Tunisia
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| الجمهورية التونسية Al-Jumhūriyyah at-Tūnisiyyah Cộng hòaTunisia
|
||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||
| Khẩu hiệu حرية، نظام، عدالة (Hurriya, Nidham, 'Adala) "Tự do, Trật tự, Công bằng" |
||||||
| Quốc ca Himat Al Hima |
||||||
| Thủ đô (và là thành phố lớn nhất) |
Tunis |
|||||
| Ngôn ngữ chính thức | tiếng Ả Rập | |||||
| Tên dân tộc | Tunisian | |||||
| Chính phủ | Cộng hòa | |||||
| - | Tổng thống | Zine El Abidine Ben Ali | ||||
| - | Thủ tướng | Mohamed Ghannouchi | ||||
| Độc lập | ||||||
| - | từ Pháp | 20 tháng 3 năm 1956 | ||||
| Diện tích | ||||||
| - | Tổng số | 163.610 km² (hạng 92) 63.170 mi² |
||||
| - | Nước (%) | 5.0 | ||||
| Dân số | ||||||
| - | Ước lượng tháng 7 năm 2005 | 10.102.000 (hạng thứ 78) | ||||
| - | Điều tra 1994 | 8.785.711 (hạng thứ 78) | ||||
| - | Mật độ | 62 /km² (hạng thứ 133 (2005)) 161 /sq mi |
||||
| GDP (PPP) | Ước tính 2007 | |||||
| - | Tổng số | 97,74 tỷ USD (hạng thứ 60) | ||||
| - | Theo đầu người | 9.630 (hạng thứ 73) | ||||
| Gini? (2000) | 39.8 (medium) | |||||
| HDI (2007) | ||||||
| Đơn vị tiền tệ | Dinar Tunisia (TND) |
|||||
| Múi giờ | CET (UTC+1) | |||||
| - | Mùa hè (DST) | CEST (UTC+2) | ||||
| Tên miền Internet | .tn | |||||
| Mã số điện thoại | +216 | |||||
Tunisia là một quốc gia nằm trên bờ biển bắc châu Phi, bao bọc bởi biển Địa Trung Hải, dãy núi Atlas chạy dọc theo đất nước, phân chia đất nước thành 2 vùng đồng bằng phía Bắc phì nhiêu nóng lực và vùng đồng bằng phía Nam thì khô hạn. Sa mạc Sahara rộng lớn bao phủ phần lớn phía Bắc châu Phi, bắt đầu ở miền Nam Tunisia. Tunisia là đất nước nhỏ xen giữa đất nước lớn Algérie và Libya tới phía Đông Nam. Là đất nước có một vị trí chiến lược để tiếp cận với nhiều nền văn minh: văn minh La Mã cổ đại, Ả Rập Saudi, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ (Đế chế Ottoman), người Phoenicia, người Carthage.
[sửa] Lịch sử
Vào thời điểm bắt đầu có sử ghi chép, Tunisia là nơi sinh sống của các bộ lạc Berber. Ven biển đã có người Phoenicia định cư từ thế kỷ 10 trước Công nguyên. Thành phố Carthage đã được thành lập vào thế kỷ 9 trước Công nguyên bởi những người định cư từ Tyre, ngày nay là Lebanon. Truyền thuyết cho rằng Queen Elissa đã thành lập thành phố vào năm 814 trước Công nguyên và được nhắc lại bởi nhà văn Hy Lạp Timaeus của Tauromenium. Những người định cư Carthage mang văn hóa và tôn giáo của họ từ những người Phoenicia và Canaan.
Sau một lọat các cuộc chiến với quốc gia-thành phố Hy Lạp Sicily vào thế kỷ 5 trước Công nguyên, quyền lực của Carthage đã nổi lên và cuối cùng đã trở thành nền văn minh chủ đạo ở phía tây Địa Trung Hải. Người Carthage thờ cúng các vị thần Trung Đông, bao gồm Baal và Tanit. Biểu tượng của thần Tanit, một hình tượng phụ nữ đơn giản với cánh tay dang ra và mặc váy dài là một hình tượng phổ biến được tìm thấy ở các địa điểm cổ. Những người sáng lập của Carthage cũng lập nên một Tophet và được thay đổi vào thời kỳ La Mã.
Dù người La Mã đề cập đến đế quốc mơi phát triển ở thành phố Carthage là Punic hay Phoenician, nhưng đế quốc được xây xung quanh Carthage là một chính thể độc lập khỏi các khu định cư Phoenicia ở phía tây Địa Trung Hải.
Một cuộc xâm lược Italia của Carthage do Hannibal chỉ huy trong cuộc chiến tranh Punic thứ hai, một trong một lọat các cuộc chiến với La mã, gần như làm tê liệt đế chế La Mã . Carthage cuối cùng đã bị La Mã chinh phục vào thế kỷ 2 trước Công nguyên, một bước ngoặt dẫn đến việc nền văn minh Địa Trung Hải cổ chủ yếu chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa châu Âu thay vì châu Phi. Sau khi La Mã chinh phục, khu vực này đã trở thành một trong những vựa lúa của La Mã và đã bị Latin hóa và Thiên Chúa giáo hóa hoàn toàn. Lãnh thổ này bị Vandals chinh phục vào thế kỷ 5 sau Công nguyên và lại bị chinh phục bới Belisarius một lần nữa vào thế kỷ 6 trong thời kỳ trị vì của hoàng đế Byzantine Justinian.
Vào thế kỷ 7, vùng này bị những người Hồi giáo Ả Rập, những người đã lập thành phố Kairouan chinh phục. Các triều đại Hồi đã bị gián đoạn bởi các cuộc nổi lọan của người Berber. The reigns of the Aghlabids (9th century) and of the Zirids (from 972), Berber followers of the Fatimids, were especially prosperous. When the Zirids angered the Fatimids in Cairo (1050), the latter sent in the Banu Hilal tribe to ravage Tunisia.
Những vùng ven bỉên đã có thời gian ngắn bị người Norman của Sicily kiểm sóat vào thế kỷ 12 và việc tái chinh phục của người Ả Rập đã làm cho những tín đồ Thiên Chúa giáo cuối cùng ở biến mất. Năm 1159, Tunisia bị vua Hồi giáo Almohad chinh phục. Sau đó là Hafsids (c.1230 – 1574) của Berber, dưới thời này Tunisia đã thịnh vượng. Cuối thế kỷ 16, vùng ven biển thành một căn cứ địa của cướp biển. Trong những năm cuối cùng của Hafsids, Tây Ban Nha đã chiếm đóng nhiều thành phố ven biển nhưng lại bị đế chế Ottoman chiếm lại. Dưới thời các toàn quyền người Thổ Nhĩ Kỳ, Beys, Tunisia đã lấy lại độc lập thực sự. Triều đại Hussein của Beys, được thành lập năm 1705, tồn tại đến năm 1957.
| Bài này đang được dịch từ ngôn ngữ khác. Nếu bạn có đủ khả năng xin góp sức dịch bài này. Nếu không tiếp tục được quan tâm, phần ngoại ngữ của bài sẽ bị xóa sau khoảng 1 tháng. Xin đừng quên chuyển các mục Chú thích, Tham khảo vào bài dịch để đáp ứng tiêu chuẩn. Xin tham khảo Hướng dẫn cách biên soạn bài để biết thêm chi tiết. |
[sửa] Thuộc địa Pháp
Giữa thập kỷ 1800, chính quyền Tunisia dưới sự cai trị của Bey đã thỏa hiệp thông qua các quyết định tài chính gây tranh cãi đã dẫn tới sự suy thoái của Tunisia. Pháp bắt đầu toan tính kiểm sóat Tunisia khi Bey lần đầu vay mối khoản tiền lớn để phương Tây hóa đất nước. This failing state facilitated the Algerian raids that occurred thereafter. The weakened Bey was powerless against these raids and unable to resist European colonization.
In 1878, a secret deal was made between the United Kingdom and France that decided the fate of the North African country. Provided that the French accepted British control of Cyprus, recently given to the United Kingdom, the British would in turn accept French control of Tunisia. This satisfied the French and led to their assumption of control in 1880, anticipating the Italians. Tunisia was formally made a French protectorate on May 12, 1881.
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |


