Kim quất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Citrus japonica
Kumquat.jpeg
Cây và quả kim quất
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Rutaceae
Phân họ (subfamilia) Aurantioideae
Tông (tribus) Citreae
Chi (genus) Citrus
Loài (species) C. japonica
Danh pháp hai phần
Citrus japonica
Thunb.

Kim quất là một nhóm thực vật có quả múi nhỏ, có hoa thuộc chi Cam chanh (Citrus), họ Cửu lý hương (Rutaceae). Quả của nó trông giống quả cam nhưng nhỏ hơn nhiều. Trước đây kim quất được xếp vào chi Fortunella.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Carl Peter Thunberg phân loại kim quất là Citrus japonica trong sách Flora Japonica của ông xuất bản năm 1784. Năm 1915, Walter T. Swingle phân loại lại sang một chi riêng, gọi là Fortunella để vinh danh Robert Fortune. Nói chung người ta từng công nhận 6 loài thuộc chi Fortunella là kim quất quả tròn hay kim quất (F. japonica), kim quất quả dài (F. margarita), kim quất Miewa (F. crassifolia), kim quất Hồng Kông (F. hindsii), kim quất Giang Tô (F. obovata) và kim quất Mã Lai (F. polyandra). Sách Quần thực vật Trung Hoa đưa kim quất trở lại chi Citrus và kết hợp tất cả các loài thành một loài duy nhất với danh pháp Citrus japonica.[1]

Các giống[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cách phân loại cũ, kim quất có các loài sau:

  • Citrus japonica: là giống có quả hình tròn, được trồng nhiều nhất, thường gọi là quất (tức hạnh, tắc). Ở miền Bắc Việt Nam thường dùng cây quất làm cây cảnh trang trí trong dịp Tết Nguyên Đán.
  • Citrus margarita: còn gọi là quất Nagami, là giống có quả hình oval, lá cây xanh sậm và tương đối nhỏ.
  • Citrus obovata: còn gọi là quất Giang Tô hay quất Fukushu, là giống có lá tròn trông khác với lá của các giống khác.
  • Citrus crassifolia
  • Citrus hindsii: còn gọi là quất Hồng Kông, cũng hay dùng làm cây cảnh.
  • Citrus polyandra: là giống quất lá dài.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Kim quất là phiên âm Hán-Việt của hai chữ 金橘. Ở Triều Tiên cây này gọi là geumgyul, cũng là phiên âm của hai chữ Hán nói trên. Ở một số nơi khác như Nhật Bản hay Phúc Kiến, người ta gọi theo phiên âm của 金柑 (âm Hán Việt: kim cam) thành kinkan (Nhật Bản) hay gīm-gam (Phúc Kiến). Ở Việt Nam, quất hay tắc là giống Fortunella japonica, và quất ngọt là giống Fortunella margarita.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fruits of warm climates
  • Burkill I. H. (1931). An enumeration of the species of Paramignya, Atalantia and Citrus, found in Malaya. Gard. Bull. Straits Settlem. 5: 212–220.
  • Mabberley D. J. (1998). Australian Citreae with notes on other Aurantioideae (Rutaceae). Telopea 7 (4): 333-344. Có sẵn bản trực tuyến (pdf).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zhang Dianxiang, Thomas G. Hartley, David J. Mabberley, Rutaceae trong Flora of China 11: 51-97 (2008)