Chuối

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuối
Luxor, Banana Island, Banana Tree, Egypt, Oct 2004.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Zingiberales
Họ (familia) Musaceae
Chi (genus) Musa
Các loài
Có nguồn gốc lai ghép; xem văn bản

Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa; trái của nó là trái cây được ăn rộng rãi nhất. Những cây này có gốc từ vùng nhiệt đớiĐông Nam ÁÚc. Ngày nay, nó được trồng khắp vùng nhiệt đới.[1]

Chuối được trồng ở ít nhất 107 quốc gia.[2] Ở nhiều vùng trên thế giới và trong thương mại, "chuối" là từ thường được dùng để chỉ các loại quả chuối mềm và ngọt. Những giống cây trồng có quả chắc hơn được gọi chuối lá. Cũng có thể cắt chuối mỏng, sau đó đem chiên hay nướng để ăn giống như khoai tây. Chuối khô cũng được nghiền thành bột chuối.

Quả của những cây chuối dại (ở Việt Nam còn gọi là chuối rừng) có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối được buôn bán để ăn thiếu hột (xem Trái cây không có hột) vì đã được thuần hóa lâu đời nên có bộ nhiễm sắc thể tam bội. Có hai loại chuối cơ bản: các dạng chuối tráng miệng có màu vàng và được ăn khi chín, còn các loại chuối nấu được nấu khi còn màu xanh. Hầu hết chuối được xuất khẩu thuộc về loại đầu tiên; tuy nhiên, chỉ khoảng 10–15% tổng sản lượng chuối được xuất khẩu. Hoa Kỳ và các nước trong Liên minh châu Âu nhập khẩu chuối nhiều nhất.

Thực vật học[sửa | sửa mã nguồn]

Cây chuối thuộc về họ Chuối. Nó được trồng chủ yếu để lấy trái cây của nó, và ở mức độ ít hơn là thân và để trang trí. Vì cây thường mọc lên cao, thẳng, và hơi vững, nó thường bị lầm lẫn với thân cây thật, trong khi "thân" chính của nó là một "thân giả" (tiếng Anh: pseudostem). Thân giả của một số loài có thể cao tới 2–8 m, với kéo dài 3,5 m. Mỗi thân giả có thể ra 1 buồng chuối màu vàng, xanh, hay ngay cả màu đỏ, trước khi chết và bị thay bằng thân giả mới. Quả của những cây chuối dại (ở Việt Nam còn gọi là chuối rừng) có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối được buôn bán để ăn thiếu hột (xem Trái cây không có hột) vì đã được thuần hóa lâu đời nên có bộ nhiễm sắc thể đa bội (thường là tam bội). Cây thường mọc thành bụi và được trồng bằng cách tách rời cây non đem trồng thành bụi mới.

Quả chuối ra thành nải treo, mỗi tầng (gọi là nải) có tới 20 quả, và mỗi buồng có 3–20 nải. Các nải nhìn chung gọi là một buồng, nặng 30–50 kg. Một quả trung bình nặng 125 g, trong số đó vào khoảng 75% là nước và 25% là chất khô. Mỗi quả riêng có vỏ dai chung quanh thịt mềm ăn được. Vỏ và thịt đều ăn được ở dạng tươi hay đã qua chế biến (nấu). Những người phương Tây thường ăn thịt chuối còn tươi và vứt vỏ, trong khi một số nước Á Đông nấu rồi ăn cả vỏ và thịt. Quả chuối thường có nhiều sợi (gọi là bó libe) nằm giữa vỏ và thịt. Chuối chứa nhiều vitamin B6, vitamin Ckali.

Hoa chuối điển hình với hoa đực ở đầu và hoa cái mọc trên cao hơn hoa đực

Cây chuối có thân giả lên tới 6–7,6 m, mọc lên từ một thân ngầm. Lá chuối ra theo hình xoắn và có thể kéo dài 2,7 m và rộng 60 cm.[3] Cây chuối là loài thân thảo lớn nhất.[4] Hoa chuối thường lưỡng tính, đầu hoa thường ra một hoa đực riêng, không sinh sản, còn được gọi là bắp chuối, nhưng đôi khi có thể ra thêm – một thân cây chuối ở Hinigaran, Negros Occidental, Philippines ra năm hoa.[5] Bắp chuối được dùng như rau ở Đông Nam Á; nó được hấp, trộn salad, hoặc ăn sống.[6] Các hoa cái ở trên hoa đực và không cần được thụ phấn để tạo quả chuối.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm vi phân bố của tổ tiên của chuối ăn hiện đại. Musa acuminata được thể hiện trong màu xanh lá cây và Musa balbisiana trong màu cam.[7]

Chuối được thuần hóa ở Đông Nam Á. Nhiều loài chuối dại vẫn còn mọc lên ở New Guinea, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Gần đây, di tích về khảo cổ học và môi trường cổ tại đầm lầy Kuk ở tỉnh Cao nguyên Tây, Papua New Guinea gợi ý rằng chuối được trồng ở đấy bắt đầu trễ nhất năm 5000 TCN, nhưng có thể từ 8000 TCN.[8] Vụ khám phá này có nghĩa rằng cao nguyên New Guinea là nơi mà chuối được thuần hóa đầu tiên. Có lẽ những loài chuối dại khác được trồng ở những vùng khác tại Đông Nam Á.

Một số vùng cô lập ở Trung Đông có thể nuôi chuối từ thời gian trước khi Hồi giáo ra đời. Có chứng cớ trong văn kiện rằng nhà tiên tri Muhammad biết ăn nó. Sau đó, văn minh Hồi giáo trải ra nhiều nước, và chuối đi theo. Những văn kiện Hồi giáo (như là bài thơ và truyện thánh) nói đến nó nhiều lần, bắt đầu từ thế kỷ 9. Vào thế kỷ 10, những văn kiện PalestineAi Cập đã nói đến chuối; từ đấy, chuối lan qua Bắc PhiTây Ban Nha Hồi giáo. Thực tế là vào thời Trung cổ, chuối từ Granada (Tây Ban Nha) được coi là những chuối ngon nhất trong thế giới Ả Rập.[9]

Các phytolith được khám phá trong một số cây chuối hóa thạch ở Cameroon từ thiên niên kỷ 1 TCN[10] đã gây ra cuộc tranh luận về lúc bắt đầu trồng cây chuối ở châu Phi. Có chứng ngôn ngữ học rằng người Madagascar đã biết về chuối vào lúc đó.[11] Trước các khám phá này, chứng cớ sớm nhất về sự trồng chuối ở châu Phi có từ cuối thế kỷ 6 CN về sau.[12] Người Hồi giáo Ả Rập chắc buôn chuối từ bờ biển đông của châu Phi đến bờ biển Đại Tây Dương và về phía nam tới Madagascar.[9] Năm 650, quân đội Hồi giáo mang chuối đến vùng Palestine.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nelson, Scot C.; Randy C. Ploetz; và Angela Kay Kepler (2006). Musa species (banana and plantain)” (PDF). Species Profiles for Pacific Island Agroforestry (bằng tiếng Anh). Traditional Tree Initiative.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  2. ^ “ProdSTAT: Crops”. FAOSTAT. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới. 2005. Truy cập 9 tháng 12, 2006. 
  3. ^ Morton, Julia F (1987). “Banana”. Fruits of Warm Climates (bằng tiếng Anh). Miami, Florida. tr. 29–46. ISBN 0-9610184-1-0.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  4. ^ Miles, Tim (tháng 5 năm 2002). “Yes, we have more bananas”. Royal Horticultural Society Journals (bằng tiếng Anh) (Hiệp hội Làm vườn Hoàng gia).  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  5. ^ Angolo, Angelo (15 tháng 5, 2008). “Banana plant with five hearts is instant hit in Negros Occ”. ABS-CBN News Online (bằng tiếng Anh) (ABS-CBN). Truy cập 17 tháng 5, 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  6. ^ Solomon, Charmaine; Nina Solomon (tháng 9 năm 1998). “Banana Flower”. Encyclopedia of Asian Food (bằng tiếng Anh). Periplus Editions. ISBN 9625934170. Truy cập 17 tháng 5, 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  7. ^ Edmond de Langhe & Pierre de Maret (2004). “Tracking the banana: its significance in early agriculture”. Trong Jon G. Hather. The Prehistory of Food: Appetites for Change. Routledge. tr. 372. ISBN 978-0-203-20338-5. 
  8. ^ “Tracing antiquity of banana cultivation in Papua New Guinea” (bằng tiếng Anh). The Australia & Pacific Science Foundation. 24 tháng 10, 2006. Truy cập 18 tháng 9, 2007. 
  9. ^ a ă Watson, Andrew (1983). Agricultural innovation in the early Islamic world (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 54.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  10. ^ De Langhe, Edmond; Pierre de Maret. “Tracking the Banana: Significance to Early Agriculture” (Microsoft Word) (bằng tiếng Anh).  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  11. ^ Zeller, Friedrich J. “Herkunft, Diversität und Züchtung der Banane und kultivierter Zitrusarten” (PDF). Journal of Agriculture and Rural Development in the Tropics and Subtropics (bằng tiếng Đức).  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  12. ^ Lejju, B. Julius; Peter Robertshaw; David Taylor (28 tháng 6, 2005). “Africa's earliest bananas?” (PDF). Journal of Archeological Science (bằng tiếng Anh).  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]