Phá rừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rừng bị phá để lấy đất nông nghiệp ở miền nam Mexico
Phá rừng ở Gran Chaco, Paraguay

Tuy là một hiện tượng xảy ra phổ biến ở hầu hết mọi nơi trên thế giới nhưng phá rừng lại được quan niệm theo nhiều cách khác nhau.

  • Phá rừng là quá trình chuyển đổi hay sự thay đổi của lớp phủ mặt đất từ rừng sang các trạng thái khác (Palo et al., 1987; Turner & Meyer, 1994).
  • Phá rừng là thuật ngữ mô tả sự thay đổi hoàn toàn trong sử dụng đất từ rừng sang nông nghiệp, bao gồm cả canh tác nương rẫy và chăn thả, hay sử dụng đô thị. Nó không bao gồm rừng đã bị khai thác (thậm chí chặt trắng) và để cho tự tái sinh (WRI, 1992:118).
  • Phá rừng mang nghĩa hủy hoại hay làm mất đi thảm cây. từ làm mất hoàn toàn hay vĩnh viễn thảm cây cho đến những thay đổi nhỏ trong thành phần sinh thái (Angelsen, 1995).

Hiện trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tốc độ phá rừng nhiệt đới hàng năm giai đoạn 1981-1990 là 0,8% hay 15,4 triệu hecta/năm, trong đó châu Á có tỷ lệ mất rừng cao nhất (1,2%). Riêng đối với Việt Nam, trong vòng nửa thế kỷ từ 1943 đến 1993 có khoảng 5 triệu hecta rừng tự nhiên bị mất, nghĩa là tốc độ phá rừng hàng năm ở Việt Nam vào khoảng 100.000 hecta.

Nguyên nhân của phá rừng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên nhân khách quan:
  • Nguyên nhân chủ quan:
  1. Do nhận thức của con người, khai thác không đúng quy hoạch.
  2. Do quy hoạch một số vụ việc, kế hoạch không đúng đối với quá trình điều chế rừng, sắp xếp ngành nghề...
  3. Hoạt động quản lý nhà nước về rừng yếu kém.
  4. Do tập tục du canh du cư, đốt nương làm rẫy của một số cộng đồng thiểu số bà con dân tộc vùng cao.
  5. Do quá trình chuyển hóa đất từ sản xuất lâm nghiệp sang sản xuất nông nghiệp.
  6. Do xây dựng cơ bản: xây dựng đường giao thông, công trình thủy điện,...
  7. Do hoạt động phá rừng của các lâm tặc nhằm để lấy lâm sản.

Tác động tới môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Không khí[sửa | sửa mã nguồn]

Phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậuđịa lý.[1][2][3][4]

Phá rừng là một nhân tố đóng góp cho sự nóng lên của trái đất,[5][6] và được coi là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Rừng nhiệt đới bị phá hủy là tác nhân của 20% lượng khí nhà kính.[7] Theo Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu, việc phá rừng, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, đóng góp 1/3 lượng khí thải carbon dioxit do con người gây ra.[8] Các tính toán gần đây cho thấy lượng carbon dioxit thải ra môi trương do phá rừng và suy thoái rừng chiếm 20% lượng khí thải carbon dioxit gây ra bởi con người.[9] Cây và các loại thực vật hấp thụ carbon trong quá trình quang hợp và nhả lại ôxy vào không khí. Sự phân hủy và đốt gỗ làm lượng carbon tích trữ trong cây bị thải lại vào không khí. Để rừng có thể hấp thụ carbon, gỗ phải được thu hoạch và biến thành các sản phẩm tiêu thụ và cây phải được trồng lại.[10] Phá rừng làm lượng carbon trong đất thoát trở lại không khí. Ở các khu vực bị phá rừng, đất tăng nhiệt nhanh hơn và thời tiết trở nên nóng hơn, điều này kích thích quá trình bốc hơi nước của đất, từ đó hình thành các đám mây và dẫn đến lượng mưa sẽ gia tăng.[11]

Giảm lượng khí thải từ việc phá rừng ở các nước đang phát triển đang nổi lên như một phương thức bổ sung cho các chính sách khí hậu. Ý tưởng trong đó bao gồm việc cung cấp tài chính nhằm giảm lượng khí nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng.[12]

Rừng mưa được cho là đóng góp một lượng lớn oxy của thế giới.[13] Mặc dù vậy, hiện nay các nhà khoa học cho rằng rừng mưa chỉ đóng góp một lượng oxy nhỏ vào không khí và phá rừng không có ảnh hưởng gì tới mức độ oxy của bầu khí quyển.[14][15] Tuy nhiên việc đốt rừng thải ra một lượng lớn CO2, làm gia tăng sự ấm lên của trái đất. Các nhà khoa học cũng cho biết, phá rừng nhiệt đới làm 1,5 tỉ tấn carbon được thải vào không khí mỗi năm.[16]

Nước[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng tuần hoàn nước cũng bị ảnh hưởng bởi phá rừng. Cây hút nước trong lòng đất và giải phóng vào không khí. Khi rừng bị phá bỏ, cây không còn làm bay hơi lượng nước này, điều này khiến khí hậu trở nên khô hạn hơn rất nhiều.[17] Phá rừng làm giảm lượng nước trong đất, lượng nước ngầm và độ ẩm của không khí. Phá rừng làm giảm độ kết dính của đất, từ đó dẫn tới xói mòn, lũ lụt, lở đất.[18][19] Rừng làm tái bổ sung nước ở tầng ngậm nước ở vài nơi, nhưng rừng là nguồn hút nước chủ yếu của tầng ngậm nước.[20]

Phá rừng làm giảm khả năng giữ và bay hơi nước mưa của đất. Thay vì giữ nước mưa được thấm xuống tầng nước ngầm, phá rừng làm tăng quá trình rửa trôi nước bề mặt, sự di chuyển của nước bề mặt có thể dẫn đến lũ quét và gây nhiều lũ lụt hơn khi có rừng bảo vệ. Quá trình làm giảm thoát hơi nước, từ đó làm giảm độ ẩm không khí, trong một vài trường hợp có thể làm giảm lượng mưa theo hướng gió từ khu vực bị phá rừng, vì nước không được tuần hoàn trở lại rừng do bị mất trong quá trình rửa trôi và đổ thẳng ra biển.

Cây và thực vật nhìn chung ảnh hưởng rất lớn tới vòng tuần hoàn của nước:

  • Tán cây giữ lại lượng nước mưa và bốc hơi trở lại không khí;
  • Thân cây, cọng lá làm chậm quá trình rửa trôi bề mặt;
  • Rễ cây có các lỗ lớn - là các ống dẫn nước trong đất làm gia tăng sự thấm nước;
  • Cỏ khô, lá rụng, các cặn bã hữu cơ làm thay đổi đặc tính của đất, từ đó ảnh hưởng tới khả năng giữ nước của đất;
  • Lá cây điều hòa độ ẩm của không khí thông quá quá trình bay hơi. 99% lượng nước hấp thụ bởi rễ cây được chuyển lên lá và bay hơi.[21]

Sự tồn tại của cây cối và thực vật làm thay đổi lượng nước trên bề mặt, trong đất hay nước ngầm hoặc trong bầu không khí. Sự tồn tại hay không tồn tại của cây cối và thực vật làm thay đổi mức độ xói mòn và lượng nước cho các hoạt động của hệ sinh thái và của con người.

Trong một vài trường hợp như mưa lớn thì rừng không có mấy tác động lên lũ lụt, bởi mưa lớn có thể vượt quá khả năng lưu giữ nước của đất rừng nếu đất rừng đã ở mức độ bão hòa hoặc gần bão hòa.

Rừng nhiệt đới tạo ra 30% lượng nước ngọt trên trái đất.[13]

Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh rừng bị chặt phá

Phá rừng làm tăng độ xói mòn của đất khi nó làm tăng độ rửa trôi và giảm độ bảo vệ đất của lá khô, lá rụng trong rừng. Hoạt động lâm nghiệp cũng có thể làm tăng độ sói mòn đất do phát triển đường xá và sử dụng dụng cụ cơ khí.

Cao nguyên Loess của Trung Quốc bị mất rừng từ hàng nghìn năm trước, tạo ra các thung lũng xẻ rạch, hình thành nên trầm tích khiến nước sông Hoàng Hà có màu vàng và gây ra lũ lụt ở các nhánh sông thấp.

Tuy nhiên, việc phá cây rừng không phải bao giờ cũng làm gia tăng mức độ sói mòn. Ở một vài vùng ở tây nam Hoa Kỳ, các cây bụi xâm thực lên đất cỏ. Các cây này làm giảm lượng cỏ. Khoảng trống giữa các tán cây bị sói mòn nghiêm trọng. Ủy ban về rừng của Hoa Kỳ đang nghiên cứu để phục hồi hệ sinh thái cũ, làm giảm sói mòn bằng cách chặt bớt cây.

Rễ cây liên kết đất với nhau, khi đất nông vừa đủ thì rễ cây có tác dụng kết dính đất với tầng đá gốc. Việc chặt phá cây trên các sườn núi dốc có nền đất nông do đó làm tăng nguy cơ lở đất, có thể ảnh hưởng tới những người dân gần khu vực đó. Tuy vậy thì việc phá rừng chỉ chặt cây tới thân chứ không ảnh hưởng tới rễ nên nguy cơ lở đất cũng không phải quá lớn.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Phá rừng làm giảm sự đa dạng sinh thái và làm môi trường bị suy thoái.[22].[23] Rừng cung cấp đa dạng sinh thái, là nơi trú ẩn của các loài động vật,[24] rừng tạo ra các cây thuốc hữu ích cho cuộc sống của con người.[25] Các biotope của rừng là nguồn không thể thay thế của nhiều loại thuốc mới(ví dụ taxol), việc phá rừng có thể hủy hoại sự biến đổi gen.[26]

Rừng nhiệt đới là hệ sinh thái đa dạng nhất thế giới,[27][28] 80% đa dạng sinh học của thế giới được tìm thấy ở rừng nhiệt đới.[29][30], sự phá hủy các khu vực rừng dẫn đến thoái hóa môi trường và giảm đa dạng sinh học.[31]

Ước tính chúng ta đang mất đi 137 loài thực vật, động vật và côn trùng mỗi ngày do phá rừng mưa, con số này tương đương với 50.000 loài mỗi năm.[32] Có những tranh cãi cho rằng phá rừng đang đóng góp vào sự tuyệt diệt của các loài động thực vật.[33][34] Tỉ lệ tuyệt chủng mà chúng ta biết do phá rừng là rất thấp, khoảng 1 loài đối với động vật có vú và các loài chim, suy ra từ đó là vào khoảng 23.000 cho tất cả các loài. Nhiều dự đoán cho rằng 40% các loài động, thực vật ở Đông Nam Á có thể bị xóa sổ hoàn toàn vào thế kỷ 21.[35] Các suy đoán này được đưa ra vào năm 1995 khi các số liệu cho thấy rất nhiều rừng nguyên sinh ở khu vực này đã bị chuyển đổi sang các đồn điền, tuy nhiên các loài có nguy cơ bị ảnh hưởng và hệ thực vật ở đây hiện vẫn có mức bao phủ cao và ổn định.[36]

Hiểu biết của khoa học chưa đủ để đưa ra các dự đoán chính xác về tác động của phá rừng lên đa dạng sinh học.[37] Phần lớn các dự đoán về suy giảm đa dạng sinh học được dựa trên các mẫu nơi sinh sống của các loài, với giả định cho rằng rừng suy giảm cũng sẽ dẫn đến suy giảm đa dạng sinh thái.[38] Tuy nhiên nhiều nghiên cứu kiểu này đã được chứng minh là sai lầm và việc mất nơi sinh sống chưa hẳn đã dẫn đến sự suy giảm loài trên quy mô lớn.[38] Các mẫu dựa trên khu vực sinh sống của các loài được cho là đã phóng đại con số các loài bị đe dọa trong các khu vực đó, nơi phá rừng vẫn đang diễn ra, các nghiên cứu này cũng phóng đại con số các loài bị đe dọa trong khi các loài này vẫn có số lượng đông và trải rộng.[36]

Tác động tới kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thiệt hại về rừng và các yếu khác của tự nhiên có thể làm tồi tệ thêm mức sống của người nghèo trên thế giới và làm giảm 7% GDP của thế giới tới năm 2050, đây là một báo cáo tổng kết trong Hội nghị về Đa dạng Sinh học tại Bonn.[39] Trong lịch sử, việc sử dụng gỗ đóng vai trò then chốt trong xã hội loài người, vai trò của gỗ có thể so sánh với nước và đất trồng trọt. Ngày nay, tại các nước phát triển gỗ vẫn được sử dụng để xây nhà và bột gỗ để làm giấy. Tại các quốc gia đang phát triển, gần 3 tỉ người phải dựa vào gỗ để sưởi ấm và đun nấu thức ăn.[40]

Các sản phẩm từ rừng là một phần quan trọng của nền kinh tế ở cả các nước phát triển lẫn đang phát triển. Các lợi nhuận kinh tế ngắn hạn từ chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, hay việc khai thác gỗ quá mức, thường dẫn đến những hậu quả kinh tế lâu dài, ảnh hưởng tới nguồn thu nhập lâu dài và sản lượng của rừng. Tây Phi, Madagascar, Đông Nam Á và nhiều vùng khác trên thế giới đã phải chịu những tổn thất thu nhập do suy giảm sản lượng gỗ. Sự khai khẩn trái phép làm nhiều nền kinh tế tổn thất hàng tỉ đô la mỗi năm.[41]

Các nền kinh tế tăng trưởng nhanh thường có ảnh hưởng tới sự phá rừng. Áp lực chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển, những nơi mà cả dân số và kinh tế đều tăng trưởng nhanh chóng.[42] Năm 1995, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển là 6%, con số này cho các nước phát triển chỉ là 2%."[42] Khi dân số gia tăng, nhà cửa, đường xá, dân số đô thị mở rộng, khi phát triển thì cần có sự kết nối bằng việc xây dựng đường xá. Việc xây dựng đường xá ở nông thôn không chỉ kích thích phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho sự tàn phá rừng.[42] Khoảng 90% rừng bị phá ở khu vực Amazon diễn ra trong phạm vi 100 km so với đường.[43]

Các mô hình phá rừng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mô hình EKC (Environmental Kuznets Curve)
  • Mô hình sử dụng đất cạnh tranh
  • Mô hình chuyển đổi của hộ gia đình
  • Mô hình thể chế
  • Mô hình tổng hợp

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NASA – Top Story – NASA DATA SHOWS DEFORESTATION AFFECTS CLIMATE”. 
  2. ^ “Massive deforestation threatens food security”. 
  3. ^ Deforestation, ScienceDaily
  4. ^ Confirmed: Deforestation Plays Critical Climate Change Role, ScienceDaily, May 11, 2007
  5. ^ Deforestation causes global warming, FAO
  6. ^ Philip M. Fearnside1 and William F. Laurance, TROPICAL DEFORESTATION AND GREENHOUSE-GAS EMISSIONS, Ecological Applications, Volume 14, Issue 4 (August 2004) pp. 982–986
  7. ^ “Fondation Chirac » Deforestation and desertification”. 
  8. ^ IPCC Fourth Assessment Report, Working Group I Report "The Physical Science Basis", Section 7.3.3.1.5 (p. 527)
  9. ^ G.R.van der Werf, D.C.Morton, R.S.DeFries, J.G.J.Olivier, P.S.Kasibhatla, R.B.Jackson, G.J.Collatz and J.T.Randerson (2009). “CO2 emissions from forest loss”. Nature Geoscience 2 (11): 737–738. doi:10.1038/ngeo671. 
  10. ^ I.C. Prentice. "The Carbon Cycle and Atmospheric Carbon Dioxide" IPCC, http://www.grida.no/CLIMATE/IPCC_TAR/wg1/pdf/TAR-03.PDF
  11. ^ "NASA Data Shows Deforestation Affects Climate In The Amazon."
  12. ^ S. Wertz-Kanounnikoff, L. Ximena Rubio Alvarado, Bringing 'REDD' into a new deal for the global climate, Analyses, n° 2, 2007, Institute for Sustainable Development and International Relations.
  13. ^ a ă “How can you save the rain forest. October 8, 2006. Frank Field”. The Times (London). 8 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2010. 
  14. ^ Broeker, Wallace S. (2006). "Breathing easy: Et tu, O2." Columbia University
  15. ^ Moran, Emilio F. (1993). “Deforestation and land use in the Brazilian Amazon”. Human Ecology 21: 1. doi:10.1007/BF00890069. 
  16. ^ Ruth Defries. "Earth observations for estimating greenhouse gas emissions from deforestation in developing countries." Environmental Science and Policy. 06/02/07.
  17. ^ “Underlying Causes of Deforestation: UN Report”. 
  18. ^ “Deforestation and Landslides in Southwestern Washington”. 
  19. ^ China's floods: Is deforestation to blame?, BBC News
  20. ^ “Underlying Causes of Deforestation: UN Report”. 
  21. ^ "Soil, Water and Plant Characteristics Important to Irrigation". North Dakota State University.
  22. ^ Sten Nilsson, Do We Have Enough Forests?, American Institute of Biological Sciences, March 2001
  23. ^ “Deforestation”. 
  24. ^ Rainforest Biodiversity Shows Differing Patterns, ScienceDaily, August 14, 2007
  25. ^ “BMBF: Medicine from the rainforest”. 
  26. ^ Single-largest biodiversity survey says primary rainforest is irreplaceable, Bio-Medicine, November 14, 2007
  27. ^ Tropical rainforests – The tropical rainforest, BBC
  28. ^ “Tropical Rainforest”. 
  29. ^ U.N. calls on Asian nations to end deforestation, Reuters, 20 June 2008
  30. ^ “Rainforest Facts”. 
  31. ^ Rhett A. Butler, Primary rainforest richer in species than plantations, secondary forests, mongabay.com, 2 July 2007
  32. ^ Rainforest Facts. Rain-tree.com (2010-03-20). Retrieved on 2010-08-29.
  33. ^ Leakey, Richard and Roger Lewin, 1996, The Sixth Extinction: Patterns of Life and the Future of Humankind, Anchor, ISBN 0-385-46809-1
  34. ^ The great rainforest tragedy, The Independent, 28 June 2003
  35. ^ Biodiversity wipeout facing South East Asia, New Scientist, 23 July 2003
  36. ^ a ă Pimm, S. L.; Russell, G. J.; Gittleman, J. L.; Brooks, T. M. (1995). “The Future of Biodiversity”. Science 269 (5222): 347–350. doi:10.1126/science.269.5222.347. PMID 17841251. 
  37. ^ Pimm Stuart L, Russell Gareth J, Gittleman John L, Brooks Thomas M (1995). “The future of biodiversity”. Science 269 (5222): 347–341. doi:10.1126/science.269.5222.347. PMID 17841251. 
  38. ^ a ă Timothy Charles and Whitmore, Jeffrey Sayer, 1992 "Tropical Deforestation and Species Extinction" International Union for Conservation of Nature and Natural Resources Commission on Ecology.
  39. ^ Nature loss 'to hurt global poor', BBC News, May 29, 2008
  40. ^ Forest Products
  41. ^ “Destruction of Renewable Resources”. 
  42. ^ a ă â Kenneth Chomitz. "Roads, lands, markets, and deforestation: a spatial model of land use in Belize." 04/30/95.
  43. ^ Silvio Ferrez. "Using indicators of deforestation and land-use dynamics to support conservation strategies: A case study of central Rondônia, Brazil" Forest Ecology and Management 03/22/09.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông
Phim trực tuyến