Na
| Na | |
|---|---|
Hình vẽ mãng cầu ta |
|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Mesangiospermae |
| Phân lớp (subclass) | Magnoliidae |
| Bộ (ordo) | Magnoliales |
| Họ (familia) | Annonaceae |
| Chi (genus) | Annona |
| Loài (species) | A. squamosa |
| Danh pháp hai phần | |
| Annona squamosa L., 1753 |
|
Na, hay còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi, (danh pháp hai phần: Annona squamosa), là một loài thuộc chi Na (Annona) có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng người ta cho rằng nó là cây bản địa của vùng Caribe.
Mục lục |
Đặc tính cây trồng [sửa]
Cây na cao cỡ 2–5 mét, lá mọc xen ở hai hàng; hoa xanh, quả tròn có nhiều múi (thực ra mỗi múi là một quả), hạt trắng có màu nâu sậm. Hạt có chứa độc tố, có tính làm bỏng da và có thể trừ sâu bọ, chấy rận.
Cây na trông từ 4-5 năm mới cho quả nên mới có thành ngữ : "Trẻ trồng na, già trồng chuối".
Thành phần hóa học [sửa]
Trong lá có một loại ancaloit vô định hình, không có glucozit.
Công dụng [sửa]
Các giống na [sửa]
Ở miền Bắc, quả na được phân thành hai loại là na dai và na bở dựa vào đặc tính của quả (sự liên kết giữa các múi với vỏ và giữa các múi với nhau).
Na dai có ưu điểm ăn ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ,[1] múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.[2] Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc nổi bật hơn so với na bở.[3]
Huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) được coi là “vựa na” lớn nhất cả nước, nơi này có 2 khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành.[1]
Ở miền Nam có mãng cầu dai hay còn gọi là mãng cầu Cấp (mãng cầu Vũng Tàu). Mãng cầu dai chắc, nhiều thịt, ít hột, vỏ mỏng và ngọt hơn các loại mãng cầu khác. Những quả mãng cầu Cấp có vỏ xù xì, múi không đều, không mọng, nhưng có vị thơm và ngọt sắc.[4]
Thơ văn [sửa]
Quả na được nhắc đến ở bài thơ "Ò ó o" của Trần Đăng Khoa trong tập thơ Góc sân và khoảng trời và được in trong sách giáo khoa lớp 1 ở Việt Nam.
- Tiếng gà
- Giục quả na
- Mở mắt
- Tròn xoe...
Na cũng được nhắc tới trong các thành ngữ:
- Na mở mắt.
- Răng đen hạt na.
Một vài bức ảnh [sửa]
Xem thêm [sửa]
- Bình bát, còn gọi là nê (Annona reticulata).
- Mãng cầu xiêm (Annona muricata).
Tham khảo [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikispecies có thông tin sinh học về: Na |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Na. |
|
|||||||