Indonesia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Indonesia
Republik Indonesia (tiếng Indonesia)
Flag of Indonesia.svg National emblem of Indonesia Garuda Pancasila.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Indonesia
Khẩu hiệu
Bhinneka Tunggal Ika
(Tiếng Java cổ/Kawi: Thống nhất trong đa dạng)
Hệ tư tưởng quốc gia: Pancasila Indonesia
Quốc ca
Indonesia Raya
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Indonesia
Thủ đô Jakarta
6°8′N, 106°45′Đ
Thành phố lớn nhất Jakarta
Địa lý
Diện tích 1,919,440 km² (hạng 15)
Diện tích nước 4,85% %
Múi giờ UTC+7 đến +9
Lịch sử
Độc lập
17 tháng 8 năm 1945 Tuyên bố
27 tháng 12 năm 1945 Công nhận
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 248.645.008[1] người (hạng 4)
Dân số (2000) 206.264.595 người
Mật độ 126 người/km² (hạng 61)
Kinh tế
GDP (PPP) (2012) Tổng số: 908,242 tỷ USD[2] (hạng 16)
Bình quân đầu người: 4.986 USD[2] (hạng 120)
GDP (danh nghĩa) (2012) Tổng số: 928.274 tỷ USD[2] (hạng 20)
Bình quân đầu người: 3.910 USD[2] (hạng 115)
HDI (2011) Green Arrow Up Darker.svg 0,726 trung bình (hạng 124)
Hệ số Gini (2002) 34,3
Đơn vị tiền tệ Rupiah Indonesia (IDR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .id

Indonesia (phiên âm tiếng Việt: In-đô-nê-xi-a, Hán Việt: Nam Dương hay Nam Dương Cộng hòa quốc; tên chính thức: Cộng hòa Indonesia, tiếng Indonesia: Republik Indonesia), là một quốc gia nằm giữa Đông Nam ÁChâu Đại Dương. Indonesia gồm 13.487 hòn đảo [3][4] và với dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tư thế giới về dân số.

Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên trong Hiến pháp Indonesia không hề đề cập tới tôn giáo này. Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông TimorMalaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là một thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20 nền kinh tế lớn. Nền kinh tế Indonesia là nền kinh tế thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 15 theo sức mua tương đương.

Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ 7, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung QuốcẤn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Thế chiến thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.

Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.

Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Indonesia xuất phát từ từ Indus trong tiếng Latinh, có nghĩa "Ấn Độ", và từ nesos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa "hòn đảo".[5] Tên gọi này đã có từ thế kỷ 18, rất lâu trước khi nhà nước Indonesia độc lập hình thành.[6] Năm 1850, George Earl, một nhà phong tục học người Anh, đã đề xuất thuật ngữ Indunesians — và, từ được ông thích hơn, Malayunesians — để chỉ những người dân sống trên "Quần đảo Ấn Độ hay Quần đảo Malaya".[7] Cũng trong bài viết đó, một sinh viên của Earl là James Richardson Logan, đã sử dụng Indonesia như một từ đồng nghĩa với Quần đảo Ấn Độ.[8] Tuy nhiên, các tài liệu của viện hàn lâm Hà Lan viết về Đông Ấn đã lưỡng lự trong việc sử dụng Indonesia. Thay vào đó, họ dùng thuật ngữ Quần đảo Malay (Maleische Archipel); Đông Ấn Hà Lan (Nederlandsch Oost Indië), khái quát chung Indië; phương Đông (de Oost); và thậm chí Insulinde.[9]

Từ năm 1900, tên gọi Indonesia trở nên phổ thông hơn trong các cộng đồng hàn lâm bên ngoài Hà Lan, và các nhóm quốc gia Indonesia đã chấp nhận từ này trong cách thể hiện chính trị.[10] Adolf Bastian, thuộc Đại học Berlin, đã giúp từ này được biết đến rộng rãi hơn qua cuốn sách Indonesien oder die Inseln des Malayischen Archipels, 1884–1894 của ông. Học giả Indonesia đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Suwardi Suryaningrat (Ki Hajar Dewantara), khi ông thiết lập một văn phòng báo chí tại Hà Lan với tên gọi Indonesisch Pers-bureau in 1913.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Indonesia
Hình khắc một con tàu tại Borobudur, khoảng năm 800. Ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên các con tàu của Indonesia đã thực hiện các chuyến buôn tới tận Châu Phi.
Một xưởng sản xuất chè tại Jakarta khoảng thập niên 1860, thời kỳ Indonesia thuộc Hà Lan

Indonesia là một kết hợp của khoảng 250 chủng tộc, phần đông có họ hàng gần gũi với nhau trên phương diện ngữ học và nhân chủng học thuộc nhóm tộc Mã Lai. Nhiều chủng tộc còn giữ được truyền thuyết là tổ tiên họ di cư đến bằng thuyền từ phương bắc. Trên đảo Java đã đào được nhiều trống đồng cùng kiểu với trống đồng Đông Sơn.[cần dẫn nguồn] Nhiều sách giáo khoa lịch sử Indonesia dạy bài mở đầu với nền văn minh trống đồng.[cần dẫn nguồn]

Các di tích hoá thạch của người Homo erectus, thường được gọi là "Người Java", cho thấy quần đảo Indonesia đã có người ở từ hai triệu năm tới 500.000 năm trước.[11] Người Nam Đảo, là cộng đồng dân cư đa số hiện tại, đã di cư tới Đông Nam Á từ Đài Loan. Họ tới Indonesia từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên, và đẩy người Melanesian bản xứ về các vùng xa xôi phía đông khi họ mở rộng lãnh thổ.[12] Các điều kiện nông nghiệp lý tưởng, và nền văn minh lúa nước xuất hiện sớm từ thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên,[13] cho phép các làng mạc, thị trấn và các vương quốc nhỏ dần phát triển từ thế kỷ thứ nhất. Vị trí đường biển chiến lược của Indonesia giúp thương mại nội địa và với nước ngoài phát triển. Ví dụ, các con đường thương mại nối với cả các vương quốc Ấn Độ và Trung Quốc đã được thiết lập từ nhiều thế kỷ trước Công Nguyên.[14] Chính thương mại đã hình thành nên lịch sử Indonesia.[15]

Từ thế kỷ thứ bảy, vương quốc hàng hải Srivijaya hùng mạnh phát triển nhờ thương mại và các ảnh hưởng của Hindu giáo cùng Phật giáo được du nhập vào cùng thương mại.[16] Từ thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 10, các triều đại nông nghiệp Phật giáo Sailendra và Hindu giáo Medang phát triển và suy tàn trong vùng nội địa Java, để lại các công trình tôn giáo lớn như Borobudur của Sailendra và Prambanan của Medang. Vương quốc Hindu Majapahit được thành lập ở phía đông Java hồi cuối thế kỷ 13, và ở thời Gajah Mada, ảnh hưởng của nó đã lan rộng tới hầu hết Indonesia; giai đoạn này thường được coi là một "Thời kỳ Huy hoàng" trong lịch sử Indonesia.[17]

Dù các thương gia Hồi giáo đã lần đầu đi qua Đông Nam Á từ đầu thời kỳ Hồi giáo, bằng chứng sớm nhất về cộng đồng dân cư Hồi giáo tại Indonesia có niên đại từ thế kỷ 13 ở phía bắc Sumatra.[18] Các vùng khác của Indonesia dần chấp nhận Hồi giáo, và nó đã là tôn giáo ưu thế tại Java và Sumatra từ cuối thế kỷ 16. Ở hầu hết các nơi, Hồi giáo vượt lên và pha trộn với các ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo bản địa, hình thành nên hình thức Hồi giáo hiện tại ở Indonesia, đặc biệt tại Java.[19] Những người Châu Âu đầu tiên tới Indonesia năm 1512, khi các thương gia Bồ Đào Nha, do Francisco Serrão dẫn đầu tìm cách thâu tóm các nguồn tài nguyên nhục đậu khấu, đinh hương, và hạt tiêu tại Maluku.[20] Các thương gia Hà Lan và Anh nhanh chóng theo chân. Năm 1602, Hà Lan thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) và trở thành một quyền lực lớn của Châu Âu. Sau khi bị phá sản, Công ty Đông Ấn Hà Lan chính thức bị giải tán năm 1800, và chính phủ Hà Lan thành lập Đông Ấn Hà Lan như một thuộc địa được quốc hữu hóa.[21]

Sukarno, vị Tổng thống sáng lập Indonesia

Trong hầu hết thời gian của thời kỳ thuộc địa, Hà Lan chỉ kiểm soát vùng đất này một cách lỏng lẻo; chỉ tới đầu thế kỷ 20 Hà Lan mới thực sự kiểm soát toàn bộ vùng đất lãnh thổ Indonesia hiện tại.[22] Cuộc xâm lượcchiếm đóng của Nhật Bản sau đó trong Thế chiến thứ hai đã chấm dứt thời kỳ cai trị của Hà Lan,[23] và khuyến khích phong trào độc lập từng bị đàn áp trước đó ở Indonesia. Hai ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng tháng 8 năm 1945, Sukarno, một lãnh đạo ảnh hưởng theo chủ nghĩa quốc gia, tuyên bố độc lập và được chỉ định làm tổng thống.[24] Người Hà Lan đã tìm cách tái lập quyền cai trị, và cuộc tranh giành ngoại giao và vũ trang đã chấm dứt vào tháng 12 năm 1949, khi đối mặt với sức ép quốc tế, Hà Lan chính thức công nhận nền độc lập của Indonesia[25] (ngoại trừ lãnh thổ Hà Lan Tây New Guinea, đã được tích hợp theo Thoả thuận New York năm 1962, và Đạo luật Tự do Lựa chọn được Liên hiệp quốc uỷ thác).

Sukarno chuyển từ dân chủ sang chủ nghĩa độc đoán, và duy trì cơ sở quyền lực bằng cách cân bằng các lực lượng đối lập trong quân đội, và Đảng Cộng sản Indonesia (PKI).[26] Quân đội âm mưu đảo chính ngày 30 tháng 9 năm 1965, dẫn tới Các vụ giết người tại Indonesia 1965-1966, một phong trào thanh trừng chống cộng trong đó Đảng Cộng sản Indonesia bị cáo buộc âm mưu đảo chính, các đảng viên Cộng sản bị săn lùng và tiêu diệt.[27] Khoảng 500 nghìn tới 1 triệu người bị cho là có liên hệ với Đảng Cộng sản Indonesia đã bị giết hại.[28] Lãnh đạo quân đội, Tướng Suharto, công khai làm suy yếu vị trí chính trị của Sukarno, và được chính thức chỉ định làm tổng thống vào tháng 3 năm 1968. Chính sách Trật tự Mới của ông[29] được chính phủ Mỹ ủng hộ,[30] và khuyến khích đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Indonesia, đây là một yếu tố chính dẫn tới ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế ổn định sau đó.[31] Tuy nhiên, sự độc đoán của chính sách "Trật tự Mới" bị chỉ trích rộng rãi vì tình trạng tham nhũng và đàn áp chính trị đối lập.

Năm 1997 và 1998, Indonesia là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á.[32] Điều này càng khiến sự bất mãn của dân chúng với Trật tự Mới gia tăng[33] và dẫn tới các cuộc tuần hành dân chúng. Suharto từ chức ngày 21 tháng 5 năm 1998.[34] Năm 1999, Đông Timor bỏ phiếu ly khai khỏi Indonesia, sau một cuộc xâm chiếm quân sự dài 25 năm được đánh dấu bởi những lời lên án quốc tế và những vụ đàn áp thường xuyên với người Đông Timor.[35] Từ khi Suharto từ chức, một quá trình tăng cường dân chủ gồm cả một chương trình trao quyền tự trị cho các vùng, và cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp năm 2004. Tình trạng bất ổn chính trị và kinh tế, bất ổn xã hội, tham nhũng và chủ nghĩa khủng bố đã giảm sút đáng kể. Dù các quan hệ giữa các tôn giáo và các nhóm sắc tộc phần lớn hài hòa, những vấn đề bất đồng và bạo lực tại một số khu vực vẫn thỉnh thoảng xảy ra.[36] Một cuộc dàn xếp chính trị cho cuộc xung đột vũ trang ly khai ở Aceh đã được thực hiện năm 2005.[37]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Indonesia gồm 13.487 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở.[38] Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo. Năm hòn đảo lớn nhất là Java, Sumatra, Kalimantan (phần Borneo thuộc Indonesia), New Guinea (cùng chung với Papua New Guinea), và Sulawesi. Indonesia có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo BorneoSebatik, Papua New Guinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor. Indonesia cũng có chung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng một dải nước hẹp. Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước, sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang.[39]

Với diện tích 1.919.440 kilômét vuông (741.050 dặm vuông), Indonesia là nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền.[40] Mật độ dân số trung bình là 134 người trên kilômét vuông (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới,[41] dù Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới,[42] có mật độ dân số khoảng 940 người trên kilômét vuông (2.435 trên dặm vuông). Nằm ở độ cao 4.884 mét (16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất Indonesia, và hồ Toba tại Sumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145 kilômét vuông (442 dặm vuông). Các con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các sông MahakamBarito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng nối giữa các khu định cư trên đảo.[43]

Núi SemeruNúi Bromo tại Đông Java. Hoạt động kiến tạo và núi lửa Indonesia ở mức cao nhất trên thế giới.

Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á, và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất. Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động,[44] gồm cả KrakatoaTambora, cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ 19. Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước, là một trong những vụ phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàn cầu. Những thảm họa gần đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thần năm 2004 đã giết hại tổng cộng gần 230.000 người[45] và khoảng 167.736 người tính riêng phía bắc Sumatra,[46]trận động đất Yogyakarta năm 2006. Tuy nhiên, tro núi lửa là một yếu tố đóng góp vào sự màu mỡ của đất trong lịch sử từng giúp nuôi sống mật độ dân cư dày tại Java và Bali.[47]

Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưakhô riêng biệt. Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp khoảng từ 1.780–3.175 milimét (70–125 in), và lên tới 6.100 milimét (240 in) tại các vùng núi. Các vùng đồi núi—đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java, Kalimantan, Sulawesi, và Papua—có lượng mưa lớn nhất. Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80%. Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là 26–30 °C (79–86 °F).[48]

Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ. Đất canh tác 8% (3% được tưới), đồng cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Đười ươi Sumatra một loài linh trưởng lớn đặc hữu của Indonesia có nguy cơ tuyệt chủng cao

Diện tích, khí hậu nhiệt đới cùng với hình thế địa lý quần đảo của Indonesia khiến nước này có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ hai thế giới—chỉ sau Brazil[49]— và hệ động thực vật của nó là sự pha trộn của các giống loài Châu Á và Australasia.[50] Khi còn kết nối với lục địa Châu Á, đảo thềm Sunda (Sumatra, Java, Borneo, và Bali) có hệ động vật Châu Á rất phong phú. Các loài thú lớn như hổ, tê giác, đười ươi, voi, và báo, từng hiện diện với số lượng lớn tới tận phía đông Bali, nhưng số lượng và diện tích phân bố của chúng đã giảm mạnh, đặc biệt ở Indonesia có loài Rồng komodo (Varanus komodoensis) là loài thằn lằn lớn nhất thế giới, chiều dài con lớn trung bình 2–3 m. Đây là một loại thuộc họ kỳ đà, (Varanidae), và sống trên nhiều đảo của Indonesia, năm 2011 con vật này đã được chọn làm biểu tượng linh vật của SEA Games 26. Rừng bao phủ khoảng 60% đất nước.[51] Tại Sumatra và Kalimantan, có rất nhiều loài động vật Châu Á. Tuy nhiên, rừng đang suy giảm, và số lượng dân cư đông đảo tại Java càng khiến tình trạng phá rừng tăng cao lấy đất sinh sống và canh tác. Sulawesi, Nusa Tenggara, và Maluku—từng tách rời khỏi lục địa từ lâu—đã phát triển hệ động thực vật của riêng mình.[52] Papua từng là một phần của lục địa Úc, và là nơi có hệ động vật duy nhất có liên quan gần gũi với hệ động thực vật Australia, với hơn 600 loài chim.[53]

Indonesia đứng thứ hai chỉ sau Australia về mức độ loài đặc hữu, với 26% trong tổng số 1.531 loài chim và 39% trong tổng số 515 loài có vú là động vật đặc hữu.[54] Bờ biển dài 80.000 kilômét (50.000 dặm) của Indonesia được bao quanh bởi các biển nhiệt đới cũng đóng góp vào mức độ đa dạng sinh thái cao của nước này. Indonesia có nhiều hệ sinh thái biển và bờ biển, gồm các bãi biển, đụn cát, cửa sông, bãi lầy, rặng san hô, bãi cỏ biển, bãi bùn ven biển, bãi thuỷ triều, bãi tảo, và các hệ sinh thái nhỏ trong đất liền.[5] Nhà tự nhiên học người Anh, Alfred Wallace, đã mô tả về một đường ranh giới phần bố giữa các loài châu Á và châu Úc.[55] Được gọi là đường Wallace, chạy gần theo hướng bắc nam dọc theo cạnh Thềm Sunda, giữa Kalimantan và Sulawesi, và dọc theo Eo Lombok sâu, giữa Lombok và Bali. Phía tây đường này hệ động thực vật mang nhiều đặc điểm Châu Á; về phía đông Lombok, hệ động thực vật dần mang đặc điểm Australia. Trong cuốn sách The Malay Archipelago năm 1869, Wallace đã miêu tả nhiều loài động vật duy chỉ có ở vùng này.[56] Vùng đảo giữa đường Wallace và New Guinea hiện được gọi là Wallacea.[55]

Dân số cao và cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng của Indonesia đặt ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng và thường không được chú trọng nhiều vì mức độ nghèo đói cao cũng như sự quản lý yếu kém với các nguồn tài nguyên.[57] Các vấn đề này gồm phá rừng trên quy mô lớn (đa số là trái phép) và những trận cháy rừng gây ra những đám khói dày che phủ nhiều vùng phía tây Indonesia, Malaysia và Singapore; khai thác quá mức các nguồn tài nguyên biển; và các vấn đề môi trường đi liền với sự đô thị hóaphát triển kinh tế quá nhanh, gồm ô nhiễm không khí, tắc đường, quản lý rác, và xử lý nước thải.[57] Phá hủy môi trường sống đe doạ sự tồn tại của các loài bản địa và đặc hữu, gồm 140 loài thú có vú được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xác định là đang bị đe dọa, và 15 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng, gồm cả khỉ Sumatran Orangutan.[58]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôn lễ tại tỉnh Sumatera Barat

Dân số quốc gia theo cuộc tổng điều tra năm 2000 là 206 triệu người,[59] và Văn phòng Thống kê Trung ương Indonesia và Thống kê Indonesia ước tính dân số năm 2006 là 222 triệu người.[60] Với 130 triệu người, Java là đảo đông dân nhất thế giới hiện nay.[61] Dù có một chương trình kế hoạch hóa gia đình khá hiệu quả được thực thi từ thập niên 1960, dân số nước này được cho sẽ tăng lên khoảng 315 triệu người năm 2035, dựa trên mức ước tính tỷ lệ tăng hàng năm hiện nay là 1,25%.[62]

Đa số người Indonesia là hậu duệ của những người nói các thứ tiếng Nam Đảo có nguồn gốc từ Đài Loan. Các nhóm chính khác gồm người Melanesia, sống ở phía đông Indonesia.[63] Có khoảng 300 sắc tộc bản địa khác nhau tại Indonesia, và 742 ngôn ngữ cùng thổ ngữ.[64] Nhóm đông nhất là người Java, chiếm 42% dân số, và có ưu thế văn hóa cũng như chính trị.[65] Người Sundan, người Malay, và Madur là các nhóm lớn nhất ngoài Java.[66] Bản sắc địa phương của các sắc tộc được duy trì bên cạnh một tình cảm quốc gia Indonesia mạnh mẽ.[67] Xã hội phần lớn hài hòa, dù các căng thẳng xã hội, tôn giáo và sắc tộc đã gây ra những vụ bạo lực kinh khủng.[68] Người Indonesia gốc Hoa là sắc tộc thiểu số có ảnh hưởng dù chiếm chưa tới 1% dân số.[69] Đa số lĩnh vực thương mại và tài sản tư nhân quốc gia đều thuộc sự kiểm soát của người Hoa,[70] điều này góp phần gây ra sự oán giận to lớn, và thậm chí bạo lực chống lại người Hoa.[71]

Ngôn ngữ quốc gia, tiếng Indonesia, được dạy trong các trường học và đại học, và được sử dụng bởi hầu hết mọi người dân Indonesia. Đây là ngôn ngữ được dùng trong thương mại, chính trị, truyền thông quốc gia, giáo dục và hàn lâm. Về nguồn gốc nó từng là một ngôn ngữ chung cho hầu hết cả vùng, gồm cả nước Malaysia hiện nay, và vì thế có quan hệ chặt chẽ với tiếng Malaysia. Tiếng Indonesia lần đầu tiên được những người theo chủ nghĩa quốc gia truyền bá vào thập niên 1920, và đã được tuyên bố là ngôn ngữ chính thức khi nước này giành độc lập năm 1945. Đa số người dân Indonesia nói ít nhất một trong hàng trăm ngôn ngữ địa phương (bahasa daerah), thường như tiếng mẹ đẻ. Trong số các ngôn ngữ đó, tiếng Java được sử dụng nhiều nhất bởi nó là ngôn ngữ của nhóm sắc tộc lớn nhất.[72] Mặt khác, Papua có 500 hay nhiều hơn các ngôn ngữ bản địa PapuaNam Đảo, trong một vùng chỉ có 2,7 triệu dân. Đa số những người già hiện nay vẫn có thể nói tiếng Hà Lan ở một số mức độ thành thạo.[73]

Dù tự do tôn giáo đã được quy định trong Hiến pháp Indonesia,[74] chính phủ chính thức công nhận chỉ sáu tôn giáo: Hồi giáo; Tin Lành; Công giáo La Mã; Ấn Độ giáo; Phật giáo; và Nho giáo.[75] Dù không phải là một nhà nước Hồi giáo, Indonesia là quốc gia có đa số tín đồ Hồi giáo, với 86,1% người dân tuyên bố là tín đồ đạo này theo cuộc điều tra dân số năm 2000.[76] Indonesia có 9% dân số là tín đồ Kitô giáo (trong đó khoảng hai phần ba theo Tin Lành[cần dẫn nguồn]), 3% là tín đồ Hindu giáo, và 2% là tín đồ Phật giáo hay tôn giáo khác. Đa số tín đồ Hindu Indonesia là người Bali,[77] và đa số tín đồ Phật giáo tại Indonesia ngày nay là người Hoa.[78] Dù hiện là tôn giáo thiểu số, Hindu giáo và Phật giáo vẫn có ảnh hưởng trong văn hóa Indonesia. Hồi giáo lần đầu được người dân Indonesia chấp nhận ở miền bắc Sumatra trong thế kỷ 13, thông qua ảnh hưởng từ các thương nhân, và đã trở thành tôn giáo chiếm ưu thế tại quốc gia này từ thế kỷ 16.[79] Cơ đốc giáo La Mã lần đầu được đưa tới Indonesia bởi những người thực dân và các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha thời kỳ đầu,[80] và phái Tin Lành chủ yếu phát triển nhờ những nhà truyền giáo người Hà Lan phái CalvinLuther trong thời kỳ thực dân tại đây.[81] Một tỷ lệ lớn người dân Indonesia-như người abangan Java, người Hindu giáo Bali, và người Kitô giáo Dayak-thực hành một dạng tôn giáo dung hợp và ít chính thống hơn, dựa trên các phong tục và tín ngưỡng địa phương.[82]

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tỉnh Indonesia

Về mặt hành chính, Indonesia gồm 34 tỉnh, trong đó năm tỉnh có quy chế đặc biệt. Mỗi tỉnh có cơ quan lập pháp và thống đốc riêng. Các tỉnh được chia tiếp thành các huyện (kabupaten) và các thành phố (kota), chúng lại được chia tiếp thành các quận (kecamatan), và các nhóm làng (hoặc desa hay kelurahan). Sau khi áp dụng các biện pháp vùng tự trị năm 2001, các huyện và các thành phố đã trở thành các đơn vị hành chính chủ chốt, chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết dịch vụ nhà nước. Cấp hành chính làng là đơn vị có ảnh hưởng lớn nhất tới cuộc sống thường ngày của người dân, và giải quyết các vấn đề của làng hay khu vực lân cận thông qua một lurah hay kepala desa (trưởng làng) do dân bầu.

Các tỉnh Aceh, Jakarta, Yogyakarta, Papua, và Tây Papua có mức độ tự trị và ưu tiên hành pháp cao hơn từ chính quyền trung ương so với các tỉnh khác. Ví dụ, chính phủ Aceh, có quyền thiết lập một hệ thống luật pháp độc lập; năm 2003, tỉnh này đã cho ra đời một hình thức Sharia (Luật Hồi giáo).[83] Yogyakarta được trao vị thế Vùng Đặc biệt để ghi nhận vai trò nòng cốt của nó trong việc hỗ trợ những người Cộng hòa Indonesia thời Cách mạng Indonesia.[84] Papua, thường được gọi bằng Irian Jaya, đã được hưởng một quy chế tự chủ đặc biệt từ năm 2001.[85] Jakarta là vùng thủ đô đặc biệt của quốc gia.


Các tỉnh của Indonesia và thủ phủ

Dấu † chỉ các tỉnh có quy chế đặc biệt

Sumatra

Java

Quần đảo Sunda nhỏ/ (Nusa Tenggara)

Kalimantan

Sulawesi

Quần đảo Maluku

Tây New Guinea

Chính phủ và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Một phiên họp của Hội đồng Đại biểu Nhân dân tại Jakarta

Indonesia là một nước cộng hòa với một hệ thống tổng thống. Với tư cách một quốc gia đơn nhất, quyền lực tập trung trong tay chính phủ trung ương. Sau cuộc từ chức của Tổng thống Suharto năm 1998, chính trị Indonesia và các cơ cấu chính phủ đã trải qua những cuộc cải cách lớn. Bốn sửa đổi đã được tiến hành với Hiến pháp Indonesia năm 1945[86] sắp xếp lại các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp.[87] Tổng thống Indonesia là lãnh đạo quốc gia, tổng tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Indonesia, và là người chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, lập chính sách cùng quan hệ đối ngoại. Tổng thống chỉ định một hội đồng bộ trưởng, các thành viên của hội đồng không buộc phải là các thành viên được bầu của nghị viện. Cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 là cuộc bầu cử đầu tiên dân chúng được trực tiếp bầu ra tổng thống và phó tổng thống.[88] Tổng thống có thể phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ 5 năm liên tiếp.[89]

Cơ quan đại diện cao nhất ở cấp quốc gia là Hội nghị Hiệp thương Nhân dân (MPR). Các chức năng chính của cơ quan này là hỗ trợ và sửa đổi hiến pháp, chứng nhận tổng thống nhậm chức, chính thức hoá các khuôn khổ của chính sách quốc gia. Cơ quan này có quyền buộc tội tổng thống.[90] MPR gồm hai viện; Hội đồng Đại biểu Nhân dân (DPR), với 550 thành viên, và Hội đồng Đại biểu Vùng (DPD), với 128 thành viên. DPR thông qua các luật và giám sát nhánh hành pháp; các thành viên thuộc các đảng chính trị được bầu với nhiệm kỳ 5 năm theo đại diện tỷ lệ.[87] Những cải cách từ năm 1998 đã làm tăng đáng kể vai trò của DPR trong việc điều hành quốc gia.[91] DPD hiện là một cơ quan mới chịu trách nhiệm quản lý khu vực.[92]

Đa số các tranh chấp dân sự đều được đưa ra trước Tòa Nhà nước; các vụ phúc thẩm được xử tại Tòa Cấp cao. Tòa án Tối cao là tòa cấp cao nhất của nhà nước, và đưa ra phán quyết cuối cùng về các vụ phúc thẩm sau khi đã xem xét lại vụ việc. Các tòa khác gồm Tòa Thương mại, xử các vụ phá sản và mất khả năng thanh toán, một Tòa án Hành chính Quốc gia xử các vụ về luật hành chính chống lại chính phủ; một Tòa án Hiến pháp xử các vụ về tính hợp pháp của pháp luật, các cuộc bầu cử, giải tán các đảng chính trị, và phạm vi quyền lực của các định chế nhà nước; và một Tòa án Tôn giáo để xử các vụ án tôn giáo riêng biệt.[93]

Quan hệ ngoại giao và quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quân đội Indonesia

Trái với tình cảm chống chủ nghĩa thực dân và những căng thẳng với Malaysia thời Sukarno, quan hệ ngoại giao của Indonesia từ thời chính sách "Trật tự Mới" của Suharto đã được đặt trên cơ sở hợp tác kinh tế và chính trị với các quốc gia phương Tây.[94] Indonesia duy trì quan hệ gần gũi với các nước láng giềng ở Châu Á, và là một thành viên sáng lập của ASEAN cùng Hội nghị cấp cao Đông Á.[95] Quốc gia này đã tái lập quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1990 sau một thời gian đóng băng bởi quan điểm chống cộng thời đầu cầm quyền của Suharto.[93] Indonesia đã là một thành viên của Liên hiệp quốc từ năm 1950,[96] và là một nước sáng lập Tổ chức không liên kết (NAM) và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC).[95] Indonesia tham gia vào thỏa thuận Vùng Tự do Thương mại ASEAN, Nhóm Cairns, và WTO, và trong lịch sử từng là một thành viên của OPEC, dù đã rút lui vào năm 2008 bởi họ không còn là một nước xuất khẩu dầu mỏ. Indonesia đã nhận được viện trợ nhân đạoviện trợ phát triển từ năm 1966, đặc biệt từ Hoa Kỳ, Tây Âu, Australia, và Nhật Bản.[95]

Chính phủ Indonesia đã làm việc với các quốc gia khác để ngăn chặn và truy tìm những kẻ đánh bom có liên quan tới các du kích Hồi giáoAl-Qaeda.[97] Vụ gây tổn thất nhiều nhân mạng nhất đã giết hại 202 người, gồm 164 du khách quốc tế, ở thị xã nghỉ mát thuộc Bali Kuta năm 2002.[98] Những vụ tấn công, và những cảnh báo du lịch được đưa ra sau đó bởi các quốc gia khác, đã làm thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp du lịch và đầu tư nước ngoài.[99]

Các lực lượng vũ trang Indonesia (TNI) với 300.000 thành viên gồm Quân đội (TNI-AD), Hải quân (TNI-AL, gồm cả lính thủy đánh bộ), và Không quân (TNI-AU).[100] Quân đội có khoảng 233.000 lính thường trực. Chi phí quốc phòng trong ngân sách quốc gia khoảng 4% GDP năm 2006, và được cung cấp thêm bởi các khoản lợi nhuận từ thương mại và các quỹ của quân đội.[101] Giai đoạn hậu Suharto từ năm 1998, đại diện thường trực của quân đội trong nghị viện đã bị bãi bỏ; dù bị giảm uy thế, ảnh hưởng chính trị của quân đội vẫn còn rất lớn.[102] Các phong trào ly khai tại các tỉnh Aceh và Papua đã dẫn tới xung đột vũ trang, và những cáo buộc vi phạm nhân quyền cũng như sự tàn ác từ tất cả các phía.[103] Sau một cuộc chiến du kích không thường xuyên kéo dài khoảng ba mươi năm giữa Phong [trào Tự do Aceh (GAM) và quân đội Indonesia, một thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết năm 2005.[104] Tại Papua, đã có những điều luật tự trị cấp vùng quan trọng, dù vẫn chưa hoàn thiện và được áp dụng đầy đủ, và những vụ bạo lực cũng như vi phạm nhân quyền đã giảm bớt, từ khi Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono lên cầm quyền.[105]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Indonesia
Dùng trâu để cày trên các cánh đồng tại Java. Nông nghiệp từng là ngành sử dụng nhiều lao động nhất của quốc gia này trong nhiều thế kỷ.
Jakarta, thủ đô Indonesia và là trung tâm thương mại lớn nhất nước

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia ước khoảng 408 tỷ đô la (1.038 tỷ đô la theo PPP).[106] Năm 2007, ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 1.812 đô la, và GDP trên đầu người theo sức mua tương đương (PPP) là 4.616 (đô la quốc tế).[107] Lĩnh vực dịch vụ là ngành lớn nhất của nền kinh tế và chiếm 45,3% GDP (2005). Tiếp theo là công nghiệp (40,7%) và nông nghiệp (14,0%).[108] Tuy nhiên, nông nghiệp sử dụng nhiều lao động hơn các lĩnh vực khác, chiếm 44,3% trong tổng số lực lượng lao động 95 triệu người. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ (36,9%) và công nghiệp (18,8%).[109] Các ngành công nghiệp chính gồm dầu mỏkhí thiên nhiên, dệt, may, và khai thác mỏ. Các sản phẩm nông nghiệp chính gồm dầu cọ, gạo, chè, cà phê, gia vị, và cao su.

Các thị trường xuất khẩu chính của Indonesia (2005) là Nhật Bản (22,3%), Hoa Kỳ (13,9%), Trung Quốc (9,1%), và Singapore (8,9%). Indonesia nhập khẩu nhiều hàng của Nhật Bản (18,0%), Trung Quốc (16,1%), và Singapore (12,8%). Năm 2005, Indonesia có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ. Nước này có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn, gồm dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng, và vàng. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Indonesia gồm máy móc và thiết bị, hoá chất, nhiên liệu và các mặt hàng thực phẩm.[72]

Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng.[110] Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã mang lại một mức độ kỷ lục cho chính sách kinh tế nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợ nước ngoài, và thu hút đầu tư cũng như viện trợ từ nước ngoài.[111] Indonesia là thành viên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thập niên 1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.[112] Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980,[113] Đầu tư nước ngoài đổ vào Indonesia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và định hướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Indonesia phát triển với tốc độ trung bình trên 7%.[114]

Indonesia là nước chịu tác động mạnh nhất từ cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997–1998. Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từ khoảng 2.000 Rp tới 18.000 Rp, và nền kinh tế giảm 13,7%.[115] Từ đó đồng rupiah đã ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/dollar, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phục kinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp. Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậm chạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm 1998 đã ảnh hưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh tế.[116] Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Indonesia đứng hạng 143 trên 180 nước trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng của họ.[117] Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn tăng thêm.[118] Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp,[119] và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo.[120] Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày,[121] và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%.[122]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một buổi trình diễn rối bóng Wayang kulit quan sát từ phía khán giả

Indonesia có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và đã phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia và Châu Âu. Ví dụ, các điệu múa truyền thống Java và Bali chứa đựng các yếu tố văn hóa và thần thoại trong văn hóa Hindu, wayang kulit (rối bóng) cũng tương tự. Những loại vải dệt như batik, ikatsongket được sản xuất trên khắp đất nước Indonesia nhưng theo kiểu cách khác biệt tùy theo vùng. Ảnh hưởng lớn nhất trên kiến trúc Indonesia đến từ kiến trúc Ấn Độ; tuy nhiên, những ảnh hưởng kiến trúc từ Trung Quốc, Ả Rập và Châu Âu cũng khá quan trọng. Các môn thể thao thông dụng tại Indonesia là bóng bànbóng đá; Liga Indonesia là giải vô địch cấp cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá tại Indonesia. Các môn thể thao truyền thống gồm sepak takraw, và chạy đấu bò tại Madura. Tại các vùng có lịch sử chiến tranh giữa các bộ tộc, những cuộc thi đánh trận giả thường được tổ chức, như caci tại Flores, và pasola tại Sumba. Pencak Silat là một môn võ Indonesia. Các môn thể thao tại Indonesia nói chung thường dành cho phái nam và các khán giả cũng thường tham gia vào hoạt động cá cược cờ bạc.[123]

Ẩm thực Indonesia khác biệt theo vùng tuỳ theo ảnh hưởng của Trung Quốc, Châu Âu, Trung Đông hay Ấn Độ.[124] Gạo là thực phẩm chính và được dùng cùng với thịt và rau. Các loại gia vị (có nhiều ớt), nước cốt dừa, cá và gà là các thành phần chính.[125] Âm nhạc truyền thống Indonesia gồm gamelankeroncong. Dangdut là một thể loại nhạc pop đương đại phổ thông có ảnh hưởng từ âm nhạc dân gian Ả Rập, Ấn Độ và Malaysia. Công nghiệp điện ảnh Indonesia phát triển mạnh trong thập niên 1980 và chiếm hầu hết các rạp chiếu bóng,[126] dù tới đầu thập niên 1990 nó bắt đầu hơi suy giảm.[127] Từ năm 2000 tới năm 2005, số lượng phim Indonesia được phát hành hàng năm đã liên tục tăng lên.[126]

Bằng chứng cổ nhất về chữ viết tại Indonesia là một loạt bản ghi chép bằng tiếng Phạn có niên đại từ thế kỷ thứ 5. Những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong văn học hiện đại Indonesia gồm: tác gia Hà Lan Multatuli, người đã chỉ trích cách đối xử với người dân Indonesia thời cai trị thuộc địa Hà Lan; các nhân vật người Sumatra Muhammad YaminHamka, là những nhà chính trị và tác gia ủng hộ độc lập quốc gia nổi tiếng;[128] và tác gia vô sản Pramoedya Ananta Toer, nhà tiểu thuyết nổi tiếng nhất Indonesia.[129] Nhiều người Indonesia có kiểu giọng địa phương rõ rệt, giúp xác định và duy trì bản sắc văn hóa của họ.[130] Tự do truyền thông tại Indonesia đã tăng lên đáng kể từ khi chế độ Tổng thống Suharto chấm dứt, thời ấy Bộ Thông tin, nay đã bị bãi bỏ, giám sát và kiểm soát truyền thông trong nước, ngăn chặn truyền thông nước ngoài.[131] Thị trường TV gồm mười mạng lưới truyền thông thương mại, và các mạng lưới địa phương cạnh tranh với TVRI của nhà nước. Các đài phát sóng tư nhân thực hiện bản tin của riêng mình và các chương trình khác lấy từ đài nước ngoài. Với 25 triệu người sử dụng năm 2008,[132] Internet chỉ phố biến tới một bộ phận nhỏ người dân, xấp xỉ 10.5%.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ CIA World Factbook ước tính, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ a ă â b “Indonesia”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ Indonesia Daftarkan 13.487 Pulau ke PBB
  4. ^ "Indonesia has completed surveys on its 13,000 islands", ANTARA News Agency, 18 tháng 8 năm 2010
  5. ^ a ă Tomascik, T; Mah, J.A., Nontji, A., Moosa, M.K. (1996). The Ecology of the Indonesian Seas - Part One. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. ISBN 962-593-078-7. 
  6. ^ a ă (tiếng Indonesia) Anshory, Irfan (16 tháng 8 năm 2004). “Asal Usul Nama Indonesia”. Pikiran Rakyat. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. 
  7. ^ Earl, George S. W. (1850). “On The Leading Characteristics of the Papuan, Australian and Malay-Polynesian Nations”. Journal of the Indian Archipelago and Eastern Asia (JIAEA): 119. 
  8. ^ Logan, James Richardson (1850). “The Ethnology of the Indian Archipelago: Embracing Enquiries into the Continental Relations of the Indo-Pacific Islanders”. Journal of the Indian Archipelago and Eastern Asia (JIAEA): 4:252–347. ; Earl, George S. W. (1850). “On The Leading Characteristics of the Papuan, Australian and Malay-Polynesian Nations”. Journal of the Indian Archipelago and Eastern Asia (JIAEA): 254, 277–278. 
  9. ^ (This term was introduced in 1860 in the influential novel Max Havelaar (1859), written by Multatuli, critical of Dutch colonialism). Justus M. van der Kroef (1951). “The Term Indonesia: Its Origin and Usage”. Journal of the American Oriental Society 71 (3): 166–171. doi:10.2307/595186. 
  10. ^ Jusuf M. van der Kroef (1951). “The Term Indonesia: Its Origin and Usage”. Journal of the American Oriental Society 71 (3): 166–171. doi:10.2307/595186. 
  11. ^ Pope (1988). “Recent advances in far eastern paleoanthropology”. Annual Review of Anthropology 17: 43–77. doi:10.1146/annurev.an.17.100188.000355.  cited in Whitten, T; Soeriaatmadja, R. E., Suraya A. A. (1996). The Ecology of Java and Bali. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. tr. 309–312. ; Pope, G (ngày 15 tháng 8 năm 1983). “Evidence on the Age of the Asian Hominidae”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 80 (16): 4,988–4992. doi:10.1073/pnas.80.16.4988. PMID 6410399.  cited in Whitten, T; Soeriaatmadja, R. E., Suraya A. A. (1996). The Ecology of Java and Bali. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. tr. 309. ; de Vos, J.P.; P.Y. Sondaar, (ngày 9 tháng 12 năm 1994). “Dating hominid sites in Indonesia” (PDF). Science Magazine 266 (16): 4,988–4992. doi:10.1126/science.7992059.  cited in Whitten, T; Soeriaatmadja, R. E., Suraya A. A. (1996). The Ecology of Java and Bali. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. tr. 309. 
  12. ^ Taylor (2003), tr.5–7
  13. ^ Taylor, Jean Gelman. Indonesia. New Haven and London: Yale University Press. tr. tr.8–9. ISBN 0-300-10518-5. 
  14. ^ Taylor, Jean Gelman. Indonesia. New Haven and London: Nhà in Đại học Yale. tr. tr.15–18. ISBN 0-300-10518-5. 
  15. ^ Taylor (2003), tr.3, 9, 10–11, 13, 14–15, 18–20, 22–23; Vickers (2005), tr.18–20, 60, 133–134
  16. ^ Taylor (2003), pages 22–26; Ricklefs (1991), page 3
  17. ^ Peter Lewis (1982). “The next great empire”. Futures 14 (1): 47–61. doi:10.1016/0016-3287(82)90071-4. 
  18. ^ Ricklefs (1991), tr.3-14
  19. ^ Ricklefs (1991), tr.12–14
  20. ^ Ricklefs, M.C (1993). A History of Modern Indonesia Since c.1300, ấn bản lần thứ 2. London: MacMillan. tr. tr.22–24. ISBN 0-333-57689-6. 
  21. ^ Ricklefs (1991), tr.24
  22. ^ Quân đội Hà Lan thường tham gia vào các cuộc chiến chống nổi loạn cả ở trên và bên ngoài Java. Ảnh hưởng của các lãnh đạo địa phương như Hoàng tử Diponegoro ở Trung Java, Imam Bonjol ở Trung Sumatra và PattimuraMaluku, và một cuộc chiến đẫm máu kéo dài 30 năm tại Aceh là làm suy yếu nền thống trị Hà Lan và khiến các lực lượng quân sự thuộc địa liên kết với nhau.(Schwartz 1999, tr.3–4) Dù có những sự phân chia chính trị, xã hội và phe phái quốc tế lớn thời Cách mạng Quốc gia, người Indonesia, về tổng thể, vẫn thống nhất với nhau trong cuộc chiến giành độc lập.
  23. ^ Gert Oostindie and Bert Paasman (1998). “Dutch Attitudes towards Colonial Empires, Indigenous Cultures, and Slaves”. Eighteenth-Century Studies 31 (3): 349–355. doi:10.1353/ecs.1998.0021. ; Ricklefs, M.C. (1993). History of Modern Indonesia Since c.1300, ấn bản lần thứ 2. London: MacMillan. ISBN 0-333-57689-6. 
  24. ^ H. J. Van Mook (1949). “Indonesia”. Royal Institute of International Affairs 25 (3): 274–285. ; Charles Bidien (ngày 5 tháng 12 năm 1945). “Independence the Issue”. Far Eastern Survey 14 (24): 345–348. doi:10.1525/as.1945.14.24.01p17062. ; Taylor, Jean Gelman (2003). Indonesia: Peoples and History. Nhà in Đại học Yale. tr. 325. ISBN 0-300-10518-5. ; Reid (1973), tr.30
  25. ^ Charles Bidien (Ngày 5 tháng 12 năm 1945). “Independence the Issue”. Far Eastern Survey 14 (24): 345–348. doi:10.1525/as.1945.14.24.01p17062. ; “Indonesian War of Independence"”. Military. GlobalSecurity.org. Truy cập Ngày 11 tháng 12 năm 2006. 
  26. ^ Ricklefs (1991), tr.237 - 280
  27. ^ Friend (2003), pages 107–109; Chris Hilton (writer and director) (2001). Shadowplay. [Television documentary]. Vagabond Films and Hilton Cordell Productions. ; Ricklefs (1991), tr.280–283, 284, 287–290
  28. ^ John Roosa and Joseph Nevins (5 tháng 11 năm 2005). “40 Years Later: The Mass Killings in Indonesia”. CounterPunch. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2006. ; Robert Cribb (2002). “Unresolved Problems in the Indonesian Killings of 1965-1966”. Asian Survey 42 (4): 550–563. doi:10.1525/as.2002.42.4.550. 
  29. ^ John D. Legge (1968). “General Suharto's New Order”. Royal Institute of International Affairs 44 (1): 40–47. 
  30. ^ US National Archives, RG 59 Records of Department of State; cable no. 868, ref: Embtel 852, ngày 5 tháng 10 năm 1965. [1]; Adrian Vickers, A History of Modern Indonesia. Cambridge University Press, tr. 163; 2005; David Slater, Geopolitics and the Post-Colonial: Rethinking North-South Relations, London: Blackwell, tr. 70
  31. ^ Vickers, Adrian (2005). A History of Modern Indonesia. Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 0-521-54262-6. ; Schwarz, A. (1994). A Nation in Waiting: Indonesia in the 1990s. Westview Press. ISBN 1-86373-635-2. ; Ricklefs, M. C. (1991). A History of Modern Indonesia since c.1300, Ấn bản lần thứ 2. MacMillan. ISBN 0-333-57689-X Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  32. ^ Delhaise, Philippe F. (1998). Asia in Crisis: The Implosion of the Banking and Finance Systems. Willey. tr. tr.123. ISBN 0-471-83450-5. 
  33. ^ Jonathan Pincus and Rizal Ramli (1998). “Indonesia: from showcase to basket case”. Cambridge Journal of Economics 22 (6): 723–734. doi:10.1093/cje/22.6.723. 
  34. ^ “President Suharto resigns”. BBC. Ngày 21 tháng 5 1998. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2006. 
  35. ^ Burr, W.; Evans, M.L. (Ngày 6 tháng 12 năm 2001). “Ford and Kissinger Gave Green Light to Indonesia's Invasion of East Timor, 1975: New Documents Detail Conversations with Suharto”. National Security Archive Electronic Briefing Book No. 62. National Security Archive, The George Washington University, Washington, DC. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2006. ; “International Religious Freedom Report”. Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor. U.S. Department of State. Ngáy 17 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006. 
  36. ^ Robert W. Hefner (2000). “Religious Ironies in East Timor”. Religion in the News 3 (1). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2006. 
  37. ^ “Aceh rebels sign peace agreement”. BBC. Ngày 15 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2006. 
  38. ^ Estimate “World Economic Outlook Database” (Thông cáo báo chí). International Monetary Fund. Tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. ; “Indonesia Regions”. Indonesia Business Directory. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  39. ^ Witton, Patrick (2003). Indonesia. Melbourne: Lonely Planet. tr. pp.139, 181, 251, 435. ISBN 1-74059-154-2. 
  40. ^ Central Intelligence Agency (17 tháng 10 năm 2006). “Rank Order Area”. The World Factbook. US CIA, Washington, DC. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2006. 
  41. ^ “Population density - Persons per km² 2006”. CIA world factbook. Photius Coutsoukis. 2006. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2006. 
  42. ^ Calder, Joshua (3 tháng 5 năm 2006). “Most Populous Islands”. World Island Information. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006. 
  43. ^ “Republic of Indonesia”. Encarta. Microsoft. 2006. 
  44. ^ “Volcanoes of Indonesia”. Global Volcanism Program. Smithsonian Institution. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  45. ^ "Myanmar is withholding true casualties figures, says Thai priest". A missioner in Ranong, a town on the border between Thailand and Myanmar, says locals talk about 600 victims. Burmese political dissidents say the same. AsiaNews.it. January 4, 2005. URL accessed 2006-05-07.
  46. ^ “The Human Toll”. UN Office of the Special Envoy for Tsunami Recovery. United Nations. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  47. ^ Whitten, T; Soeriaatmadja, R. E., Suraya A. A. (1996). The Ecology of Java and Bali. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. tr. 95–97. 
  48. ^ “About Jakarta And Depok”. University of Indonesia. University of Indonesia. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  49. ^ Lester, Brown, R (and 1997). State of the World 1997: A Worldwatch Institute Report on Progress Toward a Sustainable Society (ấn bản lần thứ 14th). New York: W. W. Norton & Company. tr. 7. ISBN 0393040089. 
  50. ^ “Indonesia's Natural Wealth: The Right of a Nation and Her People”. Islam Online. 22 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2006. 
  51. ^ “Globalis-Indonesia”. Globalis, an interactive world map. Global Virtual University. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2007. 
  52. ^ Whitten, T.; Henderson, G., Mustafa, M. (1996). The Ecology of Sulawesi. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. ISBN 962-593-075-2. ; Monk,, K.A.; Fretes, Y., Reksodiharjo-Lilley, G. (1996). The Ecology of Nusa Tenggara and Maluku. Hong Kong: Periplus Editions Ltd. ISBN 962-593-076-0. 
  53. ^ “Indonesia”. InterKnowledge Corp. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2006. 
  54. ^ Lambertini, A Naturalist's Guide to the Tropics, excerpt
  55. ^ a ă Severin, Tim (1997). The Spice Island Voyage: In Search of Wallace. Great Britain: Abacus Travel. ISBN 0-349-11040-9. 
  56. ^ Wallace, A.R. (2000 (originally 1869)). The Malay Archipelago. Periplus Editions. ISBN 962-593-645-9. 
  57. ^ a ă Jason R. Miller (1997-01-30). "Deforestation in Indonesia and the Orangutan Population". TED Case Studies. Truy cập ngày 2007-08-14.
  58. ^ Massicot, Paul. “Animal Info - Indonesia”. Animal Info - Information on Endangered Mammals. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007. 
  59. ^ “2000 Population Statistics” (Thông cáo báo chí). Indonesian Central Statistics Bureau. Ngày 30 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. 
  60. ^ “Tingkat Kemiskinan di Indonesia Tahun 2005–2006” (PDF) (Thông cáo báo chí). Indonesian Central Statistics Bureau. 1 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006. 
  61. ^ Calder, Joshua (ngày 3 tháng 5 năm 2006). “Most Populous Islands”. World Island Information. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006. 
  62. ^ Witton, Patrick (2003). Indonesia. Melbourne: Lonely Planet. tr. 47. ISBN 1-74059-154-2. 
  63. ^ Taylor (2003), tr. 5–7, Dawson, B.; Gillow, J. (1994). The Traditional Architecture of Indonesia. London: Thames and Hudson Ltd. tr. 7. ISBN 0-500-34132-X. ; Witton, Patrick (2003). Indonesia. Melbourne: Lonely Planet. tr. tr.139, 181, 251, 435. ISBN 1-74059-154-2. 
  64. ^ “An Overview of Indonesia”. Living in Indonesia, A Site for Expatriates. Expat Web Site Association. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. ; Merdekawaty, E. (6 tháng 7 năm 2006). “"Bahasa Indonesia" and languages of Indonesia” (PDF). UNIBZ - Introduction to Linguistics. Free University of Bozen. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2006. 
  65. ^ Kingsbury, Damien. Autonomy and Disintegration in Indonesia. Routledge. tr. 131. ISBN 0-415-29737-0. 
  66. ^ Small but significant populations of ethnic Chinese, Indians, Europeans and Arabs are concentrated mostly in urban areas.
  67. ^ Ricklefs (1991), tr. 256
  68. ^ Di cư trong nước (gồm chương trình Transmigrasi chính thức) là một nguyên nhân gây bạo lực như vụ thảm sát hàng trăm người Madur bởi cộng đồng Dayak địa phương ở Tây Kalimantan, và những cuộc xung đột tại Maluku, Trung Sulawesi, và nhiều phần của PapuaTây Papua T.N. Pudjiastuti. "Migration & Conflict in Indonesia" (PDF). International Union for the Scientific Study of Population (IUSSP), Paris. Truy cập ngày 2006-09-17.; “Kalimantan The Conflict”. Program on Humanitarian Policy and Conflict Research. Conflict Prevention Initiative, Harvard University. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2007. ; J.W. Ajawaila; M.J. Papilaya; Tonny D. Pariela; F. Nahusona; G. Leasa; T. Soumokil; James Lalaun và W. R. Sihasale (1999). “Proposal Pemecahan Masalah Kerusuhan di Ambon”. Report on Church and Human Rights Persecution in Indonesia. Ambon, Indonesia: Fica-Net. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006. ; Kyoto University: Sulawesi Kaken Team & Center for Southeast Asian Studies Bugis SailorsPDF (124 KB)
  69. ^ Indonesia's Population: Ethnicity and Religion in a Changing Political Landscape. Institute of Southeast Asian Studies. 2003. 
  70. ^ Schwarz (1994), tr. 53, 80–81; Friend (2003), tr. 85–87, 164–165, 233–237
  71. ^ M. F. Swasono (1997). “Indigenous Cultures in the Development of Indonesia”. Integration of endogenous cultural dimension into development. Indira Gandhi National Centre for the Arts, New Delhi. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2006. ; “The Overseas Chinese”. Prospect Magazine. Ngày 9 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2006.  Những cuộc những cuộc nổi loạn tại Jakarta năm 1998—chủ yếu nhắm vào người Hoa—một phần, là sự thể hiện tình cảm này. M. Ocorandi (ngày 28 tháng 5 năm 1998). “An Analysis of the Implication of Suharto's resignation for Chinese Indonesians”. Worldwide HuaRen Peace Mission. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006. ; F.H. Winarta (August năm 2004). “Bhinneka Tunggal Ika Belum Menjadi Kenyataan Menjelang HUT Kemerdekaan RI Ke-59”. Komisi Hukum Nasional Republik Indonesia (National Law Commission, Republic of Indonesia), Jakarta. 
  72. ^ a ă Indonesia - The World Factbook. Retrieved on 2007-08-14.
  73. ^ taalunieversum
  74. ^ “The 1945 Constitution of the Republic of Indonesia”. US-ASEAN. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2006. 
  75. ^ Yang, Heriyanto (August năm 2005). “The History and Legal Position of Confucianism in Post Independence Indonesia” (PDF). Religion 10 (1): 8. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2006. 
  76. ^ “Indonesia - The World Factbook”. 
  77. ^ Oey, Eric (1997), Bali , Singapore: Periplus Editions, ISBN 962-593-028-0 
  78. ^ “Indonesia - Buddhism”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2006. 
  79. ^ “Indonesia - Islam”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2006. 
  80. ^ Ricklefs (1991), tr. 25, 26, 28; “1500 to 1670: Great Kings and Trade Empires”. Sejarah Indonesia. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2007. 
  81. ^ Ricklefs (1991), tr.28, 62; Vickers (2005), tr.22; Goh, Robbie B.H. Christianity in Southeast Asia. Institute of Southeast Asian Studies. tr. tr.80. ISBN 9812302972. 
  82. ^ Magnis-Suseno, F. 1981, Javanese Ethics and World-View: The Javanese Idea of the Good Life, PT Gramedia Pustaka Utama, Jakarta, 1997, tr.15-18, ISBN 979-605-406-X; “Indonesia Annual International Religious Freedom Report 2003” (Thông cáo báo chí). Jakarta, Indonesia: Bureau of Democracy, Human Rights and Labor, Embassy of the United States. 18 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2007. 
  83. ^ Michelle Ann Miller (2004). “The Nanggroe Aceh Darussalam law: a serious response to Acehnese separatism?”. Asian Ethnicity 5 (3): 333–351. doi:10.1080/1463136042000259789. 
  84. ^ The positions of governor and its vice governor are prioritized for descendants of the Sultan of Yogyakarta and Paku Alam, respectively, much like a sultanate. (Elucidation on the Indonesia Law No. 22/1999 Regarding Regional Governance. People's Representative Council (1999). Chapter XIV Other Provisions, Art. 122; Indonesia Law No. 5/1974 Concerning Basic Principles on Administration in the RegionPDF (146 KB) (translated version). The President of Republic of Indonesia (1974). Chapter VII Transitional Provisions, Art. 91
  85. ^ Một phần trong gói tự trị là việc Hội đồng Nhân dân Papua được trao trách nhiệm trọng tài và phán xét theo các tục lệ bộ tộc Papua, tuy nhjiên, việc áp dụng các biện pháp tự trị đã bị chỉ trích là không thật thà và chưa hoàn thiện. Dursin, Richel; Kafil Yamin (18 tháng 11 năm 2004). “Another Fine Mess in Papua”. Editorial (The Jakarta Post). Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. ; “Papua Chronology Confusing Signals from Jakarta”. The Jakarta Post. 18 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. 
  86. ^ In 1998, 1999, 2000 and 2001
  87. ^ a ă Susi Dwi Harijanti and Tim Lindsey (2006). “Indonesia: General elections test the amended Constitution and the new Constitutional Court”. International Journal of Constitutional Law 4 (1): 138–150. doi:10.1093/icon/moi055. 
  88. ^ “The Carter Center 2004 Indonesia Election Report” (PDF) (Thông cáo báo chí). The Carter Center. 2004. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2006. 
  89. ^ _ (2002), The fourth Amendment of 1945 Indonesia Constitution, Chapter III – The Executive Power, Art. 7.
  90. ^ (tiếng Indonesia) People's Consultative Assembly (MPR-RI). Ketetapan MPR-RI Nomor II/MPR/2000 tentang Perubahan Kedua Peraturan Tata Tertib Majelis Permusyawaratan Rakyat Republik Indonesia (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2006. 
  91. ^ Các cải cách gồm kiểm sáot toàn bộ việc làm luật mà không bị cảnh trở từ nhánh hành pháp; tất cả các thành viên hiện tại đều được bầu lên (các ghế được dành sẵn cho các đại biểu quân đội đã bị huỷ bỏ); và việc đưa ra các quyền nền tảng nhất đều thuộc DPR. (xem Harijanti and Lindsey 2006)
  92. ^ Dựa trên sửa đổi hiến pháp năm 2001, DPD gồm bốn thành viên không đảng phái được bầu bởi dân chúng từ mỗi trong ba mươi ba tỉnh để đại diện chính trị quốc gia. People's Consultative Assembly (MPR-RI). Third Amendment to the 1945 Constitution of The Republic of Indonesia (PDF). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2006. 
  93. ^ a ă “Country Profile: Indonesia” (PDF). U.S Library of Congress. December năm 2004. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  94. ^ “Indonesia - Foreign Policy”. U.S. Library of Congress. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. 
  95. ^ a ă â “Background Note: Indonesia”. U.S. Library of Congress. U.S. Department of State. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. 
  96. ^ Indonesia tạm thời rút khỏi Liên hiệp quốc ngày 20 tháng 1 năm 1965 để trả đũa việc Malaysia được bầu làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an. Họ đã thông báo ý định "nối lại hợp tác toàn bộ với Liên hiệp quốc và nối lại sự tham gia vào các hoạt động của tổ chức này" ngày 19 tháng 9 1966, và đã được mời tái gia nhập Liên hiệp quốc ngày 28 tháng 9 năm 1966.
  97. ^ Chris Wilson (11 tháng 10 năm 2001). “Indonesia and Transnational Terrorism”. Foreign Affairs, Defense and Trade Group. Parliament of Australia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2006. ; Reyko Huang (23 tháng 5 năm 2002). “Priority Dilemmas: U.S. - Indonesia Military Relations in the Anti Terror War”. Terrorism Project. Center for Defense Information. 
  98. ^ “Commemoration of 3rd anniversary of bombings”. AAP (The Age Newspaper). 10 tháng 12 năm 2006. 
  99. ^ “Travel Warning: Indonesia” (Thông cáo báo chí). US Embassy, Jakarta. 10 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  100. ^ Chew, Amy (7 tháng 7 năm 2002). “Indonesia Military regains ground”. CNN Asia. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  101. ^ Witular, Rendi A. (19 tháng 5 năm 2005). “Susilo Approves Additional Military Funding”. The Jakarta Post. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  102. ^ Friend (2003), pages 473–475, 484
  103. ^ Friend (2003), pages 270–273, 477–480; “Indonesia flashpoints: Aceh”. BBC News (BBC). 29 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007. 
  104. ^ “Indonesia agrees Aceh peace deal”. BBC News. BBC. 17 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007. ; “Indonesia starts Aceh withdrawal”. BBC News. BBC. 18 tháng 9 2005. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007. 
  105. ^ Lateline TV Current Affairs (20 tháng 4 năm 2006). “Sidney Jones on South East Asian conflicts”. TV Program transcript, Interview with South East Asia director of the International Crisis Group (Australian Broadcasting Commission (ABC)). ; International Crisis Group (5 tháng 9 năm 2006). “Papua: Answer to Frequently Asked Questions” (PDF). Update Briefing (International Crisis Group) (No. 53): 1. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2006. 
  106. ^ “Report for Selected Countries and Subjects (GDP)”. World Economic Outlook Database, April 2007. International Monetary Fund. 2007. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  107. ^ “Report for Selected Countries and Subjects (GDP per capita)”. World Economic Outlook Database, tháng 4 năm 2007. International Monetary Fund. Tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  108. ^ “Official Statistics and its Development in Indonesia” (PDF). Sub Committee on Statistics: First Session 18–20 February 2004. Economic and Social Commission for Asia & the Pacific. tr. tr.19. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  109. ^ “Indonesia at a Glance” (PDF). Indonesia Development Indicators and Data. World Bank. 13 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  110. ^ Tới khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, nền kinh tế ở trọng tình trạng hỗn loạn với mức lạm phát 1.000%, doanh thu xuất khẩu giảm sút, cơ sở hạ tầng sụp đổ, các nhà máy hoạt động ở công suất tối thiểu, và đầu tư không đáng kể. Schwarz (1994), tr. 52–57
  111. ^ Schwarz (1994), tr. 52–57
  112. ^ trung bình hơn 7% từ năm 1968 tới năm 1981. Schwarz (1994), trang 52–57
  113. ^ Sau giai đoạn giảm tăng trưởng hồi thập niên 1980, vì sự điều chỉnh và phụ thuộc vào giá dầu đang giảm sút, tăng trưởng trung bình chỉ còn ở mức 4,3% hàng năm trong giai đoạn 1981 và 1988. Một loạt các biện pháp cải cách kinh tế được đưa ra cuối thập niên 1980. Những cải cách gồm việc phá giá có kiểm soát đồng rupiah để tăng tính cạnh tranh trong xuất khẩu, và điều chỉnh lại lĩnh vực tài chính (Schwarz (1994), trang 52–57).
  114. ^ Schwarz (1994), tr. 52–57; “Indonesia: Country Brief”. Indonesia: Key Development Data & Statistics. World Bank. Tháng 9 năm 2006. 
  115. ^ “Indonesia: Country Brief”. Indonesia:Key Development Data & Statistics. World Bank. Tháng 9 năm 2006. 
  116. ^ Guerin, G. (ngày 23 tháng 5 năm 2006). “Don't count on a Suharto accounting”. Asia Tims Online (Asia Times Online Ltd, Hong Kong). ;“Poverty in Indonesia: Always with them”. The Economist. 14 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. ; (subsequent correction)
  117. ^ “Corruption Perceptions Index”. Transparency International. 2007. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007. 
  118. ^ “Indonesia: Forecast”. Country Briefings. The Economist. Ngày 3 tháng 10 năm 2006. 
  119. ^ “Poverty in Indonesia: Always with them”. The Economist. 14 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006.  (subsequent correction); Ridwan Max Sijabat (ngày 23 tháng 3 năm 2007). “Unemployment still blighting the Indonesian landscape”. The Jakarta Post. 
  120. ^ Năm 2005, chính phủ buộc phải giảm các khoản bao cấp to lớn cho xăng dầu khi giá dầu leo thang, khiến lạm phát tăng cao và khó khăn chất chồng. “Poverty in Indonesia: Always with them”. The Economist. 14 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  121. ^ “Making the New Indonesia Work for the Poor - Overview” (PDF) (Thông cáo báo chí). World Bank. 2006. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  122. ^ “Beberapa Indikator Penting Mengenai Indonesia” (PDF) (Thông cáo báo chí). Indonesian Central Statistics Bureau. 2 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2008. 
  123. ^ Witton, Patrick (2003). Indonesia. Melbourne: Lonely Planet. tr. p.103. ISBN 1-74059-154-2. 
  124. ^ Witton, Patrick (2002). World Food: Indonesia. Melbourne: Lonely Planet. ISBN 1-74059-009-0. 
  125. ^ So với tính chất thực phẩm Việt NamThái Lan, các mùi vị trong thực phẩm Indonesia được giữ khá tách biệt, đơn giản và bổ dưỡng. Brissendon, Rosemary (2003). South East Asian Food. Melbourne: Hardie Grant Books. ISBN 1-74066-013-7. 
  126. ^ a ă Kristianto, JB (2 tháng 7 năm 2005). “Sepuluh Tahun Terakhir Perfilman Indonesia”. Kompas. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. 
  127. ^ (tiếng Indonesia) “Kondisi Perfilman di Indonesia (The State of The Film Industry in Indonesia)”. Panton. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2006. 
  128. ^ Taylor (2003), pages 299–301
  129. ^ Vickers (2005) pages 3 to 7; Friend (2003), pages 74, 180
  130. ^ Czermak, Karen; Philippe DeLanghe, Wei Weng. “"Preserving Intangible Cultural Heritage in Indonesia"” (PDF). SIL International. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2007. 
  131. ^ Shannon L., Smith; Lloyd Grayson J. (2001). Indonesia Today: Challenges of History. Melbourne, Australia: Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 0-7425-1761-6. 
  132. ^ “Internet World Stats”. Asia Internet Usage, Population Statistics and Information. Miniwatts Marketing Group. 2006. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ
Thông tin chung