Bưởi
| Bưởi | ||||||||||||||||
| Phân loại khoa học | ||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||
| Danh pháp hai phần | ||||||||||||||||
| Citrus maxima Merr. |
Bưởi (danh pháp hai phần: Citrus maxima (Merr., Burm. f.), hay Citrus grandis L., là một loại quả thuộc chi Cam chanh, thường có màu xanh lục nhạt cho tới vàng khi chín, có múi dày, tép xốp, có vị ngọt hoặc chua ngọt tùy loại. Bưởi có nhiều kích thước tùy giống, chẳng hạn bưởi Đoan Hùng chỉ có đường kính độ 15 cm, trong khi bưởi Năm Roi, bưởi Tân Triều (Biên Hòa), bưởi da xanh (Bến Tre) và nhiều loại bưởi khác thường gặp ở Việt Nam, Thái Lan có đường kính khoảng 18–20 cm.
Bưởi tiếng Anh gọi là Pomelo, tuy nhiên nhiều từ điển ở Việt Nam dịch bưởi ra thành grapefruit, thực ra grapefruit là tên gọi bằng tiếng Anh của bưởi chùm (Citrus paradisi) - loại cây lai giữa bưởi và cam, có quả nhỏ hơn, vỏ giống cam, mùi bưởi, ruột màu hồng, vị chua hơi đắng. Sai lầm dẫn này đến lỗi tiếng Anh của nhiều người khác.
Quả bưởi và bòng là 2 trái khác nhau. So với quả bưởi, bòng nhỏ và tròn hơn. Nếu đường kính trái bưởi là 18–20 cm thì trái bòng có kích thước trung bình nhỏ hơn khoảng 13–15 cm. Hạt quả bòng nhỏ hơn nhưng lại dày hơn của trái bưởi, tép cũng nhỏ hơn. Về mùi vị, trái bưởi có mùi thơm nhẹ nhàng, ngọt ngào hơn. Ngoài ra, so với trái bưởi, bòng chua hơn nhiều và so với vị thanh và ngọt của trái bưởi.
Mục lục |
Miêu tả [sửa]
Bưởi là loài cây to, cao trung bình khoảng 3–4 m ở tuổi trưởng thành, vỏ thân có màu vàng nhạt, ở những kẽ nứt của thân đôi khi có chảy nhựa. Cay than go. Cành có gai dài, nhọn. Lá có gan hinh mang,la hình trứng, dài 11–12 cm, rộng 4,5-5,5 cm, hai đầu tù, nguyên, dai, cuống có dìa cánh to. Hoa thuộc loại hoa kép, đếu, mọc thành chùm 6-10 bông. Quả hình cầu to, vỏ dày, màu sắc tùy theo giống.
Cây bòng thường nhỏ hơn, lá xanh hơn cây bưởi, tuy nhiên chiều cao của cây bòng lại cao hơn trung bình cây bưởi tới 1m.
Trước đây, ở nhiều vùng quê Việt Nam, cây bòng là khá phổ biến tuy nhiên tính chất vượt trội hơn là trái ngon hơn và thời gian ra quả sớm nên dân ta dần chuyển đổi sang trồng bưởi. Ngoài ra, do tình lai tạo cấy ghép nên, những đặc điểm sơ khai trở nên khó phân biệt hơn và nhiều người chỉ nhận thấy sự xuất hiện của trái bưởi trên thị trường.
Về đặc tính địa lí, ở Việt Nam, cây bòng chủ yếu được trồng ở miền Bắc và bưởi chủ yếu được trồng ở miền Nam [cần dẫn nguồn].
Công dụng phụ [sửa]
- Lá bưởi thường được dùng nấu với các lá thơm khác để xông chữa cảm cúm, nhức đầu.
- Vỏ quả bưởi chữa ăn uống không tiêu, đau bụng, hoặc để nấu chè bưởi.
- Vỏ hạt bưởi có thể trích lấy pectin làm thuốc cầm máu và dùng như gôm chải tóc.
- Dịch ép múi bưởi làm thuốc chữa tiêu khát, thiếu vitamin C
- Bột than hạt bưởi có thể dùng chữa chốc đầu ở trẻ em.
Hoa bưởi trong thơ ca [sửa]
-
- “Mỗi mùa xuân thơm lừng hoa bưởi
- Rắc trắng vườn nhà những cánh hoa vương
- Em lại nhớ ngày xưa anh ra trận
- Cũng giữa mùa hoa bưởi ngát hương
- ...
- Chân anh đi khắp rừng khắp núi
- Mỗi nẻo đường, mỗi xóm làng xa
- Hẳn đâu cũng thơm mùi hoa bưởi
- Hương vị non sông, hương vị quê nhà”
(Trích Mùa Hoa Bưởi của Tô Hùng)
-
- “Khung cửa sổ hai nhà cuối phố
- Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ
- Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
- Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
-
- Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
- Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
- Bên ấy có người ngày mai ra trận
- Bên ấy có người ngày mai đi xa...”
(Trích Hương Thầm của Phan Thị Thanh Nhàn)
Một vài hình ảnh [sửa]
-
Bưởi Ipoh bán tại Phố Tầu, Singapore
Xem thêm [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
Tham khảo [sửa]
- Đỗ Tất Lợi, "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", Nhà xuất bản Y học, 2006.
|
|||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Bưởi. |