm kỳ của chánh án John Marshall. Ông được đề cử bởi John Adams trong những ngày cuối của nhiệm kỳ tổng thống của Adams. Là đối thủ chính trị của những người Cộng hoà theo Jefferson, Marshall đưa ra một số quan điểm mà những người này cho là không thích hợp, nhằm củng cố quyền lực của ngành tư pháp bằng cách làm suy giảm thanh thế của hành pháp và khẳng định sức mạnh độc quyền của ngành tư pháp trong việc giải thích hiến pháp. Vụ án Marbury chống Madison (1803) là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử toà tối cao, bắt đầu áp dụng quyền tài phán chung thẩm, cho phép toà tối cao bác bỏ các đạo luật của Quốc hội, theo quan điểm của toà, là vi hiến.

Trụ sở

Trụ sở Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tại Washington, DC.

Phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện được triệu tập vào ngày 1 tháng 2 năm 1790 tại toà nhà Merchants Exchange, Thành phố New York, sau dời về Philadelphia và cuối cùng là Washington, D.C. khi nơi này được chọn làm thủ đô của Hoa Kỳ. Phần lớn trong thời gian hiện hữu của mình, toà tối cao phải làm việc tại nhiều địa điểm khác nhau trong Điện Capitol (Trụ sở Quốc hội), nhiều nhất là ở Thượng viện (và trong một thời gian ngắn, nó phải dời về một nhà riêng vì điện Capitol bị hoả hoạn trong cuộc chiến năm 1812).

Rốt cuộc, vào năm 1935 toà tối cao mới được yên vị tại một toà nhà riêng tương xứng với địa vị độc lập của nó trong cấu trúc tam quyền phân lập của Chính phủ Hoa Kỳ, theo yêu cầu khẩn thiết của William Howard Taft, người từng đảm nhiệm cả hai chức vụ đứng đầu ngành hành pháp và tư pháp: Tổng thống Hoa Kỳ (1909-1913) và Chánh Án Tối cao Pháp viện (1921-1930).

Tòa nhà bốn tầng được thiết kế theo phong cách cổ điển hài hòa với các tòa nhà xung quanh thuộc khu phức hợp Capitol và Thư viện Quốc hội. Bên trong tòa nhà là Phòng Xử án, văn phòng các thẩm phán, một thư viện rộng lớn, nhiều phòng họp, và các dịch vụ phụ trợ như cửa hàng, cafeteria và một phòng tập thể dục. Bên ngoài lát lớp đá hoa cương khai thác từ Vermont. Toà nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Cass Gilbert, xây dựng từ năm 1932 đến năm 1935. Dù tọa lạc trong khuôn viên của Khu Kiến trúc đồi Capitol, thiết chế tư pháp này có lực lượng cảnh sát riêng, Cảnh sát Tối cao Pháp viện, hoạt động độc lập với Cảnh sát Capitol.

Chú thích

  1. ^ “U.S. Constitution, Article III, Section 1”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2007. 
  2. ^ Justices, Number of. in Hall, Ely Jr., Grossman, and Wiecek (editors), The Oxford Companion to the Supreme Court of the United States. Oxford University Press 1992, ISBN 0-19-505935-6.
  3. ^ Todd S., Purdum (5 tháng 7 năm 2005). “Presidents, Picking Justices, Can Have Backfires”. Courts in Transition: Nominees and History (New York Times). tr. A4. 
  4. ^ “United States Senate. "Nominations"”. 
  5. ^ List of failed nominations to the Supreme Court of the United States
  6. ^ Balkin, Jack M. “The passionate intensity of the confirmation process” (HTML). Jurist. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2008. 
  7. ^ “U.S. Supreme Court Justices”. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  8. ^ “Breyer Just Missed Record as Junior Justice”. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
  9. ^ In a 2007 interview, Justice Stevens stated he considers himself a "judicial conservative", and only appears liberal because he has been surrounded by increasingly conservative colleagues.“"The Dissenter"” (HTML). The Times Magazine. New York Times. 23 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |firstname= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastname= (trợ giúp)
  10. ^ Lane (31 tháng 1 năm 2006). Kennedy Seen as The Next Justice In Court's Middle (HTML). The Washington Post.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lastaccess= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |name= (gợi ý |author=) (trợ giúp)
  11. ^ David N. Atkinson, Leaving the Bench (University Press of Kansas 1999)ISBN 0-7006-0946-6.

Tham khảo

Đọc thêm

Liên kết ngoài