Suriname
| Republiek Suriname | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
||||||
| Khẩu hiệu Tư pháp- Lòng mộ đạo - Đức tin (tiếng Latinh: "") |
||||||
| Quốc ca Opo kondreman |
||||||
| Thủ đô (và là thành phố lớn nhất) |
Paramaribo |
|||||
| Ngôn ngữ chính thức | tiếng Hà Lan | |||||
| Chính phủ | Dân chủ | |||||
| • | Tổng thống | Dési Bouterse | ||||
| Độc lập | ||||||
| • | - Ngày | |||||
| Diện tích | ||||||
| • | Tổng số | 163,270 km² (hạng 90) |
||||
| • | Nước (%) | 1,10% | ||||
| Dân số | ||||||
| • | Ước lượng 2006 | 439.117 (hạng 172) | ||||
| • | Điều tra 2004 | 487.024 (hạng 172) | ||||
| • | Mật độ | 3 /km² (hạng 190) |
||||
| GDP (PPP) | Ước tính 2005 | |||||
| • | Tổng số | 2,081 tỷ đô la Mỹ | ||||
| HDI (2003) | 0,755 (trung bình) (hạng 86) | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Đô la Suriname (SRD) |
|||||
| Múi giờ | ART (UTC-3) | |||||
| Tên miền Internet | .sr | |||||
Suriname (tiếng Hà Lan: Republiek Suriname) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Suriname toạ lạc giữa Guiana thuộc Pháp về phía đông và Guyana về phía tây. Biên giới phía nam chung với Brasil còn ranh giới phía bắc là bờ biển Đại Tây Dương. Biên giới cực nam với Guiana thuộc Pháp đang bị tranh chấp nằm dọc theo các sông Marowijne và Corantijn. Suriname là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất về diện tích ở Nam Mỹ. Đây là khu vực nói tiếng Hà Lan duy nhất ở ở Tây Bán Cầu không thuộc Vương quốc Hà Lan. Suriname cực kỳ đa dạng về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo. Diện tích quốc gia này gần 165.000 km². Quốc gia này có 1 phần tư dân số sống dưới 2 đô la Mỹ mỗi ngày. [1]
Mục lục |
[sửa] Tên gọi
[sửa] Địa lý
Suriname nằm ở khu vực Nam Mỹ, Bắc giáp Đại Tây Dương, Nam giáp Brasil, Đông giáp lãnh thổ Guyane thuộc Pháp, Tây giáp Guyana. Phần lãnh thổ phía Nam trải rộng trên vùng núi và cao nguyên Guyana, bao phủ bởi các khu rừng rậm xích đạo, thoải dần về phía Bắc là vùng đồng bằng đầm lầy ven biển.
[sửa] Lịch sử
Surimane được Cristoforo Colombo phát hiện năm 1499. Vùng lãnh thổ này trở thành thuộc địa của Anh từ năm 1650, được nhượng lại cho Hà Lan năm 1667 để phát triển các đồn điền mía, bị Anh xâm chiếm từ năm 1796. Việc bãi bỏ chế độ nô lệ (1863) đã dẫn đến các đợt nhập cư từ Ấn Độ và Indonesia sang. Năm 1948, lãnh thổ này trở thành vùng Guyana thuộc Hà Lan, được đặt tên là Suriname. Hiến pháp năm 1954 mang lại cho vùng này quyền tự trị rộng rãi hơn. Suriname giành được độc lập năm 1975.
Cuộc đảo chính quân sự năm 1980 đưa Đại tá Desi Bouterse lên cầm quyền. Từ năm 1982, phong trào kháng chiến du kích phát triển ở miền Nam và miền Đông, buộc giới quân nhân chấp nhận tiến trình dân chủ hóa. Năm 1988, Ramsewak Shankar được bầu làm Tổng thống, trong khi Desi Bouterse vẫn cầm quyền kiểm soát quân đội. Năm 1990, giới quân nhân trở lại cầm quyền. Năm 1991, Ronald Venetiaan, ứng cử viên thuộc liên minh đối lập với quân đội đắc cử Tổng thống. Năm 1992, một hiệp định hòa bình được kí kết giữa Chính phủ và quân du kích.
Sau khi chấm dứt cuộc nội chiến, Suriname ra sức tái thiết kinh tế đất nước. Năm 1997, Jules Wijdenbosch, được sự hậu thuẫn của Bourterse, đắc cử Tổng thống. Năm 1999, một tòa án Hà Lan kết án tù vắng mặt đối với Desi Bouterse vì tội buôn lậu ma túy. Năm 2000, Ronald Venetiaan trở lại cầm quyền và ra sức tái thiết kinh tế với sự giúp đỡ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hà Lan.
[sửa] Kinh tế
Nông nghiệp chủ yếu là ngành trồng trọt (lúa, mía, chuối và cam), các nguồn lợi khác thu nhập từ đánh bắt cá và khai thác gỗ. Bauxit và nhôm được sản xuất tại chỗ nhờ các công trình thủy điện và cũng là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Tình trạng tham nhũng, lạm phát và thiếu năng lực kìm hãm sự phát triển của đất nước.
[sửa] Văn hóa
[sửa] Chính trị
Surimane theo chính thể cộng hòa.
Đứng đầu nhà nước là tổng thống. Đứng đầu chính phủ là thủ tướng. Tổng thống và Phó Tổng thống (đồng thời là Thủ tướng) do quốc hội bầu ra, nhiệm kì 5 năm. Tổng thống chỉ định các thành viên của Nội các. Hội đồng Nhà nước gồm 14 thành viên được chỉ định. Hội đồng Nhà nước lãnh đạo Quốc hội.
Cơ quan lập pháp là Quốc hội gồm 51 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán được đề cử suốt đời.
Các đảng phái chính gồm có : Mặt trận mới (NF), Đảng Cải cách tiến bộ (VHP), Đảng Quốc gia Suriname (NPS), Đảng Thống nhất và đoàn kết dân tộc (KTPI), Đảng Lao động Suriname (CSPA), Đảng Dân chủ dân tộc (NDP), v.v..
[sửa] Hành chính
Suriname được chia thành 10 quận :
3.Coronie
5.Nickerie
6.Para
10.Wanica
[sửa] Nhân khẩu
Dân số Surimane hiện khoảng 470,784 người. Gồm các nhóm dân tộc : Hindustani (còn được gọi là "người Ấn Độ phương Đông" tổ tiên của họ di cư từ Bắc Ấn Độ vào cuối thế kỷ 19) chiếm 37% dân số, người Creole chiếm 31%, người Java 15%, người Maroon 10%, người Hoa 2%, người Da Trắng 1%, người bản xứ 2%. Ngôn ngữ chính thức của quốc gia là tiếng Hà Lan, ngoài ra còn có tiếng Anh, tiếng Hindustani (thổ ngữ của tiếng Hindi), tiếng Java.
Tôn giáo gồm có : Ấn Độ giáo 27.4%, Tin lành 25.2%, Công giáo Rôma 22.8%, Hồi giáo 19.6%, tín ngưỡng bản địa 5%.
[sửa] Du lịch
[sửa] Tham khảo
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |
|
|||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Suriname. |