Dãy núi Cascade

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dãy núi Cascade
Dãy núi
Rainierreflect1.jpg
Núi Rainier ở tiểu bang Washington
Các quốc gia Hoa Kỳ, Canada
Các bang Oregon, bang Washington, California, British Columbia
Điểm cao nhất Núi Rainier
 - cao độ 14.410 ft (4.392 m)
 - tọa độ 46°51′1,9″B 121°45′35,6″T / 46,85°B 121,75°T / 46.85000; -121.75000
Chiều dài 700 mi (1.100 km), bắc-nam
Niên đại Thế Pliocen
Bản đồ địa hình dãy Cascade
Bản đồ địa hình dãy Cascade

Dãy núi Cascade (IPA: kæsˈkeɪd) là một dãy núi chính ở phía tây Bắc Mỹ kéo dài từ phía nam tỉnh bang British Columbia của Canada chạy qua hai tiểu bang WashingtonOregon rồi đến Bắc California. Nó bao gồm cả các núi không phải là núi lửa như các ngọn núi hình chóp nhọn gồ ghề của Bắc Cascade (North Cascades) và các núi lửa nổi tiếng có tên chung là Thượng Cascade (High Cascades). Một phần nhỏ của dãy núi ở British Columbia được gọi là Cascade Canada (Canadian Cascades) hay Các núi Cascade (Cascade Mountains); tên gọi thứ hai đôi khi cũng được cư dân tiểu bang Washington dùng để chỉ phần dãy núi Cascade ở tiểu bang này, thay cho tên gọi Bắc Cascade, là tên thông dụng hơn ở Mỹ như trong cụm từ công viên quốc gia Bắc Cascade.

Dãy núi Cascade là bộ phận của vành đai lửa Thái Bình Dương, một vành đai gồm các núi lửa và những ngọn núi có liên quan ở quanh Thái Bình Dương. Tất cả các vụ phun trào núi lửa được biết đến trong lịch sử tại Hoa Kỳ Lục địa là từ các núi lửa của dãy núi Cascade[1]. Hai vụ phun trào núi lửa gần nhất là tại đỉnh Lassen từ năm 1914 đến năm 1921[2] và một lần phun trào núi lửa chính của núi St. Helens năm 1980. Những lần phun trào nhỏ của núi St. Helens cũng đã xảy ra, gần đây nhất là vào năm 2006[3].

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Mảng kiến tạo có liên quan đến dãy núi Cascade

Ở phần cuối phía nam, dãy núi có chiều rộng khoảng 50 đến 80 km (30 đến 50 dặm Anh), độ cao từ 1.370 đến 1.520 mét (4.500 đến 5.000 ft) và có chiều rộng khoảng 130 km (80 dặm) ở phía Bắc Washington. Đỉnh cao nhất phía bắc là ngọn núi Lytton, cao 2.049 mét ở Canada, gần nơi hợp lưu của sông Frasersông Thompson. Tại đây dãy núi chỉ rộng khoảng 16 km (10 dặm). Các núi lửa cao nhất của dãy núi này có tên chung là Thượng Cascade và cao vượt hẳn vùng xung quanh. Thường thì chúng cao hơn các núi lân cận gấp hai lần. Chúng thường có "cao độ khả kiến" (độ cao so với đường gờ cận kề) từ 1,6 km (1 dặm) hoặc hơn. Các đỉnh cao nhất như núi Rainier cao 4.392 mét (14.411 ft)[4] bao quát các vùng xung quanh từ 80 đến 160 km (50 đến 100 dặm).

Phần phía bắc của dãy núi (phía bắc núi Rainier) có tên là Bắc Cascade. Nó rất gồ ghề với nhiều đỉnh thấp dốc và có băng che phủ. Các thung lũng thì rất thấp và các đèo chính chỉ cao khoảng 1.000 mét (3.300 ft). Phần phía nam của Cascade Canada, cũng được xem là thuộc Bắc Cascade, có địa chất và địa lý tương tự.

Núi Shasta nhìn từ đường mòn Siskiyou

Vì dãy núi nằm gần Thái Bình Dương nên lượng mưa rất đáng kể. Đặc biệt là các sườn núi phía tây có lượng mưa hàng năm lên đến 3.800 mm (150 inch) tại một số khu vực. Núi Baker, có lượng tuyết rơi vào một mùa lớn kỷ lục trên thế giới vào năm 1999—và tuyết rơi dày đặc xuống đến cao độ 600 mét (2.000 ft)[5]. Do đó không phải là lạ khi ở dãy núi Cascade, một số nơi có mật độ tuyết tích tụ lên đến trên 5,5 mét (200 inch) như ở hồ Helen (gần đỉnh Lassen) là một trong những nơi có tuyết nhiều nhất trên thế giới. Phần lớn Thượng Cascade phủ tuyết trắng xóa và đóng băng quanh năm. Các sườn núi phía tây có rất nhiều linh sam Douglas, thiết sam miền tâytống quán sủi đỏ trong khi các sườn núi khô hơn ở phía đông có phần nhiều là thông Ponderosa, và thông rụng lá miền tây ở trên cao hơn. Lượng mưa hàng năm trên các chân đồi phía đông giảm xuống đến 200 mm (9 inch) so với phía tây do bị hiệu ứng chắn mưa (vũ ảnh) của núi.[6]

Phía ngoài các chân đồi là một cao nguyên khô cằn được hình thành khoảng 16 triệu năm trước đây từ hàng loạt kết hợp của các tầng khoáng chất bazan có rất nhiều ở khu vực này. Nhiều đợt đá núi lửa nóng chảy lan ra tạo thành một vùng rộng 520.000 km² (200.000 dặm vuông) ở phía đông Washington, Oregon, và những phần phía bắc CaliforniaIdaho được gọi là Cao nguyên Sông Columbia.[7]

Hẻm núi Sông Columbia là một chỗ đứt quãng chính duy nhất trong phần dãy núi Cascade ở phía nước Mỹ. Khi dãy núi Cascade bắt đầu nhô lên 7 triệu năm trước đây trong thế Pliocen, sông Columbia lấy nước từ cao nguyên sông Columbia thấp hơn. Khi dãy núi cao dần, sông Columbia đã có thể tiếp tục tạo ra hẻm núi và đèo chính được thấy ngày nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các vụ phun trào của dãy Cascade trong 4000 năm qua

Người thổ dân châu Mỹ đã sống trong khu vực này hàng ngàn năm và đã tạo ra nhiều câu chuyện huyền thoại có liên quan đến Dãy núi Cascade. Theo một vài truyện kể, các ngọn núi Baker, Jefferson, và Shasta đã được dùng làm nơi trú ẩn để tránh một cơn đại hồng thủy[8]. Những truyện kể khác như truyện "Bridge of the Gods" (Chiếc cầu của các vị thần) có kể về nhiều ngọn núi trong Thượng Cascade như núi Hoodnúi Adams hành động như các tù trưởng thần thánh gây chiến với nhau bằng cách ném lửa và đá vào nhau. Núi St. Helens được xem như một trinh nữ đẹp khiến núi Hood và núi Adams phải tranh giành rồi thù ghét lẫn nhau. Trong số nhiều câu chuyện nói về núi Baker có một câu chuyện kể rằng ngọn núi này trước đây đã từng cưới núi Rainier và sống trong khu vực này. Sau đó, vì một tranh chấp hôn nhân, núi Baker đã tự mình đứng dậy và đi về phía bắc ở vị trí như ta thấy ngày nay. Các bộ lạc người bản thổ cũng đã đặt tên cho các núi thuộc Thượng Cascade và nhiều đỉnh núi nhỏ hơn.[9]

Mùa xuân năm 1792, nhà hàng hải người AnhGeorge Vancouver đến vịnh Puget và bắt đầu đặt tên tiếng Anh cho các ngọn núi cao mà ông thấy[10]. Núi Baker được đặt theo tên vị phó thuyền trưởng thứ ba của ông, núi St. Helens duyên dáng được đặt theo tên của một vị ngoại giao lừng danh, núi Hood được đặt tên để vinh danh Samuel Hood (một đô đốc Hải quân Hoàng gia Anh) và ngọn núi cao nhất dãy núi Cascade là núi Rainier được đặt tên của Đô đốc Peter Rainier. Đoàn thám hiểm của Vancouver tuy nhiên đã không đặt tên cho dãy núi của các ngọn núi này. Khi giao thương đường biển trong eo biển Georgiavịnh Puget diễn ra trong thập niên 1790 về sau, các đỉnh cao của núi Rainiernúi Baker trở nên quen thuộc với các thuyền trưởng và thủy thủ đoàn (đa số là người Anh và người Mỹ, nhưng cũng có một ít người nước ngoài).[10]

Năm 1805, cuộc thám hiểm của Lewis và Clark ngang qua dãy núi Cascade bằng sông Columbia, là con đường duy nhất để vượt qua phần này của dãy núi trong nhiều năm [11]. Giao thương trên hạ lưu sông Columbia không diễn ra cho đến sau cuộc thám hiểm của Lewis và Clark năm 1806, đặc biệt khi David Thompson ghé thăm nhân danh Công ty Vịnh Hudson ngay sau đó và chuyến hành trình của Simon Fraser xuống dòng sông Fraser năm 1808. Cuộc hành trình thám hiểm của Lewis và Clark và sau đó là của dân định cư và thương buôn đã gặp phải trở ngại tại ghềnh thác Cascade trong Hẻm núi Sông Columbia. Những ghềnh thác này hiện nay nằm sâu bên dưới lòng hồ thủy điện Bonneville. Lâu lắm về trước, các dãy núi vĩ đại có đỉnh phủ tuyết nằm trên cao các ghềnh thác được gọi là "mountains by the cascades" (có nghĩa là rặng núi cạnh ghềnh thác) và sau đó đơn giản là "Cascades" nghĩa là "Ghềnh thác" (việc sử dụng tên này sớm nhất được chứng minh trong văn bản của nhà thực vật học David Douglas)[12]. Trong chuyến trở về, đoàn thám hiểm của Lewis và Clark đã khám phá ra một đỉnh núi nhọn phủ tuyết ở phía xa. Họ đặt tên cho nó theo tên của người bảo trợ cuộc thám hiểm, đó là Tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson.[13]

Núi Rainier với thành phố Tacoma, Washington ở tiền cảnh

Việc thám hiểm và định cư vùng Cascade của người châu Âu và người Mỹ được gia tăng nhờ vào việc thiết lập một trạm trao đổi mậu dịch của Công ty Vịnh Hudson tại Đồn Vancouver gần thành phố Portland, Oregon ngày nay[14]. Từ hành dinh này, những người đánh bẫy của Công ty Vịnh Hudson đã vượt qua dãy núi Cascade để tìm săn hải ly và những động vật lấy da. Thí dụ, nhờ dùng con đường mà sau này được biết với cái tên là dường mòn Siskiyou, các thợ đánh bẫy của Công ty Vịnh Hudson là những người đầu tiên không phải người bản xứ thám hiểm miền nam dãy núi Cascade trong thập niên 1820 và thập niên 1830. Nhờ vậy các đường mòn đi qua gần hồ Crater, núi McLoughlin, núi lửa Medicine Lake, núi Shastađỉnh Lassen được hình thành.

Tiến trình lịch sử chính trị trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương đã khiến cái xương sống của dãy núi Cascade được đề nghị là ranh giới định cư trong cuộc tranh chấp Oregon năm 1846. Hoa Kỳ bác bỏ lời đề nghị và luôn đòi dùng vĩ tuyến 49 cắt ngang dãy núi này ngay phía bắc núi Baker[15]. Suốt thời kỳ tranh chấp cho đến lúc thành lập Thuộc địa Hoàng gia British Columbia năm 1858, rìa của dãy núi dọc sông Columbia và sông Okanogan hình thành nên con đường hỏa tốc chính và luôn bận rộn của Công ty Vịnh Hudson. Các con đèo vượt qua dãy núi đã được ban giám đốc của Công ty Vịnh Hudson sử dụng tại Đồn NisquallyĐồn Puyallup. Tính đến năm 1840, đa số dân định cư không phải người bản xứ của vùng dãy núi Cascade là dân chúng dưới quyền của Vương quốc Anh. Họ chủ yếu là dân hợp chủng có dòng máu Pháp, một số người Hawaii, người da đen cũng như người Tô Cách Lan là nòng cốt hành chính của Công ty Vịnh Hudson.[16]

Việc định cư của người Mỹ dọc theo những sườn núi của dãy núi Duyên hải chỉ bắt đầu từ đầu thập niên 1840, ban đầu còn rất giới hạn. Sau hiệp ước Oregon, dòng người di cư đổ vào theo đường mòn Oregon đã gia tăng về cường độ. Các con đèo và thung lũng phía sau của vùng đất bây giờ là tiểu bang Washington được khai phá và định cư. Chẳng bao lâu sau đó, các đường ray được thiết lập. Mặc dù có một số xa lộ chính và đường sắt vượt qua, đồng thời, những sườn núi thấp của nó được khai khẩn để lấy gỗ trong những thập niên vừa qua, nhưng nhiều phần rộng lớn của dãy núi vẫn còn là những vùng núi cao hoang dại hiểm trở. Phân nửa phía bắc của Thượng Cascade bắt đầu từ phía bắc Núi Rainier phần lớn đã và đang được bảo quản bởi các công viên quốc gia Hoa Kỳ hay tỉnh bang British Columbia (thí dụ như công viên tỉnh bang E.C. Manning) hay bằng hình thức khác của những khu bảo tồn.

Lịch sử của dãy núi ở phía Canada gồm có Cơn sốt vàng hẻm núi Fraser năm 1858-60 và con đường Cariboo nổi tiếng của nó. Ngoài ra còn có đường mòn Brigade trước đây của Công ty Vịnh Hudson từ Hẻm núi (Canyon) đến phía bên trong là đường mòn Dewdney và những con đường xưa hơn nối liền phía đông đến các thung lũng SimilkameenOkanagan.[17]

Đường sắt chính ở phía nam của Công ty Đường sắt Thái Bình Dương Canada thâm nhập dãy núi qua các ngọn đèo của sông Coquihalla dọc theo một trong các con đường có nhiều tuyết nhất và dốc đứng nhất trong toàn vùng Cordillera Thái Bình Dương. Gần thị trấn Hope, British Columbia, phía đường sắt và những đường hầm xuyên núi, hiện đã ngưng hoạt động, là những điểm vui chơi giải trí ưa chuộng của khách du lịch đến để đi bộ đường dài và đạp xe đạp. Ngọn đèo được xa lộ Coquihalla sử dụng ngày nay là con đường chính từ Duyên hải đến nội địa British Columbia. Lúc xưa giao thông đi theo lối hẻm núi Fraser đến phía tây hoặc theo đèo Allisoncông viên Manning dọc xa lộ 3 đến miền nam gần biên giới với Hoa Kỳ.

Đường Barlow là con đường trên đất liền được xây dựng đầu tiên cho người định cư Mỹ băng qua dãy núi Cascade năm 1845 và hình thành một điểm nối trên bộ cuối cùng cho đường mòn Oregon (khi trước, các dân định cư phải thả bè xuống những ghềnh thác nguy hiểm của sông Columbia). Đường Barlow rời sông Columbia tại sông Hood và vượt theo sườn phía nam của núi Hood ở Government Camp rồi kết thúc ở Thành phố Oregon.

Ngoài ra, đường mòn Applegate đã được xây dựng cho dân định cư tránh phải đi bè xuống sông Columbia. Đường mòn Applegate dùng phần đường của đường mòn California đến phía bắc Trung Nevada. Từ đó, đường mòn Applegate hướng về phía tây bắc vào Bắc California và tiếp tục theo hướng tây bắc về Ashland, Oregon ngày nay. Từ đó, dân định cư sẽ đi về hướng bắc dọc theo đường mòn Siskiyou vào thung lũng Willamette.

Ngoại trừ lần phun trào năm 1915 của đỉnh Lassen xa xôi ở Bắc California, dãy núi này im lặng khoảng 1 thế kỷ. Rồi ngày 18 tháng 5 năm 1980, ngọn núi ít biết tiếng đến là núi St. Helens bỗng dưng phun trào, phá tan sự im lặng và khiến cho thế giới để ý đến dãy núi này. Các nhà địa chất học cũng quan tâm rằng việc núi St. Helens phun trào là một dấu hiệu của những ngọn núi lửa tiềm ẩn lâu đời của dãy núi Cascade sẽ hoạt động trở lại một lần nữa như trong thời kỳ từ năm 1800 đến 1857, khi đó có đến tám ngọn núi lửa phun trào. Kể từ khi núi St. Helens phun trào cho đến nay không có ngọn núi lửa nào hoạt động trở lại nhưng việc đề phòng đã được tiến hành, thí dụ như Hệ thống cảnh báo núi lửa Mount Rainier trong Quận Pierce, Washington.[18]

Con người sử dụng dãy núi[sửa | sửa mã nguồn]

Điều kiện đất cho nông nghiệp nói chung rất tốt, đặc biệt là phía thuận gió của các ngọn núi lửa vì đá núi lửa thường giàu khoáng chất như kali và phân hủy dễ dàng. Những mảnh vụn của núi lửa, đặc biệt là chất bùn núi lửa, cũng có ảnh hưởng đến việc làm bằng mặt đất. Ngoài ra khả năng giữ nước ở dạng tuyết hay băng của đất cũng rất quan trọng. Đa số lượng nước đó từ từ chảy vào các hồ chứa nước để dùng cho sinh hoạt vui chơi, sản xuất thủy điện hay tưới tiêu hoa màu.

Vì có nhiều dòng thác nước chảy xiết nên nhiều con sông nhánh chính chảy về phía tây của dãy núi Cascade đã được con người xây dựng các con đập ngăn dòng để tạo thủy điện. Một trong các con đập này là đập Ross trên sông Skagit. Hồ nước của đập này trải dài từ biên giới đông nam của Hope, British Columbia vào sâu trong Canada khoảng 2 dặm. Ở chân núi phía đông nam của núi Baker tại Concrete, Washington, sông Baker được ngăn dòng để hình thành hồ Shannon và hồ Baker.

Ngoài ra còn có một số lượng lớn năng lượng địa nhiệt chưa được khai thác mà có thể được tạo ra từ dãy núi Cascade[19]. Chương trình nghiên cứu địa nhiệt của USGS đã và đang nghiên cứu về tiềm năng năng lượng này. Một số năng lượng này đang được sử dụng tại những nơi như Klamath Falls, Oregon là nơi hơi nước núi lửa được dùng để sưởi các tòa nhà công lập.[20] Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận trong dãy núi là 265 °C (510 °F) ở độ sâu 937 mét (3.075 ft) dưới nền núi lửa Newberry.[21].

Các núi lửa của dãy núi Cascade[sửa | sửa mã nguồn]

Các núi lửa chính trong Dãy núi Cascade

Các núi lửa ở phía nam sông Fraser trong vành đai núi lửa Cascade (một thuật ngữ địa chất) thuộc dãy núi Cascade. Các đỉnh được liệt kê từ bắc xuống nam.

Bắc Cascade và Cascade Canada[sửa | sửa mã nguồn]

  • Núi Baker (gần biên giới Hoa Kỳ-Canada) — đỉnh cao nhất ở Bắc Washington. Vẫn còn thấy hơi nước từ miệng núi lửa tỏa ra dù nó được xem là đang ngủ.
  • Đỉnh Glacier (Bắc Washington) — đỉnh núi biệt lập và tương đối khó đến. Ngược với tên của nó khi dịch sang tiếng Việt là Đỉnh Băng hà vì bề mặt phủ băng của nó không nhiều. Núi lửa này rất nhỏ về thể tích. Chiều cao của nó có được chủ yếu nhờ nhô lên trên đỉnh núi thường.

Thượng Cascade[sửa | sửa mã nguồn]

  • Núi Rainier (đông nam thành phố Tacoma, Washington) — đỉnh cao nhất trong dãy núi Cascade, nó chế ngự khung cảnh xung quanh. Không có đỉnh núi nào khác cao hơn về phía bắc cho đến các đỉnh biên giới giữa lãnh thổ Yukon của Canada và tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ trong phạm vi sông Alsek.
  • Núi St. Helens (nam Washington) — Phun trào vào năm 1980, san bằng các khu rừng phía bắc của ngọn núi và phủ tro khắp vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Phần phía bắc của núi bị sập sau vụ phun trào (Núi St. Helens phun trào vào năm 1980).
  • Núi Adams (phía đông núi St. Helens) — đỉnh cao thứ nhì tại Washington và thứ ba trong Dãy núi Cascade.
  • Núi Hood (Bắc Oregon) — đỉnh cao nhất tại Oregon và là đỉnh chính mà du khách thường đến để leo núi ở dãy núi Cascade.
  • Núi Jefferson (phía bắc Trung Oregon) — đỉnh cao thứ nhì tại Oregon.
  • Núi Washington (giữa các đèo Santiam và McKenzie) — một núi lửa dạng khiên đã bị bào mòn nhiều.[22]
  • Three Sisters (gần thành phố Bend, Oregon) — South Sister là ngọn cao nhất và trẻ nhất, có một miệng núi lửa khá rõ ràng. Middle Sister có dạng hình chóp và đã bị bào mòn nhiều. North Sister là ngọn núi già nhất và có đỉnh chóp bằng đá.
  • Núi lửa NewberryNewberry Caldera — có một vùng sụp tạo thành hồ ở miệng núi lửa. Nham thạch rất đa dạng. Dòng nham thạch từ đây đã tràn đến thành phố Bend.
  • Núi Bachelor (gần Three Sisters); một núi lửa dạng khiên biến thành núi lửa dạng tầng, tính theo tuổi địa chất thì rất trẻ (dưới 15.000 năm tuổi). Ngày nay, đây là một nơi trượt tuyết ưa chuộng.
  • Núi Bailey (phía bắc núi Mazama)
  • Núi Thielsen (phía đông núi Bailey) — núi lửa đã bị bào mòn có một chóp nổi bật.
  • Núi Mazama (nam Oregon) — thường được biết với cái tên là hồ Crater, là một vùng bị sụp xuống do núi lửa phun hết đỉnh của nó khoảng 6.900 năm trước. Núi Mazama được ước tính có chiều cao khoảng 3.350 mét (11.000 ft) trước khi phun trào.
  • Núi Scott (nam Oregon) — bên sườn đông nam của hồ Crater. Ở độ cao 2.721 mét (8.929 ft), núi lửa dạng tầng nhỏ này là đỉnh cao nhất của công viên quốc gia Hồ Crater.
  • Núi McLoughlin (gần Klamath Falls, Oregon) — tạo một hình đối xứng khi nhìn từ Hồ Klamath.
  • Núi lửa Medicine Lake — một núi lửa dạng khiên tại Bắc California là núi lửa lớn nhất về thể tích trong dãy núi Cascade.
  • Núi Shasta (bắc California) — ngọn núi cao nhất trong dãy núi Cascade. Có thể được nhìn thấy từ thung lũng Sacramento cách xa khoảng 225 km (140 dặm) vì nó là khung cảnh nổi bật ở vùng này.
  • Đỉnh Lassen (phía nam núi Shasta) — núi lửa cận nam nhất trong dãy núi Cascade và là đỉnh núi dễ leo nhất trong dãy Cascade. Nó đã phun trào từ năm 1914 đến năm 1921, và cũng giống như núi Shasta, có thể nhìn nó thấy từ thung lũng Sacramento cách xa tới 120 dặm Anh(193 km).

Các khu vực được bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Có bốn công viên quốc gia Hoa Kỳ trong dãy núi Cascade và nhiều đài kỷ niệm quốc gia Hoa Kỳ, khu hoang dã Hoa Kỳ, và rừng quốc gia Hoa Kỳ. Mỗi loại khu như thế bảo vệ nhiều mặt như băng hà, núi lửa, đồng địa nhiệt, sông, hồ, rừng, và đời sống hoang dã theo đủ cấp độ khác nhau.

Các vườn quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Những đài kỷ niệm quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Những khu vực hoang dã[sửa | sửa mã nguồn]

Các công viên tỉnh bang (Canada)[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đọc trong trang này với tiểu đề "THE CASCADE MOUNTAINS"
  2. ^ USGS: Các lần phun trào của đỉnh Lassen, California, từ 1914 đến 1917
  3. ^ Núi St. Helens, Washington: Các lần phun trào từ năm 2004 đến hiện tại. USGS. Được truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  4. ^ Công viên quốc gia Núi Rainier: Trang thông tin
  5. ^ Độ dày và lượng tuyết rơi trên dãy núi Cascade
  6. ^ Cascadia Rising: The Mountains
  7. ^ Mô tả núi lửa Idaho:Cao nguyên Sông Columbia
  8. ^ Những câu chuyện về nạn lụt khắp thế giới: Dãy núi Cascade
  9. ^ The Bridge of the Gods: A Romance of Indian Oregon của Frederic Homer Balch, Maynard Dixon.
  10. ^ a ă Núi lửa Cascade
  11. ^ Bảng thời gian cuộc hành trình thám hiểm của Lewis và Clark của PBS
  12. ^ The Cascades - Mountains of the Pacific Northwest của Roderick Peattie
  13. ^ Các núi lửa của Lewis và Clark: Họ đặt tên núi này theo tên vị tổng thống lúc đó là Thomas Jefferson, người đã tài trợ chuyến hành trình của họ
  14. ^ Quận Clark -- Hình ảnh lịch sử
  15. ^ The Oregon Pioneers and the Boundary, của Frederick Merk đăng trong "The American Historical Review" Bộ 29, số 4 (tháng 7 năm 1924), trang 681-699
  16. ^ The Mark of the Scots: Their Astonishing Contributions to History, Science của Duncan A. Bruce
  17. ^ Historical Atlas of British Columbia and the Pacific Northwest của Derek Hayes, Cavendish Books, Vancouver (1999) ISBN
  18. ^ Hệ thống cảnh báo núi lửa Mount Rainier[liên kết hỏng]
  19. ^ Dãy núi Cascade có thể trở thành nguồn cung cấp năng lượng địa nhiệt[liên kết hỏng]
  20. ^ Hệ thống sưởi công cộng bằng địa nhiệt tại Klamath Falls, Oregon[liên kết hỏng]
  21. ^ Newberry có tiềm năng tạo năng lượng địa nhiệt
  22. ^ Mount Washington Wilderness

Đọc thêm bằng tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]