San Francisco

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Thành phố và Quận San Francisco
"The Painted Ladies"
"The Painted Ladies"
Lá cờ Thành phố và Quận San Francisco
Lá cờ
Tập tin:Sfseal.gif
Con dấu
Biệt danh: The City, The City by the Bay, Frisco, Baghdad by the Bay[1]
Vị trí của San Francisco, California
Vị trí của San Francisco, California
Tọa độ: 37°46′0″N 122°26′0″W / 37.76667, -122.43333
Quốc gia Hoa Kỳ
Bang California
Quận-thành phố San Francisco
Thành lập 1776
Chính quyền
 - Thị trưởng Gavin Newsom
Diện tích
 - Thành phố 231,92 mi² (600,7 km²)
 - Đất liền 46,7 mi² (121 km²)
 - Mặt nước 185,2 mi² (479,7 km²)  79.8%
 - Vùng đô thị 3.524,4 mi² (9.128,2 km²)
Độ cao 52 ft (16 m)
Dân số (2006)[2][3]
 - Thành phố 744.041
 - Mật độ 15.834/mi² (6.111/km²)
 - Vùng đô thị 4180027
Múi giờ Giờ chuẩn TBD (UTC-8)
 - Mùa hè (DST) Giờ mùa hè TBD (UTC-7)
Website: http://www.sfgov.org

Thành phố và quận San Francisco (Bản mẫu:IPAEng) (Xăng Phăng, San-phran-xit-co, Xan Phran-xít-cô, tên cũ rất ít được dùng trong tiếng ViệtCựu Kim Sơn). Tên "San Francisco" theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Thánh Phanxicô thành Assisi". Cựu Kim Sơn là cách gọi của người Trung Hoa từ xưa cho đến bây giờ vì khi xưa nơi đây là nơi người ta đổ xô đi tìm vàng và nó có ý nghĩa là "Núi Vàng Xưa". ) . Vào giữa thế kỷ 19, nhiều người Trung Hoa đã nhập cư vào Hoa Kỳ và định cư tại nơi này. Họ nhập cư để tìm vàng hay để làm việc lắp đường rầy xe lửa xuyên qua địa lục. Để miêu tả miền đất hứa này, họ gọi nơi này là Cựu Kim Sơn (旧金山 hay "núi vàng cũ"). Tên này vẫn còn được sử dụng trong tiếng Hoa. Nhiều văn bản tiếng Việt cũ theo đó cũng gọi tên thành phố này bằng tên này.

San Francisco là thành phố đông dân thứ 4 ở tiểu bang California và là thành phố đông dân thứ 14Hoa Kỳ, với dân số ước tính năm 2006 là 744.041 người.[3] San Francisco là thành phố lớn có mật độ dân số cao thứ 2[4] in the U.S.[5] San Francisco được xếp hạng là một thành phố thế giới beta theo xếp hạng của Nhóm nghiên cứu thành phố thế giới và Toàn cầu hóa của Đại học Loughborough.[6] Thành phố nằm trên mũi của Bán đảo San Francisco, với Thái Bình Dương nằm về phía tây, Vịnh San Francisco nằm về phía đông, và Golden Gate về phía bắc.

Năm 1776, người Tây Ban Nha đã định cư ở khu vực mũi của bán đảo, thiết lập pháo đài tại Golden Gate và hội truyền giáo đặt tên theo Francis của Assisi. Cuộc đổ xô đi tìm vàng California năm 1848 đã đưa thành phố này trải qua một giai đoạn tăng trưởng nhanh. Sau khi bị trận động đất và hỏa hoạn năm 1906, San Francisco đã nhanh chóng được xây dựng lại.

San Francisco là một điểm đến du lịch quốc tế phổ biến nổi tiếng có sương mù mùa Hè lạnh lẽo, các đồi nhấp nhô và dốc, một hỗn hợp chiết khúc của kiến trúc Victoriakiến trúc hiện đại, dân số đồng tính luyến ái, lưỡng tính và xuyên giới tính lớn, và vị trí bán đảo của nó. Các địa điểm nổi bật nổi tiếng có cầu Cổng Vàng, đảo Alcatraz, xe điện cáp, tháp Coit, và Chinatown.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

Các chứng cứ khảo cổ sớm nhất về sự định cư của con người trên lãnh thổ San Francisco ngày nay có niên đại từ năm 3000 trước Công nguyên.[7] Nhóm Yelamu của dân tộc Ohlone đã sinh sống trong nhiều ngôi làng nhỏ khi một nhóm đoàn thám hiểm Tây Ban Nha, do Don Gaspar de Portolà dẫn đầu đã đến đây vào ngày 2 tháng 11 năm 1769, là phát hiện ra Vịnh San Francisco của người châu Âu có ghi chép đầu tiên.[8] Bảy năm sau, vào ngày 28 tháng 3 năm 1776, người Tây Ban Nha đã thiết lập một pháo đài, tiếp theo đó là một hội truyền giáo, Hội truyền giáo San Francisco de Asís (hội truyền giáo Dolores).

Hội truyền giáo San Francisco de Asís (hội truyền giáo Dolores)

Sau khi độc lập khỏi Tây Ban Nha năm 1821, khu vực này đã trở thành một phần của Mexico. Năm 1835, một người Anh tên là William Richardson đã dựng khu ấp trại ngay vùng kề bên Hội truyền giáo Dolores,[9] gần một khu neo đậu tàu ở vị trí ngày nay là quảng trường Portsmouth. Cùng với hội truyền giáo Francisco de Haro Alcalde, ông đã bố trí một quy hoạch đường phố cho khu định cư được mở rộng và thị trấn có tên là Yerba Buena, đã bắt đầu thu hút dân định cư Mỹ. Thiếu tướng hải quân John D. Sloat đã tuyên bố California thuộc về Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 7 năm 1846, trong thời kỳ chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ, và thuyền trưởng John B. Montgomery đã đến tuyên bố chủ quyền Mỹ đối với Yerba Buena 2 ngày sau. Yerba Buena đã được đổi tên thành San Francisco vào năm sau.[10] Mặc dù có vị trí là hấp dẫn của một cảng và một căn cứ hải quân, San Francisco vẫn là một khu định cư nhỏ với địa lý không hiếu khách.

Một bản đồ năm 1888

Cuộc đổ xô đi tìm vàng California đã mang đến một làn sóng lớn những người đi tìm vàng đến đây. With their sourdough bread in tow, số lượng người tìm vàng đổ dồn đến San Francisco đông hơn đối thủ của nó là Benicia,[11] nâng dân số từ 1.000 năm 1848 lên 25.000 người tháng 12 năm 1849.[12] Sự hứa hẹn giàu có huyền thoại quá mạnh mẽ đến mức các thủy thủ trên các con tàu đến đây đã bỏ tàu và đổ xô đến các mỏ vàng, để lạid đằng sau một rừng cột buồm ở khu bến cảng San Francisco.[13] California đã nhanh chóng nhận được tư cách tiểu bang và quân đội Mỹ đã xây Pháo đài Point tại Golden Gate và một pháo đài trên đảo Alcatraz để củng cố vịnh San Francisco. Các vụ phát hiện ra bạc, bao gồm Comstock Lode năm 1859, đã làm tăng thêm sự tăng dân số. Với từng đoàn người tìm vàng bạc đổ vào thành phố, tình trạng vô chính phủ là phổ biến và khu vực bờ biển Barbary của thị xã đã nhận được tai tiếng là một thiên đường cho tội phạm, mại dâm và cờ bạc.

Một chiếc xe điện cáp trên phố California vào năm 1899

Các chủ doanh nghiệp đã tận dụng sự giàu có được cơn sốt đổ xô đi tìm vàng này tạo ra. Những người trúng lớn đầu tiên là thuộc ngành ngân hàng, với sự thành lập Wells Fargo vào năm 1852, và ngành đường sắt, khi các ông trùm tư bản thuộc Big Four, do Leland Stanford dẫn đầu, đã bắt tay nhau xây tuyến đường sắt đầu tiên xuyên lục địa. Sự phát triển của cảng San Francisco đã thiết lập vị trí của thành phố là một trung tâm mậu dịch. Để cung cấp cho nhu cầu và thị hiếu của dân số tăng nhanh, Levi Strauss đã mở một doanh nghiệp kinh doanh hàng khô và Domingo Ghirardelli đã bắt đầu sản xuất sô cô la ở đây. Dân lao động nhập cư đã tạo ra một thành phố có văn hóa đa ngôn ngữ, với những người công nhân đường sắt người Hán thành lập một khu Phố Tàu. Các xe điện cáp đã đưa những người dân San Francisco lên đến phố Clay năm 1873. Hàng lọat ngôi nhà theo phong cách Victoria đã bắt đầu hình thành và các nhà lãnh đạo dân sự đã vận động việc tạo ra một công viên rộng rãi và đã lên kế hoạch cho công viên Golden Gate. Người San Francisco đã xây dựng các trường học, nhà thờ, nhà hát và tất cả các công trình mang dấu hiệu của một cuộc sống dân sự. Presidio đã phát triển thành khu kho quân sự Mỹ quan trọng nhất bên bờ Thái Bình Dương.[14] Đến đầu thế kỷ 20, San Francisco đã là một thành phố lớn có phong cách hoa mỹ, các khách sạn to lớn và các khu nhà phô trương trên Nob Hill, và là một nơi có nền nghệ thuật phát đạt.

"Trong lịch sử chưa bao giờ có một thành phố đế chế hiện đại lại bị phá hủy hoàn toàn như vậy. San Francisco đã mất rồi." – Jack London sau trận động đất năm 1906 và hỏa hoạn.[15]

vào lúc 5h12 sáng ngày 18 tháng 4 năm 1906, một động đất đã xảy ra tại San Francisco và vùng Bắc California. Khi các tòa nhà sụp đổ do địa chấn, các đường ống dẫn khí đốt bị gãy và bắt lửa gây hỏa hoạn khắp thành phó và thiêu rụi thành phố này trong nhiều ngày. Với lượng lượng nước còn lại của các ống chính không vận hành được, Đội cứu hỏa pháo binh Presidio đã cố chế ngự ngọn lửa bằng cách dùng thuốc nổ phá hủy các lô nhà để tạo ra khoảng không ngăn lửa lan ra.[16] Hơn ¾ thành phố bị biến thành đống đổ nát, bao gồm phần lớn phần lõi trung tâm thành phố.[17] Các ghi chép lúc đó báo cáo rằng có 498 người thiệt mạng dù con số ngày nay cho thấy con số thiệt mạng phải là hàng ngàn.[18] Hơn ½ dân số thành phố bị lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.[19] Những người tị nạn đã tạm cư ở các ngôi làng bằng lều ở Công viên Cổng Vàng, khu Presidio, bên bãi biển và những nơi khác. Nhiều người đã chuyển hẳn sang khu vực Vịnh Đông.

Công tác tái thiết đã được thực hiện nhanh chónh trên quy mô lớn. Rejecting calls to completely remake the street grid, San Franciscans opted for speed.[20] Bank of Italy của Amadeo Giannini, sau này trở thành Bank of America, đã cấp các khoản vay cho nhiều người bị thiệt hại trong trận động đất này. Các khu nhà Nob Hill bị phá hủy đã trở thành các khách sạn lớn. Tòa thị chính lại nổi lên trong phong cách Beaux Arts và thành phố này đã kỷ niệm sự hồi sinh của mình tại cuộc Triển lãm Panama-Thái Bình Dương năm 1915.

Trong các năm tiếp theo, thành phố đã củng cố vị trí của mình như là một thủ đô tài chính; sau sự sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1929, không một ngân hàng nào đóng trụ sở ở San Francisco đổ bể.[21] Trên thực tế, ngay trong thời kỳ đỉnh điểm của của cuộc Đại suy thoái thì San Francisco lại đồng thời xây dựng hai công trình dân dụng lớn là Cầu qua vịnh San Francisco-OaklandCầu Cổng Vàng, và hoàn thành lần lượt vào năm 1936 và 1937. Cũng trong giai đoạn này, đảo Alcatraz, một trại giam quân sự trước đó đã trở thaàn một nhà tù an ninh tối đa liên bang, giam giữ những tù nhân khét tiếng như Al Capone. San Francisco sau này đã kỷ niệm vẻ hùng vĩ được tái lập của mình với một Hội chợ Thế giới, Triển lãm quốc tế Cổng Vàng năm 1939–40, thành lập Treasure Island giữa vịnh để làm nơi tổ chức các sự kiện này.

Tàu USS San Francisco chạy dưới Cầu Cổng Vàng năm 1942, trong Thế chiến II

Trong Thế chiến War II, Xưởng đóng tàu hải quân Hunters Point đã trở thành một trung tâm họat động và Fort Mason đã trở thành cảng hàng đầu cho các tàu xuất phát đi chiến trường Thái Bình Dương.[22] Sự bùng nổ công ăn việc làm đã đưa nhiều người, đặc biệt là người Mỹ gốc Phi từ phía nam đến đây. Sau thế chiến II, nhiều quân nhân trở về từ nước ngoài và nhiều dân thường đến đây làm việc đã quyết định ở lại. Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, một hội nghị hòa bình đã được tổ chức tại San Francisco. Năm 1946, Hiến chương Liên Hiệp Quốc đã được 50 nước ký kết tại đây. Năm 1951, Hội nghị Hòa bình thứ 2 được tổ chức ở đây và đã khai thông bằng Hiệp ước San Francisco. Hiệp ước này được áp dụng vào ngày 28/4/1952 và đã kết thúc giai đọan chiếm đóng (1945-1952 ở Nhật Bản). Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 của Thế kỷ XX đã chuyển đổi nền kinh tế của khu vực này. Việc phát triển công nghệ điện toán ở Silicon valley ở phía Nam thành phố này đã mang lại một hình ảnh năng động của khu vực Vịnh San Francisco của tiểu bang California.

Các dự án quy hoạch đô thị thập niên 1950 và thập niên 1960 đã chứng kiến sự phá hủy rộng rãi nhiều công trình cũ và tái phát triển các khu vực đô thị phía tây và xây nhiều đường cao tốc mới, trong đó chỉ có một số đoạn ngắn đã được xây trước khi bị dừng lại do các cuộc chống đối của người dân.[23] Transamerica Pyramid đã được hoàn tất năm 1972,[24] và thập niên 1980 là sự Manhattan hóa San Francisco đã chứng kiến sự phát triển rầm rộn các tòa nhà cao tầng ở trung tâm.[25] Họat động cảng đã được dời đến Oakland, thành phố bắt đầu mất công ăn việc làm công nghiệp và San Francisco đã chuyển hướng qua ngành du lịch làm mũi nhọn kinh tế của mình. Khu vực ngoại ô đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng nhanh chóng và San Francisco đã trải qua một sự thay đổi cơ cấu dân cư, một bộ phận lớn dân da trắng rời bỏ thành phố, thay vào đó là một làn sóng ngày càng tăng nhập cư từ châu Á và Mỹ Latin.[26][27]

[sửa] Khí hậu

Sương mù bao quanh cầu Cổng Vàng

Đặc trưng khí hậu của San Francisco được thể hiện trong câu nói của nhà văn Mark Twain "Mùa Đông lạnh nhất tôi đã từng trải qua là một mùa Hè ở San Francisco".[28][29] Thành phố được ưu đãi từ khí hậu giống như vùng Địa Trung Hải.[30], có đặc trưng mùa Đông ẩm ướt và êm dịu, mùa Hè khố và ấm. Do 3 bên được biển bao bọc, khí hậu San Francisco chịu ảnh hưởng mạnh của dòng hải lưu lạnh của Thái Bình Dương có xu hướng ít khác biệt về khí hậu giũa các mùa. Nhiệt độ trung bình mùa Hè ở San Francisco là cao nhất: 70°F (21 °C) và thấp nhất 20°F (9 °C)[31], thấp hơn khu vực đất liền gần đấy là Livermore. Về mùa Đông, nhiệt độ cao nhất là 60°F (15 °C)[32] và thấp nhất không bao giờ đạt nhiệt độ đóng băng. Việc kết hợp nước biển lạnh và cái nóng của Californa lục địa tạo nên sương mù nửa phía Tây thành phố cả ngày trong mùa Hè, ở phía Đông ít sương mù hơn. Một năm có khoảng 160 ngày trời quang, 105 ngày có mây bao phủ.

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Nhiệt độ trung bình cao nhất °F (°C) 56
(13)
60
(15)
61
(16)
63
(17)
64
(17)
66
(18)
66
(18)
66
(18)
70
(21)
69
(20)
64
(17)
57
(13)
63
(17)
Nhiệt độ trung bình thấp nhất °F (°C) 46
(7)
48
(8)
49
(9)
50
(10)
51
(10)
53
(11)
54
(12)
54
(12)
56
(13)
55
(12)
51
(10)
47
(8)
51
(10)
Lượng mưa (cm) 4.1
(10)
3.5
(8)
2.9
(7)
1.5
(3)
0.5
(1)
0.2
(--)
---
(--)
---
(--)
0.2
(--)
1.1
(2)
2.6
(6)
3.9
(9)
20.4
(51)
Bảng 1: Số liệu khí hậu San Francisco[33]

[sửa] Các địa điểm tham quan

Đường hoa Lombard ở Đồi Nga
  • Công viên Golden Gate - một công viên đẹp nổi tiếng rộng 4,1 km², trong đó có Vườn trà Nhật Bản ở Công viên Golden Gate.
  • Bến Ngư phủ (Fisherman's Wharf): Đây là khu vực nằm bên Vịnh San Francisco, có khu đi bộ và mua sắm, giải trí hấp dẫn. Du khách có thể tham qua Bể cá ngầm nuôi các loại cá biển. Du khách có thể thưởng thức các loại hải sản được chế biến tại chỗ (cua, tôm...). Ở đây cũng có bảo tàng lịch sử San Francisco.
  • Bảo tàng Nghệ thuật châu Á tọa lạc trước Tòa thị chính.
  • Bảo tàng Lịch sử Đại dương: tọa lạc bên Vịnh San Francisco, gần Bến Ngư phủ.
  • Đường hoa Lombard: Con đường dốc được trồng hoa hai bên để giảm độ dốc (27 độ) cho xe lưu thông nằm trên Đồi Nga (Russian Hill).
  • Cầu Kim Môn (Cổng Vàng, Golden Gate) và khu Công viên Giải trí Cầu Kim Môn.
  • Đỉnh núi Twin Peaks: Với hệ thực vật phong phú, từ đỉnh 2 ngọn núi này có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh San Francisco và một phần Vịnh San Francisco.
  • Phố Tàu (Chinatown) nơi tập trung sinh sống của cộng đồng người Hoa.
  • Little Saigon: Nằm dọc theo phố Larkin: Nơi đây có cộng đồng người Việt Nam sinh sống, có các cửa hàng và quán ăn Việt Nam (phở, hủ tiếu, nem...).

[sửa] Xã hội và Dân cư

Dân số (ngàn người) theo năm[34]
Một con đường trong Phố Tàu

Ước tính dân số năm 2006 của San Francisco là 744.041 người.[3] Với gần 16.000 người trên mỗi dặm vuông, San Francisco là thành phố lớn của Mỹ có dân cư dày đặc xếp thứ hai.[35] San Francisco là trung điểm truyền thống của vùng vịnh San Francisco và tạo thành Khu vực Thống kê Kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland có dân số hơn 7 triệu người, lớn thứ 5 ở Hoa Kỳ vào thời điểm tổng điều tra dân số năm 2000.[36]

Dân số của San Francisco cao nhất là 776.733 năm 2000 vào thời kỳ cao điểm của sự bùng nổ công nghệ thông tin và giảm mất 35.000 vào năm 2005. Mật độ dân số 16.000/dặm vuông, San Francisco chỉ xếp thứ hai sau Thành phố New York về mật độ dân đô thị tại Hoa Kỳ. Cùng với các thành phố khác nằm kề nhau trong khu vực Vịnh San FranciscoSan JoseOakland thì vùng đô thị này có dân số 7 triệu người, xếp thứ 5 trong các đô thị ở Hoa Kỳ.

Cơ cấu dân số San Francisco: người da trắng không phải gốc Latin (Tây Ban NhaBồ Đào Nha) chiếm gần 44%; người Mỹ gốc Á, chủ yếu là người Hoa, chiếm gần 31%; người gốc Latin chiếm 14%; gần 8% là người Mỹ gốc Phi. Khoảng 35% dân thành phố này được sinh ra lại California, 39% sinh ra bên ngoài Hoa Kỳ.

San Francisco có tỷ lệ hộ gia đình đồng giới cao nhất trong các quận của Mỹ, với Khu vực Vịnh có tỷ lệ tập trung cao hơn bất cứ vùng đô thị nào.[37] Đàn ông đồng tính nhiều hơn phụ nữ đồng tính và người ta ước tính rằng cứ 1/5 dân nam giới trên 15 tuổi ở thành phố này là đồng tính luyến ái.[38]. Thu nhập bình quân mồi hộ ở đây là 57.496 USD năm 2005, xếp thứ năm trong các thành phố lớn ở Hoa Kỳ. Tỷ lệ đói nghèo là 7,8%, thấp hơn mức bình quân của các thành phố tại Hoa Kỳ. Tình trạng vô gia cư là một vấn đề lớn ở đây kể từ 1980. Thành phố này có số lượng dân vô gia cư trên đầu người cao nhất trong các thành phố lớn của Mỹ. Tỷ lệ tội phạm và bạo động theo thống kê năm 2003 là 742 vụ bạo động và 4943 vụ tội phạm trên 100.000 dân[39], cao hơn mức trung bình của Hoa Kỳ.[40] Trong 50 thành phố lớn của Mỹ, San Francisco xếp thứ 32 và 38 cho mỗi tình trạng bạo động và tội phạm nêu trên.[39]

[sửa] Giáo dục

[sửa] Đại học và cao đẳng

Đại học bang San Francisco là một bộ phận của hệ thống đại học bang California và nằm ở gần hồ Merced. Trường này có gần 30.000 sinh viên và awards undergraduate và thạc sỹ với hơn 100 chuyên ngành. City College of San Francisco, với cơ sở chính ở quận khu Ingleside, là một trong những cao đẳng cộng đồng học hai năm lớn nhất ở quận hạt này. Trường có khoảng 100.000 sinh viên và có chương trình giáo dục tiếp tục rộng.[41] Được thành lập năm 1855, Đại học San Francisco dưới sự quản lý của các Thầy tu dòng Tên, nằm ở trên núi Lone, tập trung vào ngành nghệ thuật tự do, và là một trong những trường đại học xưa nhất được lập ở phía tây của Mississippi.

Khu trường sở Mission Bay của UCSF

Đại học California, San Francisco là một trong mười khu trường sở của hệ thống đại học California, và là cơ sở sử dụng lao động lớn thứ hai ở San Francisco. Trường này chỉ dành cho giáo dục các ngành y tế và khoa học hóa sinh và được xếp trong nhóm 5 trường y hàng đầu ở Hoa Kỳ.[42] Trường này cũng quản lý Trung tâm y khoa UCSF, xếp trong top 10 bệnh viện ở Mỹ.[43] Một khu trường sở Mission Bay rộng 43 mẫu, bổ sung khu trường sở ban đầu ở Parnassus Heights, đã được mở cửa năm 2003. Khu trường sở này có không gian và cơ sở vật chất cho việc phát triển nghiên cứu công nghệ sinh học và khả năng khoa học về sự sống (life sciences entrepreneurship) và sẽ nhân đôi quy mô của việc kinh doanh nghiên cứu của UCSF. Đại học California, Đại học Luật Hastings, được thành lập năm ở Civic Center năm 1878, là trường luật cổ xưa nhất bang California và đã đào tạo ra nhiều thẩm phán ở bang này hơn bất cứ trường nào.[44]

Đào tạo bậc đại học về nghệ thuật có Viện Nghệ thuật San Francisco, Học viện Đại học Nghệ thuật, và một cơ sở của Cao đẳng Nghệ thuật California đóng ở Oakland. Nhạc viện San Francisco, nhạc viện duy nhất ở bờ tây, đào tạo nhạc giao hưởng, thính phòng, sáng tác, biểu diễn.

Học viện Nấu ăn California, có liên hệ với chương trình Le Cordon Bleu, đào tạo các chương trình nghệ thuật nấu nướng, quản lý nhà hàng.

[sửa] Kinh tế

Trung tâm thương mại, tài chính San Francisco

Du lịch là ngành kinh tế chủ chốt của San Francisco. Việc thành phố xuất hiện nhiều trong âm nhạc, điện ảnh và các hoạt động văn hóa khác đã khiến cho thành phố nổi tiếng khắp thế giới. Thành phố này thu hút du khách đông thứ năm trong các thành phố ở Hoa Kỳ. Hơn 15 triệu khách du lịch đến San Francisco năm 2005, đưa đến 7,5 tỷ USD cho thành phố.[45] Nhiều khách sạn và nhà hàng đẳng cấp quốc tế tại khu vực Trung tâm Moscone, San Francisco cũng được xếp vào top-ten các điểm đến cho các hội nghị, hội thảo ở Bắc Mỹ[46]. Di sản của thời kỳ đổ xô đi tìm vàng đã biến San Francisco thành trung tâm lớn về ngân hàng và tài chính của vùng biển Tây Hoa Kỳ. Phố MontgomeryQuận tài chính ở San Francisco được biết đến như Phố Wall của miền Tây Hoa Kỳ. Đây là nơi Federal Reserve Bank of San Francisco, Pacific Exchange. Bank of America đặt trụ sở. Nhiều tổ chức tài chính khác có văn phòng hoặc trụ sở tại đây. Với hơn 30 tổ chức tại chính, cùng với sự cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp về tư vấn luật, PR, kiến trúc và thiết kế đồ họa, San Francisco được xếp vào 1 trong 10 thành phố của Beta World Cities.[47] sáu công ty thuộc Fortune 500[48]

Kinh tế San Francisco ngày càng gắn liền với Thung lũng Silicon ở phía Nam. San Francisco cung cấp dịch vụ giáo dục kỹ sư công nghệ thông tin trình độ cao. Thành phố cũng trở thành trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học, công nghệ sinh-y. Doanh nghiệp nhỏ với ít hơn 10 người làm công và doanh nghiệp hành nghề tự do (self-employed firm) chiếm 85% các doanh nghiệp của thành phố.[49]

[sửa] Giao thông

Thành phố có hệ thống tàu điện ngầm hiện đại, có hệ thống đường cao tốc, hệ thống xe bus chạy điện (hay xe cáp) độc đáo. Sân bay Quốc tế San Francisco nằm về phía Nam thành phố 21 km (13 mile) ở Quận San Mateo. Trong năm 2005, sân bay này đứng thứ 23 thế giới, thứ 14 ở Hoa Kỳ về lượng khách phục vụ với tổng số lên đến 32,8 triệu.

[sửa] Sân bay

Sân bay quốc tế San Francisco (SFO), dù nằm cách thành phố 13 dặm (21 km) về phía nam ở quận San Mateo, lại thuộc quản lý của Thành phố và Quận San Francisco. Đây là một trung tâm hàng không của hãng United Airlines, đơn vị thuê sử dụng sân bay này nhiều nhất,[50]và quyết định của hãng Virgin America rút cơ sở họat động của mình ra khỏi SFO[51] đã dành xu hướng của các hãng hàng không giá rẻ chọn đi vòng SFO đến OaklandSan Jose. SFO là một cửa ngõ quốc tế với nhà ga quốc tế lớn nhất ở Bắc Mỹ.[52] Sân bay này được xây trên một khu đất lấn biển trong Vịnh San Francisco. Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế thập niên 1990, khi sự bão hòa giao thông đã dẫn đến các cuộc chậm trễ thường xuyên, sân bay này khó đáp ứng các lời kêu gọi giảm áp lực bằng cách xây một đường băng mà điều này cần phải thực hiện thông quan việc san lấp thêm biển. Nhưng những lời kêu gọi như vậy đã được rút lại đầu thập niên 2000 do lưu lượng giao thông giảm và năm 2005, SFO là sân bay bận rộn thứ 14 Hoa Kỹ với 32,8 triệu khách thông qua sân bay này.[53]

[sửa] Thành phố kết nghĩa

[sửa] Tham khảo

  1. ^ The nickname "Baghdad by the Bay" was coined in 1949 by columnist Herb Caen: Caen, Herb (1949). Baghdad-by-the-Bay, Garden City, N.Y.: Doubleday. LC F869.S3 C12.
  2. ^ Table 1. San Francisco-Oakland-Freemont Metro Area. Annual Estimates of the Population of Metropolitan and Micropolitan Statistical Areas: April 1, 2000 to July 1, 2006
  3. ^ a b c Population Finder: San Francisco County, 2006. Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2007.
  4. ^ Trong các thành phố có dân số hơn 200.000, Thành phố New York có mật độ dân số cao nhất.
  5. ^ “Điều tra dân số: Các đô thị Hoa Kỳ có dân số hơn 50.000: Xếp hạng theo dân số năm 2000”. Demographia. Truy cập 16 tháng 8, 2006. Thông tin trích dẫn đối với các thành phố có dân số hơn 200.000
  6. ^ Globalization and World Cities Study Group & Network - Inventory of World Cities. Truy cập ngày 04 tháng 10 năm 2007 Nó là một phần của Vùng vịnh San Francisco lớn hơn nhiều với dân số khoảng 7,2 triệu người
  7. ^ Stewart, Suzanne B. (tháng 11 năm 2003). Archaeological Research Issues for the Point Reyes National Seashore - Golden Gate National Recreation AreaPDF (1.68 MiB) p. 55 Sonoma State University - Anthropological Studies Center. Accessed October 13, 2006.
  8. ^ “Visitors: San Francisco Historical Information”. City and County of San Francisco. Truy cập September 3, 2006.
  9. ^ “From the 1820s to the Gold Rush”. The Virtual Museum of the City of San Francisco. Truy cập August 28, 2006.
  10. ^ History of Yerba Buena Gardens. Yerba Buena Gardens. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2003
  11. ^ San Francisco's First Brick Building. The Virtual Museum of the City of San Francisco. Accessed August 28, 2006.
  12. ^ Richards, Rand (1992). Historic San Francisco: A Concise History and Guide, Heritage House. ISBN 1-879367-00-9.
  13. ^ Harris, Ron. “Crews Unearth Shipwreck on San Francisco Condo Project”, Associated Press, November 14, 2005.
  14. ^ Under Three Flags.PDF (186 KiB) Presidio of San Francisco, Golden Gate National Recreation Area, National Park Service, U.S. Department of the Interior. Accessed September 4, 2006.
  15. ^ London, Jack (May 5, 1906). “The Story of an Eyewitness by Jack London”. Collier's, The National Weekly (The Virtual Museum of the City of San Francisco). http://www.sfmuseum.org/hist5/jlondon.html. 
  16. ^ “Presidio of San Francisco: Firefighting and Dynamiting”. National Park Service, U.S. Department of the Interior, Golden Gate National Recreation Area. Truy cập September 2, 2006.
  17. ^ Montagne, Renée (April 11, 2006). Remembering the 1906 Earthquake National Public Radio, Morning Edition. Accessed August 29, 2006.
  18. ^ Casualties and Damage after the 1906 earthquake U.S. Geological Survey, Earthquake Hazards Program - Northern California. Accessed September 3, 2006.
  19. ^ Presidio of San Francisco:1906 Earthquake and Fire National Park Service, U.S. Department of the Interior, Golden Gate National Recreation Area. Accessed August 29, 2006.
  20. ^ Wiley, Peter Booth (2000). National trust guide- San Francisco: America’s guide for architecture and history travelers, trang 56–62, John Wiley & Sons, Inc.. ISBN 0-471-19120-5.
  21. ^ San Francisco Gold Rush Banking The Virtual Museum of the City of San Francisco. Accessed August 27, 2006.
  22. ^ World War II in the San Francisco Bay Area. National Park Service, U.S. Department of the Interior. Accessed August 29, 2006.
  23. ^ Fang, Eric C.Y. (February, 1999). “Urban Renewal Revisited: A Design Critique”. San Francisco Planning and Urban Research Association. Truy cập August 26, 2006.
  24. ^ Pyramid Facts and Figures Transamerica.com "About the Pyramid," Accessed 2006-10-29
  25. ^ Wiley, Peter Booth (2000). National trust guide- San Francisco: America’s guide for architecture and history travelers, trang 95–96, John Wiley & Sons, Inc.. ISBN 0-471-19120-5.
  26. ^ Willia, James et al.. “San Francisco Planning Department Census Data Analysis” (Microsoft PowerPoint). San Francisco State University Department of Urban Studies. Truy cập August 31, 2006.
  27. ^ Minton, Torri (September 20, 1998). Race through Time San Francisco Chronicle. Accessed September 1, 2006.
  28. ^ Nolte, Carl (August 19, 2005). “FOG HEAVEN: The sun will come out tomorrow. Or maybe not. It's summer in the city, and that means gray skies”. San Francisco Chronicle. Truy cập August 27, 2006.
  29. ^ “And Never the Twain Shall Tweet”. Snopes.com (2002-10-05). Truy cập March 12, 2007.
  30. ^ Climate of San Francisco: Narrative Description Golden Gate Weather Services, Accessed on September 5, 2006
  31. ^ “Weatherbase.com climate data for Livermore, California”. Truy cập August 27, 2006.
  32. ^ Climate of San Francisco: Top 10 Temperatures Golden Gate Weather Services, Accessed on 2006-12-03
  33. ^ Weatherbase Accessed August 27, 2006
  34. ^ Gibson, Campbell (June, 1998). “POPULATION OF THE 100 LARGEST CITIES AND OTHER URBAN PLACES IN THE UNITED STATES: 1790 TO 1990”. U.S. Census Bureau. Truy cập January 29, 2006.
  35. ^ For cities with greater than 200.000 population. “2000 Census: US Municipalities Over 50.000: Ranked by 2000 Density”. Truy cập August 23, 2007.
  36. ^ Census 2000 PHC-T-29. Ranking Tables for Population of Metropolitan Statistical Areas, Micropolitan Statistical Areas, Combined Statistical Areas, New England City and Town Areas, and Combined New England City and Town Areas: 1990 and 2000. (Microsoft Excel) U.S. Census Bureau. Accessed August 31, 2006.
  37. ^ “Gay and Lesbian Families in the United States: Same-Sex Unmarried Partner Households” (PDF). Human Rights Campaign. Truy cập August 27, 2006.
  38. ^ Tanner, Adam (April 7, 2006). “San Francisco may be the World's Gayest City - Report”. Scotsman. Truy cập September 4, 2006.
  39. ^ a b [http://www.fbi.gov/filelink.html?file=/ucr/05cius/data/documents/05tbl08.xls Uniform Crime Reports: Table 8 Offenses Known to Law Enforcement by State by City, 2005], Federal Bureau of Investigation. Accessed July 24, 2007.
  40. ^ Table 1 Crime in the United States by Volume and Rate per 100.000 Inhabitants, 1986 - 2005 Federal Bureau of Investigation. Accessed July 24, 2007.
  41. ^ End-of-Year Assessment Report Highlights 2005/6PDF (161 KiB) City College of San Francisco. Accessed January 9, 2007.
  42. ^ America's best graduate schools 2007. U.S. News and World Report. Accessed August 26, 2006.
  43. ^ Best Hospitals 2006 U.S. News and World Report. Accessed August 26, 2006.
  44. ^ Hastings Quick Facts University of California, Hastings College of the Law. Accessed August 30, 2006.
  45. ^ Raine, George. (May 13, 2006). Tourism dollars add up: San Francisco seeing more visitors, more cash -- it's our No. 1 industry. San Francisco Chronicle. Accessed August 23, 2006.
  46. ^ Spain, William (November 13, 2004). Cost factors: Top convention cities boast most-affordable lodging. CBS MarketWatch. Accessed September 3, 2006.
  47. ^ San Francisco: Economy city-data.com Accessed September 30, 2006.
  48. ^ Fortune 500 2006 CNNMoney.com Accessed August 31, 2006.
  49. ^ Tan, Aldrich M. (April 12, 2006). “San Francisco is gateway city for immigrants and Silicon Valley Technology”. San Francisco Sentinel. Truy cập August 27, 2006.
  50. ^ Young, Eric (April 2, 2004). “Pact keeps United from flying away”. San Francisco Business Times. Truy cập August 28, 2006.
  51. ^ Raine, George (December 9, 2005). “Taking to the air: Low-fare startup Virgin America says it has the funding to fly”. San Francisco Chronicle. Truy cập August 28, 2006.
  52. ^ Fact Sheet: International Terminal.PDF (26.8 KiB) San Francisco International Airport. (Largest in terms of square feet). Retrieved on August 22, 2006.
  53. ^ Data Center: Passenger Traffic 2005 FINAL. Airports Council International. Retrieved on August 23, 2006.

[sửa] Liên kết ngoài

Flag of California Tiểu bang California
Sacramento (Thủ phủ)
Chủ đề

Khí hậu | Các quận | Kinh tế | Bầu cử | Địa lý | Chính quyền | Lịch sử | Chính trị | người California

Các vùng

Antelope Valley | Beach Cities | Big Sur | Central Coast | Central Valley | Channel Islands | Coachella Valley | Conejo Valley | Crescenta Valley | Cucamonga Valley | Death Valley | East Bay (SF) | Eastern California | East Los Angeles | Emerald Triangle | Gateway Cities | Gold Country | Đại Los Angeles | Harbor Area (LA) | Imperial Valley | Inland Empire | Los Angeles Basin | Mojave | North Bay (SF) | North Coast | Northern California | North San Diego County | Owens Valley | Palos Verdes | The Peninsula | Pomona Valley | Redwood Empire | Russian River | Sacramento Valley | Salinas Valley | San Fernando Valley | San Francisco Bay Area | San Gabriel Valley | San Joaquin Valley | SanSan | Santa Clara Valley | Santa Clarita Valley | Shasta Cascade | Sierra Nevada | Silicon Valley | Sonoma Valley | South Bay (LA) | Southern California | South Los Angeles | Tech Coast | Tri-Valley | Victor Valley | West Los Angeles | Wine Country | Yosemite

Vùng đô thị

Bakersfield | Chico | Fresno | Los Angeles-Long Beach-Glendale | Modesto | Napa | Oakland-Fremont-Hayward | Oxnard-Thousand Oaks-Ventura | Redding | Riverside-San Bernardino-Ontario | Sacramento-Roseville | Salinas | San Diego-Carlsbad-San Marcos | San Francisco-San Mateo-Redwood City | San Jose-Sunnyvale-Santa Clara | Santa Ana-Anaheim-Irvine | Santa Barbara-Santa Maria | Santa Cruz-Watsonville | Santa Rosa-Petaluma | Stockton | Vallejo-Fairfield | Visalia-Porterville | Yuba City

Các quận

Alameda | Alpine | Amador | Butte | Calaveras | Colusa | Contra Costa | Del Norte | El Dorado | Fresno | Glenn | Humboldt | Imperial | Inyo | Kern | Kings | Lake | Lassen | Los Angeles | Madera | Marin | Mariposa | Mendocino | Merced | Modoc | Mono | Monterey | Napa | Nevada | Orange | Placer | Plumas | Riverside | Sacramento | San Benito | San Bernardino | San Diego | San Francisco | San Joaquin | San Luis Obispo | San Mateo | Santa Barbara | Santa Clara | Santa Cruz | Shasta | Sierra | Siskiyou | Solano | Sonoma | Stanislaus | Sutter | Tehama | Trinity | Tulare | Tuolumne | Ventura | Yolo | Yuba