Khu dành riêng cho người bản địa Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ của Cục Bản địa vụ mô tả các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ trong chính địa Hoa Kỳ

Khu dành riêng cho người bản địa Mỹ (tiếng Anh: American Indian reservation) là một khu vực đất do một bộ lạc người bản địa Mỹ (thổ dân người da đỏ) điều hành dưới sự giám sát của Cục Bản địa vụ thuộc Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Có khoảng 210 khu dành riêng cho người bản địa Mỹ tại Hoa Kỳ, điều đó không có nghĩa là tất cả trên 550 bộ lạc người bản địa Mỹ, được công nhận tại Hoa Kỳ, có một khu dành riêng cho mình. Một số bộ lạc có hơn 1 khu dành riêng, một số chia sẻ một khu dành riêng với nhau trong khi những bộ lạc khác không có một khu dành riêng nào cả. Ngoài ra, vì đất đai được giao trong quá khứ dẫn đến tình trạng mua bán cho những người không phải người bản địa Mỹ nên một số khu dành riêng bị phân chia manh mún. Kết quả là mỗi mãnh đất do bộ lạc, cá nhân và đất tư hữu xen kẻ nhau như những "ốc đảo" tách biệt. Điều này làm cho việc quản lý hành chính, chính trị và pháp lý cũng như bất động sản trở nên vô cùng khó khăn.[1]

Tổng diện tích của tất cả các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ tại Hoa Kỳ là 55,7 triệu mẫu Anh (225.410 km²), chiếm 2,3% diện tích Hoa Kỳ (2.379.400.204 mẫu Anh hay 9.629.091 km²). Có mười hai khu dành riêng bản địa Mỹ rộng lớn hơn tiểu bang Rhode Island (776,960 mẫu Anh hay 3.144 km²) và chín khu dành riêng bản địa Mỹ lớn hơn tiểu bang Delaware (1.316.480 mẫu Anh hay 5.327 km²). Lãnh thổ của xứ Navajo bằng diện tích tiểu bang Tây Virginia. Các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ được phân chia không đồng đều trên khắp Hoa Kỳ; phần lớn nằm ở phía tây sông Mississippi và bao gồm các vùng đất công đầu tiên từng được dành riêng qua hiệp ước hay do chính phủ cấp phát.[2]

Vì các bộ lạc giữ chủ quyền bộ lạc, tuy có giới hạn, nên luật lệ trên phần đất bộ lạc có nhiều khác biệt so với khu vực xung quanh.[3] Luật lệ khác biệt này, chẳng hạn, có thể cho phép các sòng bạc được mở hợp pháp trên các khu dành riêng, thu hút du khách. Hội đồng bộ lạc, không phải chính quyền địa phương hay chính phủ liên bang, nói chung có thẩm quyền trên các khu dành riêng. Các khu dành riêng bản địa có các hệ thống chính quyền khác nhau, có thể hoặc không sao chép lại hình thức chính quyền thấy ở bên ngoài khu dành riêng. Đa số các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ được chính phủ liên bang Hoa Kỳ thành lập. Tuy nhiên cũng có một số giới hạn, phần lớn nằm ở miền đông Hoa Kỳ, có được là nhờ sự công nhận từ tiểu bang mà chúng nằm bên trong tiểu bang đó.[4]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi "khu dành riêng" (reservation) xuất phát từ khái niệm các bộ lạc người bản địa Mỹ là các bộ lạc có chủ quyền độc lập vào lúc Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua. Như thế, trong các hiệp ước hòa bình trước kia (thường được ký vì ép buộc) mà các bộ lạc người bản địa Mỹ nhượng lại những phần đất rộng lớn cho Hoa Kỳ cũng có qui định những phần đất nào mà họ trong tư cách chủ quyền "dành riêng" lại cho họ. Những phần đất dành riêng lại cho họ được gọi là "những khu dành riêng."[5] Thuật từ này vẫn còn được sử dụng thậm chí sau khi chính phủ liên bang Hoa Kỳ bắt đầu cưỡng bách các bộ lạc dời nơi định cư đến các khu đất khác mà họ không có mối quan hệ lịch sử nào.

Hiện nay, phần đông người bản địa Mỹ và người bản địa Alaska sống bên ngoài các khu dành riêng, thường thường trong các thành phố lớn ở miền tây như PhoenixLos Angeles.[6][7] Theo điều tra dân số năm 2010, Hoa Kỳ có 5,2 triệu người có một phần hay toàn bộ dòng máu của người bản địa (2,9 triệu là hoàn toàn người bản địa), trong đó có 22% người sống trong các khu dành riêng cho người bản địa.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu (1851)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1851, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Tái định cư người bản địa Mỹ (Indian Appropriations Act). Đạo luật này cho phép thành lập các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ tại nơi ngày nay là tiểu bang Oklahoma. Mối quan hệ giữa người định cư và người bản địa càng trở nên tồi tệ vì người định cư chiếm cứ lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên tại miền Tây Hoa Kỳ.[9]

Vào cuối thập niên 1860, Tổng thống Hoa Kỳ Ulysses S. Grant tuyên bố theo đuổi một "chính sách hòa bình" như một giải pháp tránh xung đột. Chính sách bao gồm việc tái tổ chức cơ quan đặc trách người bản địa, với mục đích di dời vô số các bộ lạc người bản địa ra khỏi quê cha đất tổ của họ để đến các vùng đất được thành lập dành riêng cho họ sinh sống. Chính sách kêu gọi thay thế các viên chức chính phủ bởi những người thuộc tôn giáo do các nhà thờ đề cử để trông coi các cơ quan đặc trách người bản địa tại các khu dành riêng để truyền giảng Kitô giáo cho người bản địa. Đạo Quakers đặc biệt tích cực với chính sách này tại các khu dành riêng.

Vấn đề gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sách nói trên là một vấn đề gây tranh cãi từ lúc bắt đầu. Thường thường các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ được thành lập bởi lệnh hành pháp của tổng thống Hoa Kỳ. Trong nhiều trường hợp, những người định cư da trắng phản đối qui mô của các khu dành riêng nên dần dần chúng bị thu nhỏ lại. Một báo cáo trình lên Quốc hội Hoa Kỳ năm 1868 cho thấy vấn đề tham nhũng tràn lan trong số các cơ quan liên bang đặc trách người bản địa Mỹ và thường thường những bộ lạc bị tái định cư sống trong những điều kiện tồi tệ.

Ban đầu, nhiều bộ lạc phớt lờ lệnh tái định cư và bị đẩy vào các khu đất thu hẹp của họ. Để thực thi chính sách này, Lục quân Hoa Kỳ được sử dụng đến để hạn chế sự đi lại của nhiều bộ lạc. Việc theo đuổi chính sách cưỡng bách người bản địa trở vào các khu dành riêng dẫn đến một số vụ tàn sát người bản địa và chiến tranh. Cuộc xung đột nổi bật nhất là Chiến tranh Sioux ở phía bắc Đại Bình nguyên giữa năm 1876 và 1881, gồm có trận Little Bighorn. Những cuộc chiến tranh khác có liên quan đến vấn đề này còn có Chiến tranh Nez Perce.

Vào cuối thập niên 1870, chính sách do Tổng thống Ulysses Simpson Grant lập ra được xem như thất bại, chính yếu vì nó gây ra một số cuộc chiến tranh đẫm máu giữa người bản địa Mỹ và Hoa Kỳ. Năm 1877, Tổng thống Rutherford B. Hayes bắt đầu dẹp bỏ chính sách này, và vào năm 1882 tất cả các tổ chức tôn giáo từ bỏ vai trò của mình trong cơ quan liên bang đặc trách người bản địa.

Đa số các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ như Khu dành riêng cho người bản địa Laguna tại New Mexico (hình chụp năm 1943) nằm trong miền Tây Hoa Kỳ, thường thường trong các vùng khô cằn không hợp cho nông nghiệp.

Năm 1887, Quốc hội Hoa Kỳ tạo thay đổi lớn trong chính sách đối với các khu dành riêng qua việc thông qua Đạo luật Dawes. Đạo luật kết thúc chính sách cấp đất chung cho cả một bộ lạc, thay vào đó chỉ cung cấp đất cho các thành viên của bộ lạc. Chính sách cấp đất cho các thành viên bộ lạc tiếp tục cho đến năm 1934 thì chấm dứt bởi Đạo luật Tái tổ chức người bản địa.

Sở hữu đất và luật liên bang đối với đất người bản địa[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc thiết lập các khu dành riêng cho người bản địa Mỹ, các lãnh thổ của người bản địa Mỹ thu hẹp thành các mãnh đất vụn so với ban đầu rộng lớn. Việc sở hữu đất đai theo thói quen của người bản địa chỉ kéo dài một thời gian, và không phải là tình trạng chung tại bất cứ bộ lạc nào. Thay vào đó, chính phủ liên bang lập ra những qui định bắt các bộ lạc phải phục tùng mệnh lệnh, trước tiên là của quân đội, và sau đó là Cục Bản địa vụ.[10] Dưới luật liên bang, chính phủ cấp chứng từ cho các khu dành riêng dành cho các bộ lạc. Các khu dành riêng này trở thành các thực thể hợp pháp rồi sau đó hoạt động theo hình thức hợp nhất.[11]

Các bộ lạc nói chung có quyền đối với các hình thức phát triển kinh tế như nông trại, nông nghiệp, du lịch và sòng bạc. Các bộ lạc thuê mướn cả người bản địa và người không phải bản địa cho nhiều công việc khác nhau. Những người này có thể điều hành các cửa hàng bộ lạc, trạm xăng, và phát triển các bảo tàng.[11]

Các thành viên bộ lạc có thể cùng nhau sử dụng một số tài nguyên trên các vùng đất sở hữu của bộ lạc, thí dụ như đồng cỏ chăn nuôi và đất canh tác. Họ cũng có thể xây nhà trên đất bộ lạc nắm giữ. Như thế, các thành viên với vai trò là những người sở hữu chung có thể được so sách với thể thức hợp tác xã, nhưng nhớ rằng, thậm chí một số điều như thế có nguồn gốc từ phong tục bộ lạc trước thời khu dành riêng ra đời thì bộ lạc nói chung cũng có quyền chỉnh sửa lại thông lệ về tài sản chung góp.

Xe ngựa kéo được chất đầy bí ở Khu dành riêng Bản địa Rosebud, khoảng năm 1936.

Với sự ra đời của Đạo luật Dawes năm 1887, chính phủ tìm cách phân chia đất bộ lạc cho cá thể sở hữu.[12] Thông thường, tiến trình phân phát đất cho cá thể dẫn đến việc phân nhóm từng gia đình, và trong vài trường hợp, tạo ra các thị tộc hay các nhóm khác nhau. Trước khi Đạo luật Dawes ra đời thì đã có một vài chương trình phân phát đất cho cá thể nhưng mức độ tan vụn khổng lồ đối với các khu dành riêng đã xảy ra khi đạo luật này được áp dụng mãi cho đến năm 1934 khi Đạo luật Tái tổ chức Bản địa được thông qua. Tuy nhiên, Quốc hội vẫn cho phép một số chương trình phân chia đất bản địa cho cá thể vẫn tiếp tục trong những năm sau đó, thí dụ như tại Khu dành riêng Bản địa Palm Springs/Agua Caliente tại California.[13]

Việc phân phát đất cho cá thể tạo ra một số tình huống như sau: 1) cá thể đem bán, hay chuyển nhượng đất chia - theo Đạo luật Dawes, điều này không được xảy ra cho đến 25 năm sau. 2) cá thể nhận đất và khi mất không có chúc thơ sẽ làm cho việc thừa hưởng thêm phức tạp. Quốc hội tìm cách làm giảm ảnh hưởng của vấn đề bằng cách cho phép các bộ lạc khả năng mua lại các phần đất nhỏ lẻ tẻ có vấn đề thừa hưởng này qua việc cấp nguồn tài chính. Các bộ lạc cũng có thể đưa các mảnh đất như thế vào trong qui hoạch sử dụng đất dài hạn. 3) Với việc chuyển nhượng đất cho những người không phải người bản địa, sự xuất hiện ngày càng gia tăng những người này trên vô số các khu dành riêng đã làm thay đổi nhân khẩu của xứ người bản địa Mỹ. Một trong nhiều điều chứng minh cho sự thật này là các bộ lạc không phải lúc nào cũng có thể hoàn toàn quản lý hữu hiệu một khu dành riêng vì các chủ nhân và các người sử dụng đất không phải người bản địa cho rằng các bộ lạc không có thẩm quyền trên phần đất nằm trong luật lệ trật tự và thuế của chính quyền địa phương.[14]

Thí dụ, yếu tố nhân khẩu cùng với tư liệu sở hữu đất đưa đến vụ kiện tung giữa người bản địa Sioux ở Devils Lake và tiểu bang North Dakota nơi người không phải bản địa sở hữu nhiều đất đai hơn người bộ lạc mặc dù có nhiều người bản địa sinh sống trong khu dành riêng hơn so với người không phải bản địa. Phán quyết của tòa án dựa một phần trên nhận thức về tính chất bản địa, cho rằng bộ lạc không có thẩm quyền trên các mảnh đất đã bị san nhượng. Trong một số trường hợp, thí dụ như Khu dành riêng Bản địa Yakama, các bộ lạc đã làm dấu các khu vực mởđóng bên trong các khu dành riêng. Người ta có thể tìm thấy phần nhiều nhà cửa và đất đai của người không phải bản địa trong các khu vực "mở" và ngược lại các khu vực "đóng" là nơi đặc biệt có nhà cửa và những gì có liên quan đến người bản địa.[15]

Nông trại bò của người bản địa Paiute tại Khu dành riêng Bản địa Pyramid Lake, 1973.

Điều quan trong cần biết là ngày nay xứ bản địa Mỹ gồm có chính quyền ba thành phần —thí dụ, liên bang, tiểu bang và/hay địa phương, và bộ lạc. Tại xứ bản địa Mỹ, chính quyền địa phương hay chính quyền tiểu bang có thể áp đặt một số thẩm quyền luật lệ và trật tự nhưng có giới hạn, dĩ nhiên thẩm quyền bộ lạc có bị giảm thiểu. Tuy nhiên đối với vấn đề cờ bạc thì xứ bản địa thắng thế vì luật liên bang chỉ coi tiểu bang là đối tượng phải thi hành bất cứ thỏa thuận văn bản và khế ước nào được đưa ra.[16]

Cuối cùng, những thứ khác nằm trong các khu dành riêng có thể là với tư cách của bộ lạc hay sở hữu cá nhân. Có nhiều nhà thờ nằm trên các khu dành riêng. Phần lớn chiếm dụng đất bộ lạc với sự ưng thuận của chính phủ liên bang hay bộ lạc. Các văn phòng của Cục Bản địa vụ, bệnh viện, trường học và nhiều cơ sở khác thường chiếm dụng những mảnh đất liên bang còn xót lại bên trong các khu dành riêng. Cũng có các khu dành riêng để lại một hay nhiều (khoảng 640 mẫu Anh) phần đất để xây trường học. Những phần đất được hiến cho các tiểu bang vào thời điểm trở thành tiểu bang. Như thường thấy, những phần đất như thế có thể nằm yên bất động hay bị gặm nhắm dần bởi những người bộ lạc làm nông trại.

Đạo luật tái tổ chức khu dành riêng bản địa (1934)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo luật Tái tổ chức Bản địa 1934, cũng còn được biết đến là Đạo luật Howard-Wheeler, đôi khi được gọi là Chương trình New Deal Bản địa. Đạo luật này sắp xếp lại quyền lợi mới cho người bản địa Mỹ, đảo ngược một số chính sách tư hữu hóa trước kia, khuyến khích chủ quyền bộ lạc và việc điều hành đất đai của bộ lạc. Đạo luật cho phép giao đất cho cá thể người bản địa và giảm thiểu việc giao đất quá nhiều cho những người không phải bản địa.

Trong 20 năm kế tiếp, chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư vào hạ tầng cơ sở, y tế, và giáo dục tại các khu dành riêng bản thổ, trên 2 triệu mẫu Anh (8.000 km²) đất được giao trả lại cho nhiều bộ lạc khác nhau. Tuy nhiên, sau một thập niên kể từ khi John Collier (người đề xướng chương trình New Deal Bản địa) về hưu, lập trường của chính phủ bắt đầu xoay theo chiều ngược lại. Các ủy viên mới đặc trách vấn đề người bản địa là Myers và Emmons giới thiệu ý tưởng về "chương trình thu hồi" hay "chấm dứt" mà theo đó tìm cách kết thúc trách nhiệm và sự dấn thân của chính phủ đối với người bản địa Mỹ để ép buộc họ hội nhập.

Người bản địa Mỹ sẽ mất đất của họ nhưng vẫn được bồi thường. Dù sự phản đối và không hài lòng của xã hội đã giết chết ý tưởng này trước khi nó được đem ra áp dụng toàn bộ nhưng có đến 5 bộ lạc bị giải tán: đó là Coushatta, Ute, Paiute, Menominee và Klamath, và 114 nhóm tại California không còn được liên bang công nhận là bộ lạc. Nhiều cá nhân bị dời cư đến các thành phố nhưng 1 phần 4 trở về các khu dành riêng cho bộ lạc của họ trong nhiều thập niên sau đó.

Đời sống và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người bản địa Mỹ đang sống trong các khu dành riêng bản địa tiếp cận với chính phủ liên bang qua hai cơ quan sau: Cục Bản địa vụDịch vụ Y tế Bản địa.

Chất lượng sống trên các khu dành riêng có thể so sánh như chất lượng sống tại các nước đang phát triển, với các vấn đề như trẻ sơ sinh chết, tuổi thọ, dinh dưỡng và nghèo khó, và lạm dung rượu và ma túy. Thí dụ, Quận Shannon, South Dakota, là nơi có Khu dành riêng Bản địa Pine Ridge, thường được liệt kê là một trong số các quận nghèo nhất Hoa Kỳ.

Kinh doanh cờ bạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1979, bộ lạc Seminole tại tiểu bang Florida mở cửa kinh doanh loại trò chơi lô tô ăn cược lớn trên khu dành riêng của họ nằm trong tiểu bang Florida. Tiểu bang tìm cách đóng cửa hoạt động này nhưng bị các tòa án ngăn chặn. Thập niên 1980, vụ án California đối đầu Cabazon Band of Mission Indians đã thiết lập nên quyền lực của các khu dành riêng bản địa trong việc điều hành các loại hoạt động cờ bạc. Năm 1988, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật chỉnh đốn cờ bạc tại các khu dành riêng bản địa. Đạo luật này công nhận quyền của các bộ lạc người bản địa Mỹ thiết lập các cơ sở cờ bạc trên khu dành riêng của mình miễn sao các tiểu bang mà các khu dành riêng bản địa nằm trong đó có một số hình thức cờ bạc hợp pháp nào đó.

Ngày nay, nhiều sòng bạc của người bản địa Mỹ được sử dụng như những điểm hấp dẫn du lịch. Cơ bản gồm có khách sạn, phòng hội nghị để thu hút khách du lịch và thu nhập cho khu dành riêng của họ. Sự thành công trong các hoạt động cờ bạc tại một số khu dành riêng bản địa đã làm gia tăng rất lớn sự thịnh vượng kinh tế của một số bộ lạc người bản địa Mỹ, giúp họ có thể đầu tư cải thiện hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế cho người dân của mình.

Thi hành luật pháp và tội phạm[sửa | sửa mã nguồn]

Tội phạm nghiêm trọng trên các khu dành riêng bản địa xưa nay do chính phủ liên bang xử lý. Thường thường Cục Điều tra Liên bang có trách nhiệm điều tra và chưởng lý Hoa Kỳ thuộc khu pháp lý liên bang mà khu dành riêng bản địa nằm trong đó, có trách nhiệm khởi tố.[17] Tội phạm trong xứ bản địa được xếp loại ưu tiên thấp đối với cả Cục Điều tra Liên bang[18] và phần lớn các công tố viên liên bang.

Các tội phạm nghiêm trọng thường được điều tra qua loa, hay việc truy tố cũng giảm nhẹ hình phạt. Các tòa án bộ lạc từng bị hạn chế kết án tội phạm 1 năm hoặc ít hơn,[19] cho đến ngày 29 tháng 7 năm 2010 khi Đạo luật Trật tự và Luật pháp Bộ lạc được áp dụng mà trong đó một số biện pháp được đưa ra để cải cách hệ thống, cho phép tòa án bộ lạc ra mức án lên đến 3 năm tù miễn sao các tiến trình xử án được lập hồ sơ lưu giữ và thêm các quyền cho bị cáo khi bị xử án.[20][21]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sutton, 1991
  2. ^ Kinney, 1937; Sutton,1975
  3. ^ Davies & Clow; Sutton 1991.
  4. ^ For general data, see Tiller (1996).
  5. ^ See, e.g., United States v. Dion, 476 U.S. 734 (1986); Francis v. Francis, 203 U.S. 233 (1906).
  6. ^ “Racial and Ethnic Residential Segregation in the United States: 1980-2000”. Census.gov. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  7. ^ For Los Angeles, see Allen, J. P. and E. Turner, 2002. Text and map of the metropolitan area show the widespread urban distribution of California and other Indians.
  8. ^ Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ (1 tháng 11 năm 2011). “American Indian and Alaska Native Heritage Month: November 2011”. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  9. ^ Bennett, Elmer (2008). Federal Indian Law. The Lawbook Exchange. tr. 201–203. ISBN 1-58477-776-1, 9781584777762 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  10. ^ Kinney 1937
  11. ^ a ă Tiller (1996)
  12. ^ Getches et al, pp. 140–190.
  13. ^ The Equalization Act, 1959.
  14. ^ Sutton, ed., 1991.
  15. ^ Wishart and Froehling
  16. ^ Indian Gaming Regulatory Act, 1988
  17. ^ “Native Americans in South Dakota: An Erosion of Confidence in the Justice System”. Usccr.gov. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ FBI "Facts and Figures" See prominently displayed list of priorities, accessed August 10, 2010
  19. ^ "Lawless Lands" a 4 part series in The Denver Post last updated November 21, 2007
  20. ^ "Expansion of tribal courts' authority passes Senate" article by Michael Riley in The Denver Post Posted: 25 June 2010 01:00:00 AM MDT Updated: 25 June 2010 02:13:47 AM MDT Accessed June 25, 2010
  21. ^ "President Obama signs tribal-justice changes" article by Michael Riley in The Denver Post, Posted: 30 July 2010 01:00:00 AM MDT, Updated: 30 July 2010 06:00:20 AM MDT, accessed July 30, 2010

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • J. P. Allen and E. Turner, Changing Faces, Changing Places: Mapping Southern Californians (Northridge, CA: The Center for Geographical Studies, California State University, Northridge, 2002).
  • George Pierre Castle and Robert L. Bee, eds., State and Reservation: New Perspectives on Federal Indian Policy (Tucson: University of Arizona Press, 1992)
  • Richmond L. Clow and Imre Sutton, eds., Trusteeship in Change: Toward Tribal Autonomy in Resource Management (Boulder: University Press of Colorado, 2001).
  • Wade Davies and Richmond L. Clow, American Indian Sovereignty and Law: An Annotated Bibliography (Lanham,MD: Scarecrow Press, 2009).
  • T. J. Ferguson and E. Richard Hart, A Zuni Atlas (Norman: University of Oklahoma Press, 1985)
  • David H. Getches, Charles F. Wilkinson, and Robert A. Williams, Cases and Materials on Federal Indian Law, 4th ed. (St. Paul: West Group, 1998).
  • Klaus Frantz, "Indian Reservations in the United States", Geography Research Paper 241 (Chicago: University of Chicago Press, 1999).
  • James M. Goodman, The Navajo Atlas: Environments, Resources, People, and History of the Diné Bikeyah (Norman: University of Oklahoma Press, 1982).
  • J. P. Kinney, A Continent Lost: A Civilization Won: Indian Land Tenure in America (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1937)
  • Francis Paul Prucha, Atlas of American Indian Affairs (Norman: University of Nebraska Press, 1990).
  • C. C. Royce, comp., Indian Land Cessions in the United States, 18th Annual Report, 1896–97, pt. 2 (Wash., D. C.: Bureau of American Ethnology; GPO 1899)
  • Imre Sutton, "Cartographic Review of Indian Land Tenure and Territoriality: A Schematic Approach", American Indian Culture and Research Journal, 26:2 (2002): 63–113..
  • Imre Sutton, Indian Land Tenure: Bibliographical Essays and a Guide to the Literature (NY: Clearwater Publ. 1975).
  • Imre Sutton, ed., "The Political Geography of Indian Country", American Indian Culture and Resource Journal, 15()2):1–169 (1991).
  • Imre Sutton, "Sovereign States and the Changing Definition of the Indian Reservation", Geographical Review, 66:3 (1976): 281–295.
  • Veronica E. Velarde Tiller, ed., Tiller’s Guide to Indian Country: Economic Profiles of American Indian Reservations (Albuquerque: BowArrow Pub., 1996/2005)
  • David J. Wishart and Oliver Froehling, "Land Ownership, Population and Jurisdiction: the Case of the 'Devils Lake Sioux Tribe v. North Dakota Public Service Commission'," American Indian Culture and Research Journal, 20(2): 33–58 (1996).
  • Laura Woodward-Ney, Mapping Identity: The Coeur d’Alene Indian Reservation, 1803–1902 (Boulder: University Press of Colorado, 2004)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]