Na

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Annona squamosa
Annona squamosa Blanco1.192.png
Hình vẽ mãng cầu ta
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Mesangiospermae
Phân lớp (subclass) Magnoliidae
Bộ (ordo) Magnoliales
Họ (familia) Annonaceae
Chi (genus) Annona
Loài (species) A. squamosa
Danh pháp hai phần
Annona squamosa
L.[1]
Danh pháp đồng nghĩa

Na, hay còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi, (danh pháp hai phần: Annona squamosa), là một loài thuộc chi Na (Annona) có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng người ta cho rằng nó là cây bản địa của vùng Caribe.

Đặc tính cây trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Cây na cao cỡ 2–5 mét, lá mọc xen ở hai hàng; hoa xanh, quả tròn có nhiều múi (thực ra mỗi múi là một quả), hạt trắng có màu nâu sậm. Hạt có chứa độc tố, có tính làm bỏng da và có thể trừ sâu bọ, chấy rận.

Cây na trông từ 4-5 năm mới cho quả nên mới có thành ngữ: "Trẻ trồng na, già trồng chuối".

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lá có một loại ancaloit vô định hình, không có glucozit.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các giống na[sửa | sửa mã nguồn]

miền Bắc, quả na được phân thành hai loại là na daina bở dựa vào đặc tính của quả (sự liên kết giữa các múi với vỏ và giữa các múi với nhau).

Na dai có ưu điểm ăn ngọt, để được lâu, không dễ nát, dễ bóc vỏ,[6] múi na nhằn dễ tróc ra khỏi hột và múi cũng dai hơn.[7] Quả na dai có vỏ mềm, màu xanh, thịt trắng lại ít hạt. Thêm vào đó, na dai được ưa chuộng hơn bởi mùi thơm và vị ngọt sắc nổi bật hơn so với na bở.[8]

Huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) được coi là "vựa na" lớn nhất cả nước, nơi này có 2 khu vực trồng na nổi tiếng: na bở ở khu vực thị trấn Đồng Mỏ và na dai khu vực Đồng Bành.[6]

miền Nam có mãng cầu dai hay còn gọi là mãng cầu Cấp (mãng cầu Vũng Tàu). Mãng cầu dai chắc, nhiều thịt, ít hột, vỏ mỏng và ngọt hơn các loại mãng cầu khác. Những quả mãng cầu Cấp có vỏ xù xì, múi không đều, không mọng, nhưng có vị thơm và ngọt sắc.[9]

Thơ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Quả na được nhắc đến ở bài thơ "Ò ó o" của Trần Đăng Khoa trong tập thơ Góc sân và khoảng trời và được in trong sách giáo khoa lớp 1Việt Nam.

Tiếng gà
Giục quả na
Mở mắt
Tròn xoe...

Na cũng được nhắc tới trong các thành ngữ:

  • Na mở mắt.
  • Răng đen hạt na.

Một vài bức ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Natural Resources Conservation Service (NRCS). “PLANTS Profile, Annona squamosa L.”. The PLANTS Database. United States Department of Agriculture,. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ Germplasm Resources Information Network (GRIN) (11 tháng 7 năm 1997). “Taxon: Annona squamosa L.”. Taxonomy for Plants. USDA, ARS, National Genetic Resources Program, National Germplasm Resources Laboratory, Beltsville, Maryland. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008. 
  3. ^ Dr. Richard Wunderlin, Dr. Bruce Hansen. “synonyms of Annona squamosa. Atlas of Florida Vascular Plants. Institute for Systematic Botany, University of Florida. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008. 
  4. ^ Missouri Botanical Garden (1753). Annona squamosa L.”. Tropicos. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008. 
  5. ^ “Current name: Annona squamosa. AgroForestryTree Database. International Center For Research In Agroforestry. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ a ă Vựa na trên dãy Kai Kinh
  7. ^ Mùa thu - mùa trái chín
  8. ^ Chào hạ, đón thu, na mở mắt
  9. ^ Quả na

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]