Ổi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ổi
Psidium guajava fruit.jpg
Ổi (Psidium guajava)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Myrtales
Họ (familia) Myrtaceae
Chi (genus) Psidium
Loài (species) P. guajava
Danh pháp hai phần
Psidium guajava
L.

Ổi ta (danh pháp khoa học: Psidium guajava) là loài cây ăn quả thường xanh lâu năm, thuộc họ Đào kim nương, có nguồn gốc từ Brasil.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cây ổi nhỏ hơn cây vải, nhãn, cao nhiều nhất 10m, đường kính thân tối đa 30 cm. Những giống mới còn nhỏ và lùn hơn nữa[1].

Thân cây chắc, khỏe, ngắn vì phân cành sớm. Thân nhẵn nhụi rất ít bị sâu đục, vỏ già có thể tróc ra từng mảng phía dưới lại có một lượt vỏ mới cũng nhẵn, màu xám, hơi xanh. Cành non 4 cạnh, khi già mới tròn dần, lá đối xứng[1].

Hoa lưỡng tính, bầu hạ, mọc từng chùm 2, 3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá, cánh 5, màu trắng, nhiều nhị vàng, hạt phấn nhỏ rất nhiều, phôi cũng nhiều. Ngoại hoa thụ phấn dễ dàng nhưng cũng có thể tự thụ phấn[1].

Quả to từ 4 – 5g đến 500 – 700 g gần tròn, dài thuôn hoặc hình chữ lê. Hạt nhiều, trộn giữa một khối thịt quả màu trắng, hồng, đỏ vàng. Từ khi thụ phấn đến khi quả chín khoảng 100 ngày[1].

Các giống ổi[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều giống ổi khác nhau: ổi trâu, ổi Bo, ổi xá lị có quả to nhưng kém thơm ngọt; ổi mỡ, ổi găng, ổi đào, ổi nghệ tuy quả nhỏ nhưng ngọt và rất thơm[2]

Thành phần dinh dưỡng và hoá học[sửa | sửa mã nguồn]

Quả và lá ổi đều chứa beta-sitosterol, quereetin, guaijaverin, leucocyanidin và avicularin; lá còn có tinh dầu dễ bay hơi, eugenol; quả chín chứa nhiều vitamin C và các polysaccarit như fructoza, xyloza, glucoza, rhamnoza, galactoza...; rễ có chứa axit arjunolic; vỏ rễ chứa tanin và các axit hữu cơ[3].

Hàm lượng dinh dưỡng trung bình trong 100 gam quả ổi: 1 gam protein, 15 mg canxi, 1 mg sắt, 0,06 mg retinol (vitamin A), 0,05 mg thiamin (vitamin B1) và 200 mg axit ascorbic (vitamin C). Hàm lượng vitamin C cao trong quả ổi hơn đáng kể so với trong cam[4]. Quả ổi cũng giàu pectin[5].

Theo một tài liệu khác, quả ổi chứa 77,9% nước, 0,9% protein, 0,3% lipit, 15 %cacbohydrat, 0,3% axit hữu cơ, 0,5% tro, 0,03 mg% vitamin B1, 0,03 mg% vitamin B2, 0,2 mg% vitamin PP, 50 –60 mg% vitamin C[2]. Các loại đường trong quả ổi gồm 58,9% fructoza, 35,7% glucoza, 5,3% saccaroza. Các axit hữu cơ chính là axit citric và axit malic[2].

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (healthaliciousness.com[6]):

Quả ổi, giống Apple Guava, tính theo 100 g phần ăn được
Năng lượng 36-50 cal
Hàm lượng nước 77-86 g
Xơ tiêu hóa 2,8-5,5 g
Protein 0,9-1,0 g
Chất béo 0,1-0,5 g
Tro 0,43-0,7 g
Carbohydrat 9,5-10 g
Calcium 9,1–17 mg
Phospho 17,8–30 mg
Sắt 0,30-0,70 mg
Carotene (Vitamin A) 200-400 I.U
Axit ascorbic (Vitamin C) 200–400 mg
Thiamin (Vitamin B1) 0,046 mg
Riboflavin (Vitamin B2) 0,03-0.04 mg
Niacin (Vitamin B3) 0,6-1,068 mg

Trong lá ổi có chứa 10 phần trăm tanin cùng các thành phần tương tự và 0,3% tinh dầu (chủ yếu là caryophyllene, β-bisabolene, ngoài ra có aromadendrene, β-selinene, nerolidiol, oxit caryophyllene và Sel-11-en-4a-ol và eugenol), và cũng có thể có tecpen (axit oleanolic, axit ursolic)[7]. Vỏ cây chứa 25-30% tanin.[8]

Điều kiện sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Quả ổi

Cây ổi lá xanh quanh năm, không chịu được rét, độ nhiệt -2 °C cả cây lớn cũng chết. Ngược lại ổi chịu đựng dễ dàng những độ nhiệt cao ở các sa mạc nếu đủ nước. Độ nhiệt thấp ví dụ dưới 18 - 20 °C thì quả bé, phát triển chậm chất lượng kém[1].

Ổi thích khí hậu ẩm, nếu lượng mưa hàng năm 1.500 – 4.000 mm phân bố tương đối đều thì không phải tưới. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả năng phát triển nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 – 4 m và hơn. Nếu mưa nhiều, mực nước dâng cao ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt đất do đó không bị ngạt.. Thậm chí bị ngập hẳn vài ngày ổi cũng không chết.[1].

Ổi trồng được ở nhiều loại đất, pH thích hợp từ 4,5 đến 8,2. Ổi không sợ gió nhưng giống quả to lá to khi bị bão bị rách lá, rụng quả[1].

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Làm thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Quả ổi có thể được ăn tươi hoặc chế biến thành mứt đông hay đồ hộp nước ổi. Tuỳ theo từng giống ổi mà quả ổi chín có thể có vị ngọt hay chua.

Làm thuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân đều được dùng để làm thuốc. Nghiên cứu dược lý cho thấy dịch chiết các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng[3].

Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng sáp, tính ấm, có công dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết; quả ổi vị ngọt hơi chua sáp, tính ấm, có công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng; các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp tính và mạn tính, thấp độc, thấp chẩn, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết...[3]

Các bài thuốc dân gian từ cây ổi được sử dụng ở Việt Nam, Trung Quốc, Hawaii, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Caribe, Tây Phi...

Công dụng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vỏ cây được sử dụng trong quá trình thuộc da nhờ có hàm lượng tannin cao[9].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Trung Tâm Nghiên cứu và chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh - Giới thiệu cây ổi
  2. ^ a ă â Quách Đĩnh, Nguyễn Vân Tiếp, Nguyễn Văn Thoa (2008). Bảo quản và chế biến rau quả. Hà Nội: Khoa học kỹ thuật. tr. 51. 
  3. ^ a ă â Vị thuốc từ cây ổi
  4. ^ Samson, trang 4
  5. ^ Nowak, trang 210
  6. ^ Healthaliciousness.com [2008]
  7. ^ Rätsch, tr. 455f
  8. ^ Baumann, tr. 110
  9. ^ Samson, tr.215

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]