Nam Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Mỹ
South America (orthographic projection).svg
Diện tích

17,840,000 km2

(6,890,000 dặm vuông)
Dân số 385,742,554
Mật độ dân số 21.4/km2 (56.0/dặm vuông)
Quốc gia 12 (Danh sách quốc gia)
Phần phụ thuộc 3
Múi giờ UTC-2 đến UTC-5
Những thành phố lớn nhất Danh sách các vùng đô thị châu Âu
Bản đồ hành chính Nam Mỹ
Hình ảnh chụp từ vệ tinh khu vực Nam Mỹ

Nam Mỹ (hay Nam Mĩ) là phần lục địa nằm ở phía tây của Nam bán cầu Trái Đất thuộc châu Mỹ, bắt đầu từ phía nam kênh đào Panama trở xuống. Vùng này cũng chiếm phần lớn khu vực Mỹ Latinh do người dân ở đây chủ yếu sử dụng tiếng Tây Ban Nhatiếng Bồ Đào Nha.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thế kỷ 16[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Nam Mỹ trước thế kỷ 16, là khu vực sinh sống của nhiều bộ tộc. Trong đó, bộ tộc Inca là hùng mạnh nhất, họ đã thành lập cho mình một đế chế hùng mạnh với mức độ tổ chức cao. Thời kỳ huy hoàng nhất, diện tích của đế chế đã chiếm phần lớn diện tích của Nam Mỹ. Họ đã xây dựng nên một nền văn hóa nông nghiệp phát triển rực rỡ trên dãy Andes.

Nhưng đến năm 1532, khi Francisco Pizarro đổ bộ vào bờ biển Peru trong tháng 4 năm 1532, thì nền văn hóa Inca cũng như của các dân tộc khác của Nam Mỹ bắt đầu suy tàn. Dẫn đến việc, đến cuối thế kỷ 16, phần lớn Nam Mỹ đã trở thành thuộc địa của bọn thực dân phương Tây(Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Các dân tộc bị tàn sát đẫm máu vì những vũ khí hiện đại mà trước giờ họ chưa từng nhìn thấy.

Sau thế kỷ 16[sửa | sửa mã nguồn]

Các thuộc địa Tây Ban Nha giành được độc lập trong khoảng những năm 1804 và 1824, Simón BolívarJosé de San Martín là những người lãnh đạo phong trào. Bolívar là tướng quân dẫn đầu cuộc Nam tiến trong khi Jose de San Martín đã đưa quân bản bộ của mình tiến dọc theo dãy Andes, và hội quân với tướng Bernardo O'Higgins tại Chile. Và từ Chile, các ông lại tiếp tục Bắc tiến sau khi đã tập trung được lực lượng. Hai cánh quân cuối cùng đã liên thủ được với nhau tại Guayaquil, Ecuador khi họ đụng đầu với cánh quân của Hoàng gia Tây Ban Nha. Cánh quân Hoàng gia này bị đánh bại và buộc phải đầu hàng.

Tại Brasil, thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, chính Dom Pedro I, con trai của vua Bồ Đào Nha Dom Jõao VI, là người tuyên bố "Brasil độc lập" vào năm 1822. Ông này trở thành hoàng đế đầu tiên của Brasil. Hành động của Dom Pedro I nhận được sự chấp thuận của Hoàng gia Bồ Đào Nha.

Dẫu cho Bolivar đã cố gắng kêu gọi và có những hành động nhằm nhất thể hóa về chính trị đối với những khu vực nói tiếng Tây Ban Nha mới giành được độc lập, nhưng sự kì khu của ông hầu như không có kết quả. Các khu vực này nhanh chóng tuyên bố độc lập, tham gia vào các cuộc cạnh tranh lẫn nhau và phần lớn đều giải quyết bằng bạo lực. Các cuộc chiến nổi tiếng trong quãng thời gian này là cuộc Chiến tranh Đồng minh Ba nướcChiến tranh Thái Bình Dương.

Một vài quốc gia mới giành được độc lập trong thế kỉ 20:

Quốc gia Nước từng chiếm đóng Năm độc lập
Trinidad và Tobago Anh Quốc 1962
Suriname Hà Lan 1975
Guyana Anh Quốc 1966

Riêng lãnh thổ Guyane thuộc Pháp vẫn duy trì trạng thái chính trị là một phần nằm trong nước Cộng hòa Pháp, và mới đây lãnh thổ này là nơi mà Cơ quan Không gian châu Âu (European Space Agency) đặt một trong những trạm không gian chính yếu của họ - trạm Centre Spatial Guyanais.

Cơ quan lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan lập pháp tại các quốc gia Nam Mỹ được tổ chức theo hai hệ thống, đơn viện và lưỡng viện. Trong đó đơn viện gồm các quốc gia: Ecuador, Peru, Venezuela, Suriname, Guiana, Guiana thuộc PhápQuần đảo Falkland. Lưỡng viện gồm các quốc gia: Brazil, Argentina, Uruguay, Paraguay, Chile, BoliviaColombia. Trong các nghị viện tại Nam Mỹ, Quốc hội Brazil có nhiều thành viên nhất, với 616 thành viên, thượng viện có 166 nghị sĩ và hạ viện có 450 nghị sĩ. Nghị viện Quần đảo Falkland có ít thành viên nhất, chỉ với 11 đại biểu, nghị viện Guiana thuộc Pháp có 19 nghị sĩ, nghị viện Guiana thuộc Pháp có 65 thành viên.

Quốc gia Tổng số ghế Thượng viện Hạ viện
 Brazil 616 ghế 166 ghế 450 ghế
 Argentina 329 ghế 72 ghế 257 ghế
 Uruguay 129 ghế 30 ghế 99 ghế
 Paraguay 125 ghế 45 ghế 80 ghế
 Chile 158 ghế 38 ghế 120 ghế
 Colombia 268 ghế 102 ghế 166 ghế
 Bolivia 166 ghế 36 ghế 130 ghế
 Peru 130 ghế Không chia viện Không chia viện
 Ecuador 124 ghế Không chia viện Không chia viện
 Venezuela 165 ghế Không chia viện Không chia viện
 Suriname 51 ghế Không chia viện Không chia viện
 Guyana 65 ghế Không chia viện Không chia viện
 Guiana thuộc Pháp 19 ghế Không chia viện Không chia viện
 Quần đảo Falkland 11 ghế Không chia viện Không chia viện

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình Nam Mỹ phân hóa rất rõ nét từ Tây sang Đông: Dãy Andes, trung du, và các đồng bằng phía tây. Ngày nay Nam Mỹ gồm các quốc gia:

Tên quốc gia,vùng[1] Diện tích
(km²)
Dân số
(1 July 2002 est.)
Mật độ dân cư
(trên km²)
Thủ đô, thủ phủ
Argentina 2.766.890 39.921.833 14.3 Buenos Aires
Bolivia 1.098.580 8.989.046 8.1 La Paz, Sucre[2]
Brasil 8.511.965 188.078.227 21.9 Brasília
Chile[3] 756.950 16.134.219 21.1 Santiago
Colombia 1.138.910 43.593.035 37.7 Bogotá
Ecuador 283.560 13.547.510 47.1 Quito
Quần đảo Falkland (Anh Quốc) 12.173 2.967 0.24 Stanley
Guyane thuộc Pháp (Pháp) 91.000 199.509 2.1 Cayenne
Guyana 214.970 767.245 3.6 Georgetown
Paraguay 406.750 6.506.464 15.6 Asunción
Peru 1.285.220 28.302.603 21.7 Lima
Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich (Anh) 3.093 Grytviken
Suriname 163.270 439.117 2.7 Paramaribo
Uruguay 176.220 3.431.932 19.4 Montevideo
Venezuela 912.050 25.730.435 27.8 Caracas
Caribe
Aruba (Hà Lan) 193 71.891 370.8 Oranjestad
Antille thuộc Hà Lan 732 221.736 221.3 Willemstad
Trinidad và Tobago 5.128 1.065.842 212.3 Port of Spain
Trung Mỹ:
Panama[4] 25.347 540.433 21.3 Panama City
Tổng cộng 17.853.007 377.544.044 (2006)

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt hai thế kỷ, các quốc gia Nam Mỹ đã trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế cao, điều này có thể thấy được qua các công trình xây dựng như tòa nhà Gran CostaneraChile hay hệ thống tàu điện ngầm Bogota Metro. Tuy nhiên, các vấn nạn truyền thống như tỉ lệ lạm phát cao ở hầu hết tất cả các quốc gia, tỉ lệ lãi suất giữ ở mức cao, đầu tư thấp đang là những cản trở chính cho nền kinh tế các quốc gia Nam Mỹ. Tỉ lệ lãi suất thường cao gấp đôi so với Hoa Kỳ. Ví dụ, tỉ lệ lãi suất ở Venezuela là 22% và ở Surinam là 23%. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là Chile, quốc gia đang áp dụng những chính sách kinh tế tự do từ khi thiết lập chế độ độc tài quân sự năm 1973 và gia tăng chi tiêu xã hội khi mô hình dân chủ được khôi phục đầu thập niên 1990. Điều này đã giúp Chile có được sự ổn định về kinh tế và mức lãi xuất ở mức một con số.

Nền kinh tế Nam Mỹ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu hàng hóa và tài nguyên thiên nhiên. Theo tỉ giá hối đoái cơ bản, Brazil là quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu với 137.8 tỉ USD, tiếp đến là Chile với 58.12 tỉ và Argentina với 46.46 tỉ.[5]

Khoảng cách kinh tế giữa người giàu và người nghèo ở các quốc gia Nam Mỹ được cho là cao nhất trong các châu lục. Ở Venezuela, Paraguay, Bolivia và nhiều quốc gia Nam Mỹ khác, 20% số người giàu nắm giữ 60% tài sản quốc gia, trong khi 20% số người nghèo chỉ chiếm chưa đến 5% tài sản quốc gia. Khoảng cách về thu nhập này có thể thấy ở rất nhiều thành phố lớn ở Nam Mỹ nơi có những lều trại và các khu nhà ổ chuột nằm xen kẽ giữa các tòa cao ốc và trung tâm mua sắm sang trọng.

GDP bình quân đầu người năm 2005

Thứ hạng Quốc gia GDP
bình quân đầu người
55 Chile 7.040
66 Venezuela 5.026
67 Argentina 4.802
69 Uruguay 4.656
74 Brasil 4.316
90 Peru 2.812
91 Colombia 2.742
94 Ecuador 2.502
118 Paraguay 1.165
123 Bolivia 1.058

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngữ hệ La Mã ở châu Mỹ Latin:

   Tiếng Tây Ban Nha

   Tiếng Bồ Đào Nha

   Tiếng Pháp

Tiếng Bồ Đào Nha (193.,197.164 người sử dụng)[6]Tây Ban Nha (193.243.411 người sử dụng)[7] là các ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Nam Mỹ. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức ở hầu hết các quốc gia, cùng với các ngôn ngữ bản địa khác ở một vài quốc gia. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức của Brazil. Tiếng Hà Lan là nguôn ngữ chính thức của Suriname; tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Guyana, mặc dù có ít nhất 12 ngôn ngữ được sử dụng ở quốc gia này như HindiẢ Rập. Tiếng Anh cũng được sử dụng ở quần đảo Falkland. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của Guiana thuộc Pháp và là ngôn ngữ thứ 2 ở Amapa (Brasil).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo bản đồ của Liên hợp Quốc.
  2. ^ La Paz là thủ đô hành chính của Bolivia; Sucre là nơi đặt các cơ quan lập pháp
  3. ^ Santiago là thủ đô hành chính của Chile; Valparaísolà nơi tổ chức các cuộc hội họp của giới lập pháp
  4. ^ Panama được coi là quốc gia xuyên (liên) lục địa. Panama thuộc về cả Trung Mỹ và Nam Mỹ. Trong bảng chỉ là số liệu cho phần Nam Mĩ, là phần nằm phía đông của kênh đào Panama.
  5. ^ “CIA - The World Factbook - Rank Order - Exports”. Cia.gov. 9 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  6. ^ “Estimativas da População”. 
  7. ^ Theo ước tính cho đến năm 2010. Nguồn theo quốc gia: Argentina “Proyecciones provinciales de población por sexo y grupos de edad 2001–2015”. Gustavo Pérez. INDEC. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |páginas= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |idioma= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |formato= (trợ giúp); Bolivia “Bolivia”. World Gazetteer. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. ; Colombia “Departamento Administrativo Nacional de Estadística”. Dane.gov.co. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010. ; Ecuador Department of Economic and Social Affairs Population Division (2009). [_text_tables.pdf World Population Prospects, Table A.1] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp) (PDF). 2008 revision. United Nations. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009. ; Paraguay Department of Economic and Social Affairs Population Division (2009). World Population Prospects, Table A.1 (PDF). 2008 revision. United Nations. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009. ; Peru Instituto Nacional de Estadística e Informática (INEI) del PerúINEI. Retrieved on June 10, 2010; Uruguay Central Intelligence Agency. “Uruguay”. The World Factbook. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]