Erwin Rommel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Erwin Johannes Eugen Rommel
Rommel portrait.jpg
Generalfeldmarschall Erwin Rommel
Tiểu sử
Biệt danh Wüstenfuchs (Cáo sa mạc)
Sinh


Heidenheim, Vương quốc Württemberg, Đế chế Đức
Mất


Herrlingen, Alb-Donau, Đức
Binh nghiệp
Phục vụ Đế quốc Đức Đế chế Đức (đến 1918)
Đức Cộng hòa Weimar (đến 1933)
Đức Quốc Xã Đức Quốc Xã
Năm tại ngũ 1911–1944
Cấp bậc Generalfeldmarschall (Thống chế Lục quân)
Chỉ huy Sư đoàn thiết giáp thứ 7
Quân đoàn châu Phi
Quân đoàn thiết giáp Châu Phi
Quân đoàn Châu phi
Quân đoàn B
Tham chiến

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Khen thưởng Pour le Mérite
Huân chương Hiệp sĩ Chữ thập sắp
Huân chương Chữ thập quân công trạng (Đế quốc Áo-Hung)
Gia đình Manfred Rommel

Erwin Johannes Eugen Rommel () (15 tháng 11 năm 189114 tháng 10 năm 1944) (còn được biết đến với tên Cáo Sa mạc, Wüstenfuchs, ), là một trong những vị Thống chế lừng danh nhất của nước Đức trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ông là một trong những bậc thầy vĩ đại về mưu mẹo trong chiến tranh, có lòng quả cảm.[1] Ông phục vụ cho Adolf Hitler, và dù ông là một chiến binh xuất sắc của Đức Quốc Xã, nhưng ông không phải là đảng viên của Đảng Quốc Xã.[2] Vì tinh thần thượng võ cao đẹp của ông, đến cả người Anh cũng phải bội phục ông, dù ông đã đánh nhau với họ trong nhiều trận đánh quan trọng tại Bắc Phi.[3] Không những thế, cho đến nay người Mỹ vẫn coi ông là một lãnh đạo mẫu mực.[4]

Là một Sĩ quan nổi tiếng trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Rommel gặp gỡ lãnh tụ Adolf Hitler lần đầu tiên vào năm 1934. Ông là một viên Sĩ quan có tinh thần trách nhiệm tốt.[3] Ông được tặng thưởng huân chương Pour le Mérite vì những chiến công của ông ở mặt trận Ý. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Rommel nổi bật lên trong vai trò chỉ huy của Sư đoàn Ma trong cuộc tấn công Pháp năm 1940 của nước Đức Quốc Xã. Tiếp đó, Rommel nắm giữ vai trò chỉ huy liên quân Ý - Đức tại châu Phi, dù phải đối mặt với quân địch đông đảo hơn những nhờ tài nghệ của mình ông đã gặt hái những chiến thắng vẻ vang.[5] Ông đã thực hiện thành công vai trò thống lĩnh Quân đội phe Trục ở Phi châu, đến nổi nó mang lại cho ông biệt danh Cáo Sa mạc (Wüstenfuchs) và được công nhận rộng rãi là chỉ huy quân sự giỏi nhất ở địa hình sa mạc.[6] Sau đó, ông chỉ huy lực lượng phòng thủ của Đức trong trận Normandie.

Erwin Rommel là một chỉ huy hào hiệp và nhân đức, ngược hẳn với hình tượng chung về Phát xít Đức. Quân đoàn Châu Phi (Afrikakorps) của ông hoàn toàn không bị cáo buộc bất cứ tội ác chiến tranh nào. Ngoài ra, ông còn nhiều lần cứng rắn từ chối những lệnh yêu cầu ông phải hành quyết lính và người Do Thái bị bắt giữ ở mọi mặt trận mà ông chỉ huy.[7] Dù thế, trong khắp nước Đức Quốc Xã thì không người lính nào có oai danh lẫy lừng như ông.[8] Ông trở thành một nhân vật trung tâm trong sử sách quân sự châu Âu hiện đại.[4]

Ở cuối cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Rommel tham gia vào phong trào chống đối Adolf Hitler, nhưng phản đối âm mưu mưu sát ông này năm 1944. Vì sự dính dáng của Rommel nhưng đồng thời cũng vì danh tiếng quá lớn của ông, Hitler buộc Rommel phải tự sát thay vì hành quyết ông. Điều này khiến người ta coi ông là một nạn nhân của chế độ Adolf Hitler, là hiện thân của một người Đức tốt.[4] Sau khi mất, Rommel được chôn cất với đầy đủ các nghi thức dành cho chỉ huy quân sự cấp cao, nhưng lý do thực sự cho cái chết của ông là một bí ẩn mãi tới tận khi Tòa án Nürnberg được mở. Cho đến này, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn luôn là điểm thu hút các học giả quân sự.[4]

Cuộc đời và sự nghiệp thuở ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu sinh quân Rommel lúc trẻ khoảng năm 1910

Erwin Rommel sinh ra tại Heidenheim an der Brenz, huyện Heidenheim cách Ulm khoảng 50 km, thuộc bang Württemberg (nay là bang Baden-Württemberg), Đế chế Đức. Ông là người con thứ hai của giáo sư Erwin Rommel, hiệu trưởng một trường trung học phổ thông đến hết lớp 10 (tiếng Đức: Progymnasium) theo đạo Tin Lành (Protestant) tại Aalen. Cha của Rommel cùng với Helene von Luz, con gái của một người có chức sắc tại địa phương, đã có thêm ba người con nữa, trong đó có hai người con trai là Karl và Gerhard, và người con gái là Helene. Ở tuổi 14, Rommel và một người bạn của mình đã làm ra một chiếc tàu lượn có thể bay được, tuy không xa lắm. Lúc trẻ, ông có ý định trở thành một kỹ sư hàng không, thế nhưng cha ông lại đặt ông trước sự chọn lựa hoặc là trở thành nhà giáo hay là sĩ quan. Tuân theo ý định của cha mình, ông đã gia nhập vào trung đoàn bộ binh số 124 của bang Württemberg với chức vụ thiếu sinh quân vào năm 1910 và không lâu sau đó, ông được gửi đến trường Thiếu Sinh Quân tại Danzig.

Trong lúc học tại Danzig, đầu năm 1911, Rommel đã gặp người vợ tương lai của mình là Lucie Maria Mollin. Ông tốt nghiệp vào tháng 11 năm 1911 và được phong chức trung úy vào tháng 1 năm 1912. Năm 1916, Rommel làm đám cưới với Lucie và năm 1928 họ có được một người con trai tên là Manfred – người con này về sau trở thành thị trưởng của Stuttgart từ 1974 đến 1996. Hai học giả Bierman và Smith tranh luận rằng, trong khoảng thời gian này, Rommel còn có một mối quan hệ khác với một phụ nữ tên Walburga Stemmer vào năm 1912 và mối tình đó đã đem đến cho hai người một người con gái tên Gertrud [9].

Thế chiến thứ I[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc Thế chiến thứ I, Erwin Rommel phục vụ tại các mặt trận Pháp, RomâniaÝ. Là một Sĩ quan trẻ tuổi, ông có hào khí tham chiến lúc cuộc đại chiến bùng nổ vào năm 1914. Ông miêu tả về Trung đoàn của ông như sau:[10]

Những khuôn mặt tươi trẻ đều toát lên niềm vui, nhiệt huyết và sẵn sàng lâm trận. Không gì cao đẹp bằng chạm trán với quân thù trước những binh sĩ như thế!

—Erwin Rommel

Tổng cộng, ông bị thương ba lần và được phong tặng Huân chương Thập tự Sắt (Iron Cross) cả hạng I và hạng II. Rommel trở thành người trẻ tuổi nhất nhận được huân chương cao nhất của Đế chế Đức, Huân chương Pour le Mérite (huân chương này là một vinh dự có tính cách truyền thống chỉ dành cho các vị tướng). Ông nhận được nó sau các trận đánh tại các dãy núi phía đông bắc nước Ý. Phần thưởng này là kết quả từ trận đánh tại Longarone, và việc chiếm giữ được ngọn núi Matajur (ngọn núi này cao 1.650 mét, từ đây có thể quan sát được vùng biển Adriatic) cùng với 150 sĩ quan, 7.000 lính Ý và 81 cây đại bác (trong trận đánh này, Rommel cùng với 100 quân của mình chống lại lực lượng Ý hơn 7.000 người). Tiểu đoàn của Rommel sử dụng khí ga trong chuỗi trận chiến tại Isonzo và còn giữ vai trò chủ chốt trong chiến thắng quyết định của Liên minh Trung tâm trước quân Ý trong trận Caporetto (địa điểm trận đánh ngày nay là Kobarid thuộc Slovenia). Trong khi chiến đấu tại Isonzo, Rommel bị lực lượng Ý bắt giữ nhưng trốn thoát về lại Đức hai tuần sau đó. Về sau khi Ý và Đức liên minh trong thế chiến thứ hai, Rommel kiềm chế được sự khinh bỉ của mình trước quân Ý khi ông nhận ra rằng quân Ý yếu kém là do chỉ huy và trang bị kém, những lý do mà khi được khắc phục hết thì quân Ý có thể chiến đấu ngang ngửa với quân Đức.[11]

Giữa hai thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Rommel là một trong những sĩ quan có khả năng được đưa lên vị trí cao hơn, Thế nhưng, ông tìm cách từ chối một vị trí trong Truppenamt (tổ chức thay thế cho Bộ Tổng tham mưu quân đội Đức, tổ chức mà Đức không được có theo Hiệp ước Versailles)--con đường để vươn lên cấp chỉ huy cao hơn. Thay vào đó, ông lựa chọn để trở thành một sĩ quan ở tiền tuyến..

Đại tá Rommel (trái) và Hitler đi qua một đội danh dự ở Goslar, ngày 30 tháng 9, 1934.

Sau Thế chiến thứ I, Rommel nắm giữ một chức chỉ huy cấp tiểu đoàn và là giảng viên tại trường bộ binh Dresden từ 1929 đến 1933, và tại Học viện Chiến tranh Potsdam từ 1935 đến 1937. Năm 1934, quyển "Gefechts-Aufgaben für Zug und Kompanie: Ein Handb. f. d. Offizierunterrich" (Bài tập dành cho Trung đội và Đại đội: Một sách hướng dẫn dành cho sĩ quan huấn luyện). Quyển sách này được in tới tận năm 1945 với 5 bản in có điều chỉnh và thay đổi tựa. Từ năm 1935 tới 1938, Rommel làm một công việc chỉ huy tại Học viện Chiến tranh Potsdam. Các quyển nhật ký chiến tranh của Rommel, "Những cuộc Tấn công bằng Bộ binh" (tiếng Đức: Infanterie greift an), xuất bản năm 1937, đã trở thành cuốn sách giáo khoa quân sự được đánh giá cao, và cũng thu hút được sự chú ý của Adolf Hitler. Từ đó, Hitler đã lần lượt giao cho Rommel vị trí thuộc bộ Chiến tranh Đức, chủ yếu là các công việc có liên quan tới tổ chức Đoàn Thanh niên Hitler (tiếng Đức: Hitler Jugend); các vị trí đứng đầu lĩnh vực Thể thao Quân đội.

Năm 1937, Rommel tổ chức một loạt chuyến viếng thăm đến các cuộc mít-tinh và nơi đóng trại của Hitler Jugend. Nơi ông tổ chức các buổi giảng dạy quân sự, kiểm tra cơ sở hạ tầng và dự giờ các buổi giảng. Đồng thời, Rommel còn gây áp lực lên Baldur von Schirach, chỉ huy lúc đó của Hitler Jugend, để ông này chấp nhận sự có mặt nhiều hơn của quân đội trong việc huấn luyện Hitler Jugend. Schirach coi đó là một nỗ lực nhằm mục đích biến Hitler Jugend thành một lực lượng hậu cần cho quân đội Đức. Vì thế, Schirach từ chối mọi đề nghị của Rommel, đồng thời ông này còn trở nên không ưa Rommel, có vẻ là do sự ghen tỵ đối với ảnh hưởng của Rommel trong Hitler Jugend. Cuối cùng thì một thỏa thuận hợp tác giữa Hitler Jugend và quân đội Đức cũng hình thành, nhưng nội dung điều khoản thì chỉ cho phép quân đội tổ chức huấn luyện trong Trường dạy Bắn Súng của Hitler Jugend, ít hơn những gì Rommel mong muốn. Tới trước 1939, Hitler Jugend nhận được khoảng 20.000 sĩ quan huấn luyện bắn súng. Trong thời gian này, Rommel vẫn tiếp tục giảng dạy ở Potsdam, công việc đã mang lại cho ông nhiều phần thưởng của quân đội vì thành tích xuất sắc của mình.

Năm 1938, lúc này Rommel đã là đại tá, ông được chỉ định là chỉ huy của Học viện Chiến tranh tại Wiener Neustadt. Tại đây, Rommel bắt đầu viết cuốn sách có tựa đề "Xe Tăng trong các cuộc Tấn công" (tiếng Đức: Panzer greift an). Không lâu sau đó, Rommel lại được thuyên chuyển và giao quyền chỉ huy Tiểu đoàn Bảo vệ Quốc trưởng (tiếng Đức: Führer-Begleitbattalion) để bảo vệ Hitler trong cuộc thăm viếng của ông này đến Nam Tư và vùng Mermel thuộc Lithuania. Thời gian này chính là hơn gian ông đã gặp Joseph Goebbels, khi này là Bộ trưởng Bộ tuyên truyền Đức. Goebbels về sau trở nên hâm mộ Rommel một cách nhiệt thành và ông này giữ một vai trò quan trọng trong việc làm cho truyền thông Đức luôn đưa tin về các chiến công của Rommel.[12]

Thế chiến thứ II[sửa | sửa mã nguồn]

Rommel trong chiến dịch tại Pháp 1940

Ba Lan 1939[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa thu năm 1938, Hitler chọn Rommel chịu trách nhiệm đơn vị lính Đức bảo vệ ông ta trong các chuyến viếng thăm Tiệp Khắc sau khi đã xâm chiếm nước đó. Trước khi cuộc xâm lược Ba Lan xảy ra, ông được thăng hàm thiếu tướng và chỉ huy trưởng của Tiểu đoàn Bảo vệ Quốc trưởng, chịu trách nhiệm về sự an toàn cho các sở chỉ huy di động của Hitler trong suốt chiến dịch này.

Pháp 1940[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ huy tăng thiết giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 1940, Rommel xin Hitler để được chỉ huy một sư đoàn tăng thiết giáp mặc dù trước đó Rommel không hề có kinh nghiệm trong việc chỉ huy loại hình quân này. Vào ngày 6 tháng 2 năm 1940, khoảng hai tháng trước cuộc tấn công Pháp diễn ra, Rommel được giao chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp số 7 sẽ được tham gia trong kế hoạch Trường hợp Vàng (Fall Gelb), trong cuộc tấn công nước Pháp và các nước vùng Hà Lan và xung quanh Hà Lan. Sự thăng chức nhanh quá mức này đã khiến một số sĩ quan đồng cấp với Rommel nổi giận. Một Tướng quản lý về Nhân sự của Quân đội Đức trước đó đã từ chối yêu cầu của Rommel dựa trên cơ sở rằng Rommel không có bất cứ kinh nghiệm vào trong việc chỉ huy tăng thiết giáp, thay vào đó ông này đề nghị Rommel chỉ huy một sư đoàn bộ binh chuyên đánh vùng núi khi đó còn thiếu chỉ huy.[13] Thế nhưng, Rommel tuy thích việc sử dụng bộ binh can thiệp nhanh nhưng sau đó lại nhận ra lợi ích của thiết giáp ở mặt trận Ba Lan. Ông bắt đầu tự tập làm quen và học tập kỹ năng chiến đấu tăng thiết giáp một cách rất nhanh chóng và đầy nhiệt tình.[14]

Tấn công nước Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 10 tháng 5, 1940; một bộ phận của Quân đoàn 15 của quân đội Đức dưới sự chỉ huy của tướng Hermann Hoth tiến vào Bỉ để tiến lên vùng sông Meuse gần vùng đô thị Wallonia của Dinant. Ở bờ sông Meuse, Sư đoàn thiết giáp số 7 của Rommel bị giam chân bởi cầu đường bị phá hủy cũng như hỏa lực từ phía quân Bỉ phòng thủ. Quân Đức lúc này thiếu lựu đạn khói nên Rommel, lúc này là toàn quyền chỉ huy cuộc vượt sông, ra lệnh đốt một vài ngôi nhà ven sông để che mắt quân Bỉ. Các đơn vị Panzergrenadier sau đó vượt sông bằng thuyền cao su, và Rommel thì chỉ huy đợt thứ hai.[15] Sư đoàn của Rommel tiến sâu hơn vào đất quân Bỉ và cách xa các đơn vị quân Đức khác.

Kiểu tiến quân của Rommel là liều lĩnh dùng một lực lượng cơ động mạnh (chủ yếu là lực lượng tăng thiết giáp) đánh thẳng vào một điểm trên phòng tuyến đối phương rồi tiến tới luôn, chấp nhận mạo hiểm khi để hai bên sườn hoàn toàn trống trải, cách tấn công này chủ yếu dựa trên việc đánh vào tinh thần của binh lính đối phương, khiến họ không dám tấn công và làm tan rã ý chí chiến đấu của họ.[16] Khi gặp kháng cự, Rommel sẽ đơn giản là ra lệnh cho xe tăng nhắm vào một điểm mà tiến tới, ra lệnh cho toàn bộ hỏa lực triển khai, dựa chủ yếu vào tính bất ngờ của cuộc tấn công để làm cho tinh thần binh lính đối phương tan rã và sau đó họ đầu hàng. Kiểu đánh này bù đắp được điểm yếu của xe tăng Đức là có thiết giáp giới hạn và cỡ nòng pháo thấp, và nó còn thường làm cho một nhóm lớn tăng hạng nặng đối phương đang dàn quân ra phải đầu hàng.[17] Thêm vào đó, nó sẽ giúp giảm số quân tử trận cho hai bên sườn của phe tiến công vì tránh được kiểu đánh dàn trải nhưng đồng thời cũng gây nhiều rủi ro. Có một lần sư đoàn của Rommel dựa theo cách đánh này, vội vã khai hỏa tối đa vào một đoàn xe vận chuyển của Pháp để rồi sau đó nhận ra rằng người Pháp dùng nhóm xe này để làm bẫy "chuông báo động" từ xa.[17]

Trận Arras[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng này 18 tháng 5, Quân đoàn quân Đức chính chiếm được Cambari nhưng từ đó thông tin về hướng tiến quân của Rommel được phát về một cách rất ít ỏi. Có lúc, Bộ Tham mưu của Đức ở mặt trận này, khi đó đang chỉ huy một phần quân đoàn đóng ở Bỉ, không nhận được bất cứ liên lạc vô tuyến nào từ Rommel, liền ghi lại rằng nhóm quân của Rommel đã bị tiêu diệt và dừng việc tiếp vận nhiên liệu cho nhóm quân này.[18] Lệnh này về sau gây tranh cãi lớn; Rommel thì giận dữ và buộc tội một phần trong nhóm sĩ quan quân nhu của mình là bất cẩn còn Bộ Tham mưu của Đức thì chỉ trích Rommel vì tốc độ tiến quân của ông làm cho chỉ huy không bắt kịp.

Rommel trong mặt trận Tây Âu (tháng 6, 1940)

Vào ngày 20 tháng 5, nhóm quân của Rommel tiến tới thành phố Arras. Ở đây ông muốn ngăn cách Lực lượng Viễn chinh Anh khỏi bờ biển và ông ra lệnh cho Hans von Luck, lúc này đang chỉ huy một tiểu đoàn trinh sát của sư đoàn, tìm cách mở đường vượt qua nhóm kênh La Bassée gần thành phố này. Được hỗ trợ bởi các máy bay tiêm kích ném bom Junkers Ju 87, nhóm quân của Hans von Luck mở được đường tiến qua sông. Quân Anh phản công (trận Arras) vào ngày 21 tháng 5 với xe tăng Matilda Mk I. Quân Đức nhận ra rằng súng 35 ly họ dùng vô dụng trước giáp tăng của quân Anh. Một khẩu đội súng 88 ly được đưa ra để chống xe tăng Anh và đích thân Rommel chỉ huy khẩu đội này. Kết quả là quân Anh-Pháp phải từ bỏ kế hoạch vượt sông.[19]

Sau trận Arras, Hitler ra lệnh cho các đơn vị thiết giáp chuyển về trạng thái phòng thủ, cũng lúc đó thì người Anh, thực thi theo chiến dịch Dynamo, rút số quân của họ ra khỏi Dunkirk và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Rommel có được một khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi. Vào ngày 26 tháng 5, Sư đoàn Thiết giáp số 7 quân Đức tiếp tục tiến quân và nó tiến sát Lille trong ngày 27 tháng 5. Để tấn công thị trấn này, Rommel được giao thêm một sư đoàn tăng nữa, Sư đoàn Thiết giáp 5; việc này làm cho một tướng khác là Max von Hartlieb có cảm giác khó chịu.[20] Cùng ngày, Rommel nhận được tin mình được tặng thưởng huân chương Chữ thập Hiệp sĩ của chữ Thập Sắt; Rommel trở thành Sư trưởng đầu tiên được tặng thưởng trong chiến dịch này. Giải thưởng này đã giúp cho Rommel đảm bảo được vị trí của mình trước Hitler cũng như làm cho các sĩ quan đồng cấp khác chỉ trích là Hitler có quan hệ quá gần gũi với Rommel. Họ tin rằng đây là bằng chứng khác cho thấy Hitler có vẻ ưu tiên Rommel.[20]

Vào ngày 28 tháng 5, khi đang tổng tiến quân vào Lille, và lại ở xa nhóm quân Đức gần nhất, sư đoàn thiết giáp số 7 đụng phải một trận pháo dữ dội của quân Pháp. Rommel thúc quân tiến lên, chiếm được Lille, vây được một nửa của Quân đoàn thứ Nhất (Ire Armée) của Pháp và không cho họ lùi về Dunkirk. Sau trận này quân của Rommel lại có thời gian nghỉ ngơi.

Bờ biển Manche[sửa | sửa mã nguồn]

Quân của Rommel tiếp tục tiến quân vào ngày 6 tháng 6 với ý định chiếm vùng quanh sông Seine và đảm bảo an toàn cho các cây cầu gần thành phố Rouen. Nhóm quân này tiến hơn 100 km trong hai ngày nhưng đến nơi thì toàn bộ cầu đã bị phá hết. Ngày 10 tháng 6, Rommel đến được bờ biển gần Dieppe, gửi tin nhắn "Tôi đang ở bờ biển" về bộ chỉ huy.

Ngày 15 tháng 6, Sư đoàn Thiết giáp 7 bắt đầu tiến về Cherbourg. Tới ngày 17 thì tiến được 35 km và tới ngày 18 thì chiếm được thị xã này. Sau đó, Sư đoàn tiếp tục tiến về Bordeaux nhưng phải dừng lại khi một lệnh đình chiến ngắn được ký kết vào ngày 21 tháng 6. Vào tháng 7, Sư đoàn của Rommel được điều đến Paris nhằm chuẩn bị cho chiến dịch Sư tử biển, chiến dịch tấn công Anh quốc của phát xít Đức. Sự chuẩn bị này là nửa vời bởi vì quân Đức ngày càng nhận ra rằng họ không thể cân bằng về lực lượng không quân với quân đội Anh.

Sư đoàn Ma[sửa | sửa mã nguồn]

Rommel trong lễ duyệt binh chiến thắng tại Paris, tháng 6 năm 1940

Sư đoàn thiết giáp số 7, sau này được đổi tên thành Sư đoàn Ma (tiếng Đức: Gespenster-Division) do tốc độ và tính bất ngờ khi nó làm những nhiệm vụ được giao[21]; thậm chí đến mức có lúc Bộ Chỉ huy Tối cao của quân Đức đã mất liên lạc với nó và không biết nó nằm ở đâu.

Rommel nhận được cả lời tán dương lẫn chỉ trích cho kiểu đánh của mình. Một số chỉ huy như tướng Georg Stumme, người trước đó chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp 7 thì ấn tượng mạnh bởi tốc độ và sự thành công của Rommel nhưng một số khác, một vài người vì ghen tị, thì nghĩ ngược lại và chỉ trích rằng chiến thuật Rommel ẩn chứa nhiều nguy cơ không cần thiết. Hermann Hoth, ngoài mặt thì ca ngợi Rommel nhưng sau lưng thì chỉ trích. Trong một báo cáo mật, Hoth ghi rằng không nên giao cho Rommel chỉ huy sư đoàn nào nữa cho tới khi Rommel có thêm nhiều kinh nghiệm và khả năng phán đoán.[22] Hoth còn cáo buộc rằng Rommel không muốn thừa nhận đóng góp của người khác trong những chiến thắng của ông.

Chỉ huy Quân đoàn thứ 4 của quân đội Đức, tướng Günther von Kluge, còn chỉ trích Rommel là tự nhận một cách sai trái toàn bộ vinh quang trong những chiến thắng của ông. Kluge cảm thấy rằng Rommel không thừa nhận đóng góp của Không quân Đức (Luftwaffe) và chiến ký của Rommel về thời gian ông ở Pháp thì ghi sai về hướng tiến quân của các đơn vị chiến đấu cũng để chiếm hết công về mình. Kluge còn dẫn ra lời phàn nàn của tướng Hartlieb là Rommel đã lạm dụng dụng cụ xây cầu của Sư đoàn Thiết giáp số 5 vào ngày 14 tháng 5 khi dụng cụ của Sư đoàn Thiết giáp số 7 đã hết; việc làm này khiến cho Sư đoàn Thiết giáp 5 vượt sông bị chậm nhiều giờ.[23] Sau đó Rommel lại lặp lại điều này trong cuộc vượt sông Scarpe ngày 27 tháng 5.

Bắc Phi 1941-1943[sửa | sửa mã nguồn]

Phần thưởng tiếp theo mà Rommel nhận được cho những thành công của mình là ông được thăng cấp và được chỉ định trở thành chỉ huy của Sư đoàn Tia chớp số 5 của quân đội Đức (về sau trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 21, sư đoàn này cùng với Sư đoàn Thiết giáp số 15 tạo nên Quân đoàn Châu Phi Deutsches Afrikakorps,()). Quân đoàn này được gửi đến Lybia đầu năm 1941 trong chiến dịch Sonnenblume để hộ trợ quân Ý đang mất tinh thần vì những thiệt hại do liên quân Thịnh Vượng chung gây ra trong chiến dịch Compass. Ở Châu phi, Rommel giành được danh tiếng cao nhất của mình trong lãnh vực quân sự.

Đợt tấn công thứ nhất của phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực sa mạc phía Tây, nơi Rommel mở đợt tấn công đầu tiên ngày 24 tháng 3, 1941 – 15 tháng 6, 1941.

Vào ngày 6 tháng 2 năm 1941, Rommel được lệnh chỉ huy quân đoàn Châu Phi tiến về Libya để giúp quân Ý đang đã bị đánh lui trong chiến dịch Compass của liên quân khối Thịnh Vượng chung dưới sự chỉ huy của thiếu tướng Richard O'Connor vào khoảng tháng 11, 1940. Bộ Tổng chỉ huy phe Trục ban đầu thì ra lệnh nghi binh phòng thủ nhưng về sau lại tổ chức những đợt tấn công nhỏ trong tháng 5 vào AgedabiaBenghazi, và lên kế hoạch giữ vững phòng tuyến ở giữa các thành phố trên. Rommel phàn nàn rằng những kiểu tấn công nhỏ như thế sẽ vô dụng vì toàn bộ Cyrenaica sẽ bị chiếm nếu phe Trục phải phải tìm cách giữ tiền tuyến.[24] Ngoài ra, lực lượng của phe Trục phải nhận thêm 7000 lính Ý vốn đã bị mất tinh thần do việc vào 3 tháng trước đó O'Connor's đã bắt giữ được 130.000 lính và 400 xe tăng của quân đoàn Ý ở Bắc Phi.[25]

Vào 24 tháng 3 năm 1941, Rommel mở một đợt tấn công nhỏ với Sư đoàn Tia chớp số 5 và 2 sư đoàn bị binh Ý hỗ trợ. Đợt tấn công này là một đợt nhỏ trước khi quân Rommel được tăng cường thêm bởi Sư đoàn Thiết giáp số 15 vào tháng 5. Quân Anh, vốn đã bị suy yếu vì phải chia quân gửi sang tham chiến tại mặt trận Hy lạp, lùi về Mersa el Brega để bắt đầu xây dựng phòng tuyến. Rommel quyết định tiếp tục tấn công một lần nữa để ngăn chặn quân Anh củng cổ phòng tuyến này.[26] Sau một ngày đụng độ quyết liệt, quân Đức chiếm ưu thế và Rommel tiếp tục tiến quân bất chấp lệnh phải hoãn tấn công vào Agedabia cho đến tháng 5. Tổng tư lệnh Anh ở Trung Đông, tướng Archibald Wavell, đánh giá quá cao sức mạnh của liên quân phe Trục và cộng thêm nỗi lo ngại về vấn đề thời tiết mùa đông, liền ra lệnh rút quân khỏi Benghazi để tránh việc bị đợt tấn công của Rommel chia cắt.

Rommel, thấy được sự miễn cưỡng của người Anh trong một trận đánh quyết định, liền đưa ra một quyến định liều lĩnh: chiếm đóng toàn bộ Cyrenaica chỉ với lực lượng được trang bị nhẹ. Ông ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp Ariete của quân Ý truy đuổi số quân Anh đang rút đi, cùng lúc cho Sư đoàn Tia chớp số 5 của quân Đức liền tiến vào Benghazi. Chỉ huy Sư đoàn Tia chớp số 5, thiếu tướng Johannes Streich, phản đối lệnh với lý do rằng hình trạng trang thiết bị của Sư đoàn hiện tại không thích hợp để hành quân. Thế nhưng, Rommel bỏ ngoài tai lời phải đối này, ông nói "không thể để dịp may hiếm hoi trôi đi chỉ vì những chuyện vặt vãnh".[27] Cùng lúc đó, Tổng Tư lệnh quân Ý là tướng Italo Gariboldi liên tục tìm cách hoãn cuộc tiến quân của Rommel nhưng ông này không thể liên lạc được với Rommel.[28]

Sau khi chiếm được Benghazi, phe trục tiếp tục chiếm thêm khu vực Cyrenaica tới tận Gazala vào 8 tháng 4. Việc làm này của Rommel nhận được sự chỉ trích dữ dội từ phía Bộ Tổng chỉ huy quân Ý vì họ cảm thấy Rommel đã bất tuân thượng lệnh. Điều này càng đặc biệt khi mà Rommel đáng lẽ phải tuân theo lệnh của phía Ý. Sau đó, Rommel còn nhận được lệnh từ phía Bộ Chỉ huy Tối cao quân Đức rằng ông không được vượt qua khỏi Maradah, nhưng một lần nữa Rommel lại bỏ ngoài tai lệnh này cũng như mọi lời phản đối khác từ thuộc tướng của mình. Rommel tin rằng thời điểm đó là một cơ hội lớn lao để tiêu diệt một lượng lớn quân Đồng minh ở Bắc phi và chiếm giữ Ai Cập. Sau đó, Rommel quyết định tiếp tục gây sức ép lên quân Anh đang rút lui và mở một đợt tấn công cánh vào cảng Tobruk.[29] Trong đợt tấn công này, quân của Rommel bắt được Tổng chỉ huy quân sự của quân Đồng Minh tại khu vực Cyrenaica là Trung tướng Philip Neame và cả Richard O'Connor, khi này là thuộc tướng của Neame.

Trong thời gian quân Ý đang tấn công dọc theo bờ biển, Rommel quyến định tiến lên phía bắc và tấn công khu cảng từ phía Đông Nam với Sư đoàn Tia chớp số 5 với mục tiêu rằng sẽ vây được số lớn quân Anh đang đóng tại đó. Đợt tấn công này thất bại vì các lý do về hậu cần cũng như quân Đức không đảm bảo được đường tiếp vận; đồng thời quân của Rommel cũng nhiều lần bị đột kích bởi số quân Anh đóng tại Tobruk. Ngày 11 tháng 4, vòng vây quanh Tobruk đã được thiết lập và liên quân phe Trục mở đợt tấn công đầu tiên vào thành phố. Còn các lực lượng còn lại của phe Trục tiếp tục đông tiến và đẩy lui toàn bộ quân Đồng minh ra khỏi Libya vào ngày 15 tháng 4.

Cuộc vây hãm Tobruk[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng quan trọng Tobruk, mặc dầu đã bị bao vây, vẫn nằm trong tay các lực lượng Đồng Minh dưới sự chỉ huy của viên tướng người Úc, Leslie Morshead. Phe phòng thủ bao gồm Sư đoàn số 9 của quân Úc và toàn bộ số lính Anh đã rút kịp về Tobruk, tổng cộng là 25.000 quân. Rommel vội vàng muốn có được được chiến thắng một nhanh nhất, ông liên tiếp mở các đợt tấn công nhỏ vào cảng. Những đợt tấn công kiểu trên dễ dàng bị đánh bật. Rommel sau đó còn chỉ trích Bộ Chỉ huy Tối cao quân Ý là đã không thể cung cấp cho ông sơ đờ bố phòng của cảng (cảng này do người Ý xây dựng trước cuộc chiến). Điều này xảy ra là do quân của Rommel tiến quá nhanh so với dự kiến khiến cho quân Ý hầu như không có thời gian để đưa ra sơ đồ mà Rommel yêu cầu. Về giai đoạn này, tướng Heinrich Kirchheim, về sau là chỉ huy của Sư đoàn Tia chớp số 5 kể lại: "Một điều tôi không muốn nhớ lại là trong thời gian đó có quá nhiều máu đã đổ vô ích." [30] Sau đó trong cuộc chiến, Kirchheim đã chống lại việc mở các tấn công khác vào Tobruk do thiệt hại ở các đợt đầu là quá cao.

Rommel vẫn giữ suy nghĩ rằng chiến thắng sắp xảy ra. Trong nhật ký của mình, ông ghi lại rằng ông đã nhận ra từ trước rằng phe địch (chỉ quân Đồng minh) chắc chắc là sẽ bỏ Tobruk, thế nhưng chính bản thân ông cũng nghi ngờ điều này. Trong một bức thư gửi vợ ngày 16 tháng 4 cùng năm, ông ghi rằng quân Đồng minh đang rút khỏi Tobruk bằng đường biển và ông tự tin rằng quân Đồng minh sẽ không cố giữ khu cảng cho đến hết tháng 4.[31] Nhưng sự thật là các chuyến tàu đến cảng Tobruk không phải là để di tản mà là để tiếp vận quân nhu và cả viện binh. Một bức thư khác của Rommel, viết vào ngày 21 tháng 4,[32] kể lại rằng Rommel bắt đầu nhận ra rằng thời gian chờ người Ý cung cấp sơ đồ bố phòng của Toburk lại càng làm cho binh sĩ giảm tinh thần thêm nữa. Nhưng dù như thế nào, Rommel vẫn tiếp tục tin rằng việc chiếm được Toburk chỉ là một sớm một chiều. Đồng thời, mối quan hệ giữ Rommel với các thuộc tướng cũng trở nên xấu chưa từng thấy. Đặc biệt là với Streich người đã công khai chỉ trích các quyết định của Rommel và sau đó ông này còn từ chối mọi trách nhiệm về các trận đánh. Rommel bắt đầu mở một loạt các phiên tòa quân đội, nhưng rốt cục ông hầu như không ký quyết định kết án nào cả. Tình trạng này làm cho đích thân Tổng tư lệnh Walther von Brauchitsch viết thư cho Rommel nói rằng ông thay vì tiếp tục đe dọa và đòi thay những sĩ quan "cho tới nay đã cống hiến xuất sắc trong các trận đánh", Rommel nên có "một cuộc tranh cãi bình tĩnh và có tính xây dựng" thì "kết quả đem lại" sẽ "tốt hơn". Rommel vẫn tiếp tục án binh bất động.

Trang phục ở Châu phi của Rommel ở Deutsches Panzermuseum (Bảo tàng Thiết giáp Đức)

Đến lúc này, Rommel yêu cầu Bộ Tổng tư lệnh Tối cao quân Đức cho ông thêm quân để có thể mở thêm các đợt công kích. Thế nhưng, vì Đức có nhu cầu quân cho chiến dịch BarbarossaĐông Âu, yêu cầu của Rommel bị từ chối. Tham mưu trưởng quân đội Đức Franz Halder, trước khi ông này rời khỏi Phi châu, nói với Rommel rằng quân đội sẽ không thể lo về mặt hậu cần cho một số quân lớn thì Rommel trả lời lại "đó là chuyện của ông". Sau đó Halder mỉa mai nhận xét: "bây giờ thì hắn (Rommel) cũng phải miễn cưỡng mà tuyên bố rằng lực lượng của hắn chẳng mạnh đến nổi để mà ông ta có thể dùng chúng để mà tận dụng các 'cơ hội độc nhất' mà tình thế chung đem lại. Đó là cảm giác mà chúng ta có ở hầu hết thời gian mà chúng ta ở đây"[33]. Đồng thời, Halder vì nổi giận với Rommel do lệnh cấm vượt qua Maradah của mình bị Rommel bất tuân và thiệt hại của quân Đức quá lớn, nên ông này cử Friedrich Paulus để "chặn thằng lính hoàn toàn mất trí ấy".[34]

Khi mới đến nơi vào ngày 27 tháng 4, Paulus lại bị thuyết phục để cho phép Rommel mở một đợt tấn công khác. Về sau khi ở thủ đô Berlin, Halder viết "theo quan điểm của tôi, điều đó là một sai lầm" nhưng ông này vẫn biện hộ cho Paulus. Đợt tấn công ngày 4 tháng 5 về sau bị Paublus bắt hoãn vì ông này cho rằng nó sẽ trở thành một thảm họa. Thêm vào đó, Paublus cấm Rommel dùng quân để tấn công thêm nữa và ra lệnh hoãn toàn bộ các đợt tấn công khác cho tới khi toàn bộ lực lượng được tái tổ chức và có chỉ đạo từ Bộ tổng tư lệnh tối cao quân Đức.

Tham mưu trưởng của quân Đồng Minh tại đây, tướng Archibald Wavell đã cố gắng thực hiện hai cuộc tấn công nhằm giải vây cho Tobruk, chiến dịch BrevityBattleaxe, nhưng đều thất bại.

Sau thất bại đáng kể của chiến dịch Battleaxe, Wavell đã được thay thể bằng viên tổng tư lệnh gốc Ấn Độ, tướng Claude Auchinleck. Auchinleck đã mở một trận tấn công lớn để giải vây cho Tobruk, chiến dịch Crusader, và cuối cùng đã thành công. Đã có một lần Rommel đến một bệnh viện cho binh lính New Zealand – hãy còn trong vùng kiểm soát của Anh. "Ông đã hỏi thăm về nhu cầu của bệnh nhân, hứa sẽ cung cấp thuốc của Anh và ra đi không bị ngăn trở." [35]

Chiến dịch Crusader là một thất bại cho Rommel. Vài tuần sau trận đánh, Rommel đã hạ lệnh rút lui tất cả các lực lượng của mình đang đóng tại các khu vực xung quanh Tobruk (7 tháng 12, 1941) và triệt thoái về El Agheila. Quân Anh đã đuổi theo, cố gắng tiêu diệt toán quân Đức đang rút lui như họ đã làm vào năm 1940, thế nhưng Rommel đã tung ra một đợt phản công vào ngày 20 tháng 1 năm 1942 và giáng một đòn chí mạng vào quân Anh. Tập đoàn quân Bắc Phi tái chiếm Benghazi, quân Anh phải lui về khu vực Tobruk và bắt đầu xây dựng các vị trí phòng thủ.

Đầu mùa hè năm 1942 (24 tháng 5, 1942), đội quân của Rommel tấn công. Theo cách đánh chớp nhoáng (blitzkrieg) kinh điển, đội quân của ông đã thọc vào sườn quân Anh tại Gazala. Song, quân Pháp vẫn ngoan cố kháng cự lại các đợt tấn công của người Đức trong trận Bir Hakeim.[36] Tuy nhiên, Rommel cùng các chiến sĩ của ông đã triệt hạ được Bir Hakeim, buộc quân thù phải lui binh khỏi điểm phòng ngự kiên cố này. Như vậy là dù có sai sót trong việc chỉ huy nhưng vị Thống chế đaị tài cùng các binh sĩ tinh nhuệ đã lập nên những chiến công hiển hách, đẩy quân địch - dù đông đảo hơn quân của ông - vào thế yếu.[5] Quân Đức thắng thế, buộc quân Anh rút lui một cách nhanh chóng, nên được gọi là "Cú phi nước đại Gazala", để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Tobruk giờ đây bị cô lập và chỉ còn một mình, nằm giữa Tập đoàn quân Bắc Phi và Ai Cập. Vào ngày 21 tháng 6 năm 1942, sau một trận tấn công phối hợp nhanh, mạnh mẽ và có tính kết hợp của quân Đức, thành phố đã bị bao vây cùng với 33.000 quân lính. Gần một năm sau thất bại tại Singapore, quân Anh và lực lượng trong Khối Thịnh vượng chung Anh mới bị tổn thất thê thảm như vậy. Các lực lượng Đồng Minh đã hoàn toàn bị đánh bại. Vài tuần sau đó, họ phải rút lui ra xa khỏi Ai Cập.

Rommel tại Bắc Phi – Mùa hè 1941

Cuộc tấn công của Rommel cuối cùng phải dừng lại tại đường ray của một thị trấn nhỏ ở El Alamein (Ai Cập), chỉ cách Alexandria 60 dặm. Trong trận chiến El Alamein lần thứ nhất, quân của Rommel thất bại do những vấn đề về nguồn tiếp tế vũ khí, lương thực do một chiến dịch nhằm cắt đứt các tuyến đường vận chuyển của quân Đức mang tên Ultra được Không quânHải quân Hoàng gia Anh (Royal Air ForceRoyal Navy) thực hiện và những chiến thuật được cải tiến của quân Anh. Người Anh rất gần với nguồn tiếp tế và có được những người lính mới, khỏe mạnh để tăng cường cho các vị trí đóng quân của họ. Chiến thuật của Auchinleck là tiếp tục tấn công vào các lực lượng Ý yếu kém để giành thế chủ động về phía mình. Rommel, một lần nữa cố gắng bẻ gãy phòng tuyến của quân Anh bằng trận đánh tại Alam Halfa. Ông đã hoàn toàn bị cầm chân lại bởi vị chỉ huy mới đến của quân Đồng Minh, Trung tướng Bernard Montgomery, một người luôn có được sự hỗ trợ tuyệt đối về lương thực và vũ khí.

Do các lực lượng Đồng Minh từ Malta ngăn chặn nguồn tiếp tế của Rommel ngay tại bờ biển, và cả một khu vực rất rộng lớn mà ông phải giữ lấy, Rommel không thể giữ El Alamein mãi được. Vì vậy mà sau trận chiến tại El Alemein lần thứ hai, quân của Rommel phải rút lui. Sau thất bại tại El Alamein, mặc dù các vị lãnh tụ HitlerMussolini nhiều lần thúc giục Rommel, các lực lượng của ông đã không thể đứng vững và chiến đấu lại được nữa cho đến khi họ tiến vào Tunisia. Sau đó, trận chiến đầu tiên của họ không phải đối đầu với lực lượng quân đội tám nước của người Anh nữa (British Eighth Army, gồm có Úc, Ấn Độ, New Zealand, Nam Phi, Rhodesia, PhápBa Lan), mà là Quân đoàn số 2 của Mỹ. Thống chế Rommel xua quân tấn công quân Mỹ trong trận chiến tại đèo Kasserine, và giáng một đòn nặng nề vào quân địch. Lại một lần nữa, ông lại được vui với chiến thắng lừng lẫy nhờ có sự quyết đoán của ông, tài năng và sự mạnh mẽ của ông đã khiến cho quân thù phải nếm mùi đại bại.[37]

Một lần nữa, khi đối mặt với các lực lượng Khối Thịnh vượng chung của người Anh tại vành đai phòng thủ ở vùng biên giới của Pháp tại Mareth, Rommel đã không thể tránh được sự trễ nải trong các cuộc tấn công do không có nguồn tiếp tế. Kế hoạch Ultra chính là một mắt xích quan trọng dẫn đến sự thất bại đối với các lực lượng của ông. Rommel phải rời khỏi Bắc Phi và nhiều người lính từng chiến đấu dưới sự chỉ huy của ông trở thành tù binh chiến tranh.

Một số nhà sử học so sánh việc rút lui khỏi Tunisia của ông với những giấc mộng thành công lớn hơn của Hitler so với việc ông chiếm giữ được cảng Tobruk[cần dẫn nguồn]. Như một số mệnh được định sẵn với Đức Quốc Xã, trong khi lực lượng của Rommel đã không thể chiến đấu một cách hiệu quả do luôn gặp phải tình trạng thiếu thốn về nguồn tiếp tế thì tại trận chiến Stalingrad ở mặt trận phía đông nước Nga, mặc dù được sự hỗ trợ tuyệt đối nhưng Đạo quân số 6 do Thống chế Friedrich Paulus chỉ huy đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn và thậm chí viên Thống chế này đã bị bắt làm tù binh.

Trong giai đoạn này, có tài liệu nói rằng quân Anh đã cố gắng tổ chức một cuộc bắt sống Rommel ngay tại tổng hành dinh của ông, ở phía sau phòng tuyến quân Đức những 250 dặm, nhưng bất thành[cần dẫn nguồn].

Pháp 1943–1944[sửa | sửa mã nguồn]

Gerd von Rundstedt và Rommel tại khách sạn George V, Paris 19 tháng 12 năm 1943

Quay trở về Đức, Rommel có một khoảng thời gian vô công rỗi nghề. Tuy nhiên, khi quân đội phát xít Đức mất thể chủ động trên chiến trường, Hitler đã gửi Rommel đến bộ tham mưu của Tập đoàn quân B, chịu trách nhiệm tổ chức phòng thủ bờ biển phía Tây nước Pháp trước cuộc xâm lược có thể xảy ra của quân đội Đồng Minh. Trước khi cuộc tấn công xảy ra vài tháng, do nhận thấy sự mất tinh thần, tốc độ xây dựng chậm chạp của quân Đức, Rommel đã nỗ lực hết sức mình để xây dựng tuyến phòng thủ dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của ông, công việc diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, hàng triệu bãi mìn, hàng ngàn ụ bê tông bảo vệ xe tăng và các chướng ngại vật đã được dựng lên trên các bãi biển và các vùng thôn quê.

Sau các trận chiến của mình tại châu Phi, ông đúc kết ra rằng không thể nào ngăn chặn được tốc độ tiến công dưới sự yểm trợ tối đa bằng đường không của quân Đồng Minh. Ông đã đưa ra quan điểm rằng các lực lượng xe tăng nên được tách ra thành các đơn vị nhỏ để củng cố vững chắc các điểm trọng yếu và nên được đặt gần chiến tuyến càng tốt bởi vì chúng không thể di chuyển được đi xa một khi cuộc tấn công nổ ra[cần dẫn nguồn]. Ông muốn cuộc tấn công của quân Đồng Minh phải được chặn đứng ngay từ các bãi biển. Tuy nhiên, vị chỉ huy của ông, Thống chế Gerd von Rundstedt, lại cho rằng không có cách nào ngăn chặn được cuộc tấn công từ bờ biển vì hỏa lực quá mạnh của lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh. Ông ta lại nghĩ các lực lượng xe tăng nên được tổ chức lại thành các đơn vị lớn đóng sâu vào vùng đất liền gần Paris, nơi cho phép lực lượng Đồng Minh tiến sâu vào và sau đó sẽ tiêu diệt họ. Khi phải lựa chọn một kế hoạch cụ thể để tiến hành, Hitler tỏ ra do dự và đưa ra một giải pháp mang tính lưng chừng, vừa đủ xa để làm kế hoạch của Rommel trở nên không còn có ích và cũng không đủ xa như theo kế hoạch của von Rundstedt vạch ra[cần dẫn nguồn]. Có thể nói rằng, kế hoạch của Rommel đã không được toại nguyện.

Trong ngày D-Day (ngày mở màn cuộc đổ bộ vào Normandie), nhiều đơn vị xe tăng, nhất là Sư đoàn Panzer SS số 12 khi đó đang ở rất gần bờ biển và có đủ khả năng để gây ra một sự thiệt hại nghiêm trọng cho quân Đồng Minh. Cái rủi cho quân phát xít Đức lại là cái may cho quân Đồng Minh, Hitler đã từ chối tung ra các đơn vị tăng này vì ông ta tin rằng cuộc đổ bộ lên bờ biển chỉ là đòn nghi binh của đối phương. Nhờ có sự thành công của chiến dịch tung tin giả mạo mang tên Fortitude, Hitler và bộ chỉ huy tối cao của Đức đã mong chờ một cuộc tấn công lớn của quân Đồng Minh vào Pas de Calais. Đối mặt với các cuộc tấn công quy mô nhỏ của quân Đức, lực lượng Đồng Minh nhanh chóng chiếm được các vị trí đổ bộ.

Âm mưu chống lại Hitler[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5-1944, Rommel cùng với những sĩ quan tham mưu thân tín nhất của mình. Tham mưu trưởng tướng Hans Speidel, Đô đốc hải quân Friedrich Ruge và sĩ quan tùy viên của ông, Đại úy Hellmuth Lang. Tất cả họ đều có tham gia vào âm mưu sát hại Hitler

Ngày 17 tháng 7, 1944, Thống chế Rommel đang di chuyển trên xe hơi thì bị một chiếc máy bay Spitfire của Không lực Hoàng gia Canada (RCAF) oanh kích, ông đã được đưa vào bệnh viện với các vết thương ở vùng đầu. Cùng khoảng thời gian này, sau sự thất bại của âm mưu đảo chính chống lại Hitler vào ngày 20 tháng 7, một cuộc đàn áp thẳng tay đã được thực hiện trong khắp hệ thống quân đội Đức. Khi các cuộc điều tra được tiến hành, nhiều mối liên kết đã chỉ ra sự dính líu chặt chẽ của Rommel đối với âm mưu này, và cả những phụ tá thân tín nhất của ông cũng có liên quan tới. Khi đó, cũng có nhiều nhân viên đảng Quốc Xã ở địa phương đã báo cáo rằng Rommel đã có những lời lẽ khinh miệt dành cho giới lãnh đạo đảng Quốc Xã trong thời gian ông nằm tại bệnh viện. Martin Bormann quả quyết rằng Rommel có dính líu tới vụ này trong khi Joseph Goebbels (bộ trưởng tuyên truyền của Hitler) thì lại không.

Sự thật là việc Rommel có tham gia vào âm mưu này hay không vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, sau chiến tranh, vợ của Rommel quả quyết rằng ông đã chống lại trong lúc âm mưu được thực hiện[cần dẫn nguồn]. Người ta[cần dẫn nguồn] đã cho rằng vì không muốn đem các thế hệ người tương lai của người Đức rơi vào sự thất bại của cuộc chiến bởi thuyết Dolchstoßlegende vẫn thường được một số người Đức tin tưởng sau Thế chiến thứ I, mà thay vào đó, Rommel ủng hộ cuộc một cuộc đảo chính và Hitler sẽ được đem ra xét xử trước công chúng. Dù vậy, các tài liệu mật của tình báo Anh mới được giải mã gần đây [38][39] cho thấy, dường như Rommel cuối cùng đã thay đối ý định và ủng hộ việc tiêu diệt Hitler. Trước khi Rommel tự tử khoảng một tháng, phía Đồng minh đã biết việc Rommel can dự vào âm mưu chống lại Hitler. Trong một cuộc nói chuyện riêng tư, Tướng Eberbach (khi đó đã là tù binh của quân Đồng minh và không biết căn phòng đã bị Tình báo Anh cài đặt máy ghi âm) nói rằng thượng cấp của ông là Thống chế Rommel đã nói thẳng rằng: "Hitler và những đồng minh thân cận nhất của ông ta cần phải bị giết." Eberbach là một trong những sĩ quan cao cấp (những người khác bao gồm cả các tướng lĩnh SS ở mặt trận phía Tây[40][41] như Bittrich, Hausser, Sepp Dietrich - một sĩ quan đã từng rất thân cận với Hitler và một người Quốc xã nhiệt thành) đã hứa với Rommel rằng sẽ phục tùng mệnh lệnh của Thống chế và ủng hộ ông trong nỗ lực chấm dứt chiến tranh với các nước phương Tây. Cấp trên của Rommel là Thống chế Kluge cũng ủng hộ ông, dù không nhiệt tình (Thống chế Rundstedt cũng biết việc này, nhưng không đồng ý tham gia[42], nhưng cũng giống như Manstein, ông đã không báo cáo cho Hitler những điều mình biết được). Với sự đồng tình của Kluge, Rommel đã gửi một tối hậu thư cho Hitler ("Đây là cơ hội cuối cùng của ông ta, nếu ông ta không nghe thì chúng ta sẽ hành động!") yêu cầu đi đến "giải pháp chính trị" với các nước phương Tây thuộc phe Đồng minh. Thật không may, sau đó hai ngày Rommel bị thương nặng do một cuộc không kích của quân Đồng minh và không thể điều động các lực lượng ở mặt trận phía Tây cũng như hỗ trợ nhóm của Stauffenberg.

Vì sự ngưỡng mộ của người dân Đức với Erwin Rommel, Hitler cho ông lựa chọn giữa việc tự sát bằng chất độc cyanide hay đối mặt với phiên tòa làm bôi nhọ danh dự ông tại Tòa án Nhân dân của Roland Freisler và sau đó sẽ giết hại gia đình cũng như những người cộng sự của ông. Rommel đã chọn cách thứ nhất, ông đã tự kết liễu đời mình vào ngày 14 tháng 10, 1944 và được chôn cất với đầy đủ nghi thức trang trọng của quân đội. Sau chiến tranh, quyển nhật ký chiến tranh của ông được xuất bản mang tên The Rommel Papers. Rommel là thành viên duy nhất của Đế chế thứ ba (Third Reich) có được bảo tàng ghi lại cuộc đời và sự nghiệp của ông. Mộ của ông nằm ở Herrlingen, cách Ulm không xa.

Rommel bị bức tử[sửa | sửa mã nguồn]

(Đoạn này được tóm tắt theo The rise and fall of the Third Reich – A history of Nazi Germany, của William L. Shirer. NXB: Simon and Schuster, Inc., New York, N.Y., 1960.)

Thống chế Rommel

Sau vụ ám sát hụt Hitler ngày 20 tháng 7, 1944, năm người chủ mưu bị xử tử ngay trong ngày, còn Mật vụ Đức truy ra sự can dự của Thống chế Günther von Kluge, Tổng Tư lệnh Mặt trận miền Tây, tức cấp trên trực tiếp của Rommel. Sau khi bị thay thế bởi Thống chế Otto Moritz Walter Model, Thống chế Kluge tự tử nhưng không chết, được đưa vào bệnh viện ở Verdun. Nơi đây, khi nửa mê nửa tỉnh và bị mù mắt, ông thốt ra tên của Rommel. Sau đấy, khi bị Mật vụ tra tấn dã man, Đại tá Caesar von Hofacker (thuộc tổng hành dinh của Ban Quân quản Pháp tại Paris) khai ra vai trò của Rommel trong âm mưu. Hofacker khai Rommel đã trấn an ông: "Hãy nói với những người ở Berlin rằng họ có thể trông cậy nơi tôi." Đấy là câu nói ám ảnh đầu óc của Hitler khiến cho Lãnh tụ quyết định vị thống chế được ông yêu thích phải chết, dù ông biết đấy là người được ngưỡng mộ nhất trên nước Đức.

Trong khi xương sọ, trán và xương má còn đang mang những vết nứt nặng, mắt bên trái còn bị thương nặng và cả đầu còn mang mảnh bom, Rommel được dời ra khỏi bệnh viện dã chiến để tránh bị quân Đồng minh bắt, rồi được đưa về nhà riêng ở Herrlingen gần Ulm. Ông nhận được dấu hiệu cảnh báo đầu tiên cho số phận của mình khi biết người cựu tham mưu trưởng của ông, Tướng Hans Speidel, bị bắt ngày 7/9, một ngày sau khi đến thăm ông ở Ulm.

Khi họ nói chuyện với nhau về Hitler, Rommel đã than thở với Tướng Speidel:

Cái tên lừa dối bệnh hoạn ấy đã hoàn toàn điên khùng. Hắn đang trút cơn bạo hành lên những người âm mưu ngày 20/7, và đấy chưa phải là hết!

Bây giờ, Rommel nhận thấy nhân viên SS đang rình rập quanh nhà ông. Khi ông đi tản bộ trong khu rừng gần nhà cùng với cậu con trai 15 tuổi, được đơn vị phòng không nơi cậu phục vụ cho phép về săn sóc cha, cả hai đều mang súng lục. Cùng lúc, tại tổng hành dinh ở Rastenburg Hitler nhận được báo cáo về lời khai của Hofacker đề cập đến Rommel. Thế là, Hitler tuyên án tử hình – nhưng theo cách đặc biệt. Như Tướng Wilhelm Keitel (Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Quân lực) khai trước Tòa án Nürnberg, Lãnh tụ nhận ra

rằng đấy sẽ là một vụ xì-căng-đan kinh khủng nếu vị Thống chế có tiếng tăm này, người được yêu mến nhất, lại bị bắt và bị lôi ra trước Tòa án Nhân dân.

Vì thế, Hitler dàn xếp với Keitel là sẽ báo cho Rommel về chứng cứ chống lại ông này và cho chọn lựa giữa tự tử hoặc ra trước Tòa án Nhân dân về tội danh phản quốc. Nếu chọn cách tự tử, Rommel sẽ được an táng theo cấp nhà nước với mọi nghi thức của quân đội, và gia đình ông sẽ không bị xâm phạm.

Thế là, vào buổi trưa ngày 14/10/1944, hai vị tướng từ tổng hành dinh của Hitler đi đến nhà của Rommel, bấy giờ bị binh sĩ SS bao vây cùng với 5 xe bọc thép. Hai người là Wilhelm Burgdorf, nghiện rượu, có tính xu nịnh Hitler giống như Keitel, và phụ tá của ông thuộc Phòng Nhân viên Lục quân, Ernst Maisel, cũng có tố chất tương tự. Họ đã báo trước cho Rommel hay rằng Hitler phái họ đến để thảo luận "công tác sắp tới" của Thống chế.

Sau này, Keitel khai trước Tòa án Nurnberg: "Do Lãnh tụ sai khiến, tôi phái Burgdorf đi cùng với bản văn của lời khai chống Rommel. Nếu đấy là đúng, ông ấy sẽ phải chịu hậu quả, Nếu không đúng, tòa án sẽ miễn tội cho ông."

"Và ông chỉ thị cho Burgdorf mang theo thuốc độc, đúng không?"

"Đúng. Tôi bảo Burgdorf mang theo thuốc độc cho Rommel dùng, nếu tình hình đòi hỏi."

Sau khi Burgdorf và Maisel đến, mọi người thấy không phải để thảo luận công tác sắp tới của Rommel. Hai người yêu cầu được nói chuyện riêng với Thống chế, và ba người đi vào phòng đọc sách.

Manfred Rommel, con trai của Rommel, sau này kể lại: "Vài phút sau, tôi nghe tiếng cha tôi đi lên lầu và bước vào phòng mẹ tôi." Rồi thì:

Chúng tôi đi vào phòng của tôi. Ông ấy chậm rãi nói: "Cha vừa nói chuyện với mẹ con rằng trong vòng một phần tư giờ nữa cha sẽ chết... Hitler đang kết tội cha là phản quốc. Xét qua công trạng của cha ở Châu Phi, cha sẽ có cơ hội chết bằng thuốc độc. Hai người tướng đã mang thuốc độc đến. Cái chết sẽ đến sau ba giây. Nếu cha chấp nhận, gia đình ta sẽ không phải chịu những biện pháp thường thấy... Cha sẽ được làm lễ an táng cấp nhà nước. Lễ tang đã được chuẩn bị đến chi tiết cuối cùng. Trong vòng một phần tư giờ, con sẽ được bệnh viện ở Ulm báo cho biết cha đã bị tai biến mạch máu não trên đường đi dự họp."

Sự việc đã xảy ra đúng như thế.

Mặc chiếc áo jacket cũ bằng da của Binh đoàn Châu Phi và cầm cây gậy thống chế, Rommel bước vào chiếc xe cùng với hai người tướng. Xe chạy được khoảng 3 kilômét theo con đường ven một khu rừng, rồi Tướng Meisel và tài xế SS bước ra, để Rommel và Tướng Burgdorf ngồi lại phía sau. Một phút sau, hai người quay lại chiếc xe; Rommel đã chết. Mười lăm phút sau khi vĩnh biệt chồng, bà vợ của Rommel nhận được một cuộc gọi từ bệnh viện. Bác sĩ cho biết hai người tướng đã mang thi hài của Rommel đến, qua đời vì nghẽn mạnh máu não, hiển nhiên là do việc vỡ xương sọ lúc trước. Thật ra, Burgdorf đã cấm khám nghiệm tử thi. Ông bảo: "Không được đụng đến xác chết. Mọi việc đã được thu xếp ở Berlin."

Đúng như thế.

Thống chế Model ra một nhật lệnh cho biết Rommel đã qua đời vì "những vết thương gây ra ngày 17/7" và tỏ ý thương tiếc sự mất mát "của một trong những vị tư lệnh vĩ đại nhất của đất nước."

Hitler gửi điện tín đến bà vợ của Rommel:

Xin hãy nhận lòng cảm thông chân thành của tôi đối với sự mất mát nặng nề mà bà phải chịu đựng vì cái chết của ông nhà. Tên tuổi của Thống chế Rommel sẽ mãi mãi gắn liền với những trận đánh anh hùng ở Châu Phi.

Göring cũng gửi một bức điện:

Sự kiện là ông nhà đã qua đời với một cái chết anh hùng vì hậu quả của các vết thương, sau khi tất cả chúng tôi đã hy vọng ông sẽ ở lại với nhân dân Đức, đã khiến cho tôi cảm thương một cách sâu sắc.

Hitler ra lệnh tổ chức lễ tang cấp nhà nước, trong đó vị sĩ quan cao niên của Quân đội Đức, Thống chế Karl Rudolf Gerd von Rundstedt (cựu Tổng Tư lệnh Mặt trận miền Tây, cũng là cấp trên trực tiếp của Rommel, trước Kluge), đọc điếu văn khi đứng bên thi hài của Rommel phủ cờ chữ thập ngược: "Con tim của ông ấy thuộc về Lãnh tụ."

Công bằng mà nói, có lẽ Rundstedt không biết những tình tiết trong cái chết của Rommel, và hẳn chỉ biết được qua lời khai của Keitel tại Tòa án Nürnberg. Rundstedt khai: "Tôi không nghe được những lời đồn đại ấy, nếu không tôi đã từ chối đại diện cho Lãnh tụ ở lễ tang; đấy sẽ là điều ô nhục không lời nào diễn tả được." Tuy nhiên, tang quyến Rommel nhận thấy Rundstedt từ chối đến dự lễ hỏa thiêu sau lễ tang và đến chia buồn với quả phụ tại nhà của Rommel, trong khi phần lớn các tướng lĩnh khác đều đến.

Sau này, một bia tưởng niệm được dựng nơi chiếc xe dừng cho Rommel uống thuốc độc với dòng chữ:

Tại đây, Thống chế Erwin Rommel bị ép buộc phải tự tử vào ngày 14 tháng 10, 1944. Ông nhận một cốc thuốc độc và tự hy sinh, hầu cứu gia đình ông thoát khỏi tay sai của Hitler.

Các trận chiến mà Erwin Rommel tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhận xét về Rommel[sửa | sửa mã nguồn]

Rommel, Rommel, Rommel - có vấn đề gì khác ngoài việc đánh bại ông ta?

—Thủ tướng Anh Winston Churchill (sau đại bại tại Gazala 1942)[43][44]

Thống chế Erwin Rommel là một bậc thầy trận mạc, là tấm gương mẫu mực về khí phách anh hùng.[45] Ngay cả khi biết liên quân Anh - Mỹ có quân số đông hơn Đức, ông vẫn tự tin sẵn sàng chiến đấu bằng tài chiến thuật siêu việt.[46] Theo thời gian, tên tuổi của ông vẫn lôi cuốn hậu thế.[1] Ông trở thành một trong những tên tuổi quan trọng nhất trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, và cho đến này đã có nhiều tác phẩm viết về ông.[4] Ông là người có nhiều phẩm chất đáng kính: lòng nồng nàn yêu nước, cởi mở, chân thật, kỷ cương, hào hiệp, quý mến nhân dân cùng với các truyền thống cao đẹp của quê hương: thượng võ, khoan dung, sáng suốt, thận trọng trong hành động.[47] Dù trong cuộc chinh chiến, không phải Rommel không có những sai lầm, thế nhưng những sai sót ấy đều bị che lấp bởi tài năng xuất chúng và tài nghệ lãnh đạo của ông, chứ không phải là che lấp bởi những lời tuyên truyền.[48] Chính nhờ có sự lãnh đạo tài tình, táo bạo của ông, các binh sĩ luôn trung thành với vị chủ tướng, luôn sẵn sàng chiến đấu tới cùng trong mọi trận đánh. Điều đó đã mang lại thành công cho sự nghiệp quân sự của ông, đưa ông trở thành một trong những vị chỉ huy quân sự xuất sắc nhất trong lịch sử. Trong suốt chiều dài lịch sử, ông là một vị danh tướng lỗi lạc sánh vai với Napoléon BonaparteRobert Lee, dù có một sự thật là ông cũng như hai người này đều thua trận đánh cuối cùng trong sự nghiệp quân sự của mình. Tuy mục đích của chiến tranh là để chiến thắng, rõ ràng đó không phải là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá về tài năng quân sự của một vị tướng, do đó không ai có thể phủ nhận tài quân sự của Rommel.[49] Là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất trong lịch sử quân sự, cuộc đời ông đã trở thành một phần của lịch sử.[48] Quốc hội Anh đã tổ chức một cuộc bỏ phiếu bãi nhiệm Winston Churchill sau thất bại tả tơi tại Tobruk. Cuộc bỏ phiếu này đã thất bại, nhưng trong quá trình tranh luận, Churchill có nói: "We have a very daring and skillful opponent against us, and, may I say across the havoc of war, a great General." (Chúng ta có một đối thủ rất dũng cảm và tài giỏi, và tôi có thể nói (rõ hơn là) phía bên kia của cuộc chiến tàn phá này là, một vị tướng quân vĩ đại.).[50]

Ngay từ năm 1941, Joseph Goebbels đã đưa cái tên "Rommel" trở thành biểu hiện của sự bất khả chiến bại của dân tộc Đức.[2] Ông trở thành hiện thân của chiến tranh sa mạc. Chính tài nghệ chiến sự xuất sắc của ông (với những chiến công lừng lẫy như cuộc đẩy lui quân Anh về El Alamein và chiến thắng trước quân Mỹ trong trận đánh Kasserine) đã mang lại cho ông biệt hiệu "Cáo Sa mạc" (Wüstenfuchs).[46] Thiên tài quân sự của ông có ảnh hưởng lớn lao đến mức mà cả Thống chế Anh Bernard MontgomeryĐại tướng Hoa Kỳ George S. Patton đều coi cuộc chiến là một cuộc đọ sức cá nhân với vị Thống chế Đức lỗi lạc. Như Patton có nói: "Hai đoàn quân có thể xem. Tôi sẽ bắn Rommel. Ông ta sẽ bắn tôi. Nếu tôi giết được ông ta, tôi sẽ là vị cứu tinh, nước Mỹ sẽ chiến thắng cuộc chiến tranh". Montgomery và Patton cũng hết mực tôn sùng kẻ kình địch của chính họ. Patton đã khảo cứu một cuốn sách về chiến thuật của Rommel, trong khi Montgomery có hình vị Thống chế Đức trong xe moóc của mình. Trong khi kẻ thù của ông thán phục ông như vậy thì Rommel cũng có lời bàn: "Montgomery chưa bao giờ làm nên một sai lầm chiến lược... [và] trong quân đội của Patton chúng ta nhận thấy thành tựu nổi bật nhất về chiến tranh cơ động".[46] Các Sĩ quan và binh lính Anh trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng ngưỡng mộ "Cáo Sa mạc" đến mức mà họ thường nói "làm nên một Rommel" để chỉ sự làm việc một cách ngay thẳng và mạnh mẽ.[4] Khi nghe tin về cái chết của Rommel, Churchill có nói: "He also deserves our respect, because, although a loyal German soldier, he came to hate Hitler and all his works, and took part in the conspiracy to rescue Germany by displacing the maniac and tyrant. For this, he paid the forfeit of his life. In the sombre wars of modern democracy, there is little place for chivalry." (Ông ta xứng đáng có được sự tôn trọng của chúng ta, bởi vì, mặc dầu là một người lính Đức trung thành, ông đã chán ghét Hitler và những việc làm của hắn, và đã tham gia vào âm mưu giải thoát nước Đức khỏi tay tên bạo chúa này. Vì điều đó mà ông ta đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Trong những cuộc chiến tranh cho nền dân chủ tân tiến, có rất ít chỗ cho tinh thần hiệp sĩ này.).[51] Vai trò của ông trong vụ ám sát Hitler cũng khiến ông trở thành biểu hiện cho một nước Đức tốt đẹp: ông là người lính chiến đấu vì cuộc chiến tranh chính nghĩa, vinh quang của dân tộc, chứ không phải là vì Đảng Quốc Xã và cũng không hề bị nhiễm tư tưởng Quốc Xã.[4]

Nhiều người tham gia vào các âm mưu chống lại Hitler năm đó nhận thấy sự ngây thơ chính trị và lối suy nghĩ nghiêng về lý tướng hóa của Rommel, nhưng không đánh giá thấp ông về điều đó. Stauffenberg gọi ông là một "nhà lãnh đạo vĩ đại"[52]. Nhà văn, triết gia Đức Ernst Jünger (khi đó là một Đại úy dưới quyền Thượng tướng von Stülpnagel và cũng là người đã soạn thảo thông điệp hòa bình mà những người tham gia vụ Stauffenberg dự định phát hành sau khi hoàn thành kế hoạch) sau này nhận xét rằng: "Cú đòn xảy đến cho Rommel trên đường Livarot đã tước đoạt khỏi kế hoạch của chúng tôi con người duy nhất có khả năng chịu đựng sức nặng của cả cuộc chiến lẫn một cuộc nội chiến - con người duy nhất mà ngay sự ngây thơ của ông ta đủ để đương đầu với tính chất giản đơn kinh khủng của những kẻ cầm quyền." [53]

Theodor Werner, từng là một sĩ quan phục vụ dưới quyền Rommel trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đã nói: "Anybody who came under the spell of his personality turned into a real soldier. He seemed to know what the enemy were like and how they would react." (Bất kỳ ai bị rơi vào sức thu hút mạnh mẽ của ông đều trở thành một người lính thực sự. Ông ta dường như biết được kẻ thù của mình ra sao và họ sẽ đánh trả lại như thế nào.).[54] Rommel học rộng binh thư, và ông rất ngưỡng mộ vị Hoàng đế Pháp trứ danh Napoléon Bonaparte. Ngay từ khi là một Sĩ quan trẻ tuổi, ông đã mua một bản in cảnh Napoléon trên thuyền đến nơi an trí tại Helena.[55] Ông thật sự thán phục tài nghệ lãnh đạo của Napoléon, và đặc biệt là câu nói nổi tiếng của vị Hoàng đế rằng các tướng lĩnh không thể chỉ huy Đại quân (Grand Armée) của ông từ cung điện Tuileries. Nói cách khác, Napoléon Bonaparte cho rằng một vị thống soái phải đích thân thống lĩnh ba quân trên trận tiền, và Rommel đã tuân theo ngay từ hồi ông tham chiến trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.[56] Không những là một người chiến binh thiện chiến, về phần đời ông có cuộc sống vui sướng, hạnh phúc với vợ con.[57] Ở nước Mỹ ngày nay, trong những Học viện quân sự, các Thiếu Sinh Quân đều phải coi ông như một lãnh đạo mẫu mực, một thiên tài chiến thuật.[4]

Trong tiểu thuyết và phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

James Mason đã đóng vai của Rommel trong cuốn phim The Desert Fox năm 1951, và diễn viên Karl Michael Vogler cũng thủ vai của ông trong bộ phim Patton, do George C. Scott đóng vai chính. Năm 1988, Hardy Kruger đóng vai Rommel trong loạt phim nhiều tập War and Remembrance.

Trong cuốn truyện lịch sử giả tưởng The Man in the High Castle, tác giả Philip K. Dick có đề cập đến chi tiết Rommel được chính quyền Mỹ chỉ định làm chủ tích của đảng Quốc Xã trong những năm đầu thập niên 1960.

Trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Fox on the Rhin của hai tác giả Douglas NilesMichael Dobson, Hitler bị giết trong âm mưu cho nổ bom vào ngày 20 tháng 7 năm 1944. Điều này dẫn tới việc Rommel tiếp tục sống và nhanh chóng mở ra một cuộc tấn công. Cuộc tấn công này bị đẩy lùi và cuốn sách kết thúc với việc Rommel đầu hàng người Anh và người Mỹ, vì ông tin rằng người dân Đức sẽ được sống tốt đẹp hơn dưới quyền lực của người phương Tây chứ không phải dưới tay chính quyền Xô Viết. Cuốn Fox on the Front là cuốn tiếp theo của Fox on the Rhine.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 3
  2. ^ a ă Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, trang 136
  3. ^ a ă Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, các trang 1-7.
  4. ^ a ă â b c d đ e Dennis E. Showalter, Patton and Rommel: Men of War in the Twentieth Century, các trang 1-2.
  5. ^ a ă David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 331
  6. ^ Hakim, War, Peace and all that Jazz, p. [cần số trang]
  7. ^ AT ROMMEL'S SIDE: The Lost Letters of Hans-Joachim Schraepler Publisher: Frontline Books (tháng 9 năm 2009) Ngôn ngữ: English ISBN 1-84832-538-X ISBN 978-1-84832-538-8
  8. ^ Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, trang 167
  9. ^ Bierman and Smith The Battle of Alamein: Turning Point, World War II, p. 56
  10. ^ Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, trang 10
  11. ^ Current Biography Yearbook 1942 New York: H.W. Wilson, 1943. pp. 701–04. See also: http://www.storico.org/Rommel.htm
  12. ^ David Fraser (1993), Knight's Cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel‎, HarperCollins, p. 213
  13. ^ Irving, The Trail of the Fox, p. 39
  14. ^ Liddell Hart. The Rommel Papers, p. 6.
  15. ^ von Luck. Panzer Commander. p. 38
  16. ^ Irving, The Trail of the Fox, p. 44
  17. ^ a ă Irving, The Trail of the Fox, p. 45
  18. ^ Irving, The Trail of the Fox, p. 50
  19. ^ Bond, Brian, Britain, France and Belgium 1939 - 1940, 2nd Edition. Brassey's Publishing, London. 1990. ISBN 0-08-037700-9, p. 72-73.
  20. ^ a ă Irving, The Trail of the Fox, p. 51
  21. ^ Richard Collier (1997), The war in the desert‎, Time-Life Book, p. 40
  22. ^ Irving, The Trail of the Fox, p. 55
  23. ^ Irving, The Trail of the Fox, p. 56
  24. ^ Liddell Hart The Rommel Papers, p. 106
  25. ^ Windrow. Rommel's Desert Army, p. 9.
  26. ^ Liddell Hart The Rommel Papers, p. 107
  27. ^ Liddell Hart The Rommel Papers, p. 110
  28. ^ Windrow. Rommel's Desert Army, p. 10.
  29. ^ Liddell Hart The Rommel Papers, p. 121
  30. ^ Gerhard Schreiber, Bernd Stegemann, and Detlef Vogel (1995), The Mediterranean, south-east Europe, and north Africa, 1939-1941: from Italy's declaration of non-belligerence to the entry of the United States into the war, Oxford University Press, p. 693
  31. ^ Irving. Trail of the Fox, p. 84.
  32. ^ Liddell Hart The Rommel Papers, p. 129
  33. ^ Irving. Trail of the Fox, p. 90.
  34. ^ Irving. Trail of the Fox, p. 92.
  35. ^ tướng Fritz Bayerlein, The Rommel Papers, chương 8
  36. ^ David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 323
  37. ^ David Fraser, Knight's Cross: A Life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 409
  38. ^ http://www.youtube.com/watch?v=K25uGpRqNos
  39. ^ http://books.google.com.vn/books?id=lBCrOLsps1cC&pg=PT160&lpg=PT160&dq=Hitler++Rommel+%22bugged%22+Eberbach&source=bl&ots=E8sKMPM3Xn&sig=NeakjXfX-BuyNIesHu14lvmNC58&hl=vi&sa=X&ei=pnMTU6nkEMbOlAWomIDgAw&ved=0CCoQ6AEwAA#v=onepage&q=Hitler%20%20Rommel%20%22bugged%22%20Eberbach&f=false
  40. ^ http://books.google.com.vn/books?id=QIQ_0WtkGjYC&pg=PT74&lpg=PT74&dq=Rommel+Dietrich+Bittrich&source=bl&ots=W0JlVQD74G&sig=zkBjm-b1s3E6wWPtcoFD_89w-Gk&hl=vi&sa=X&ei=-HwTU-67OIb6kAXx7YHgCA&ved=0CKEBEOgBMBA#v=onepage&q=Rommel%20Dietrich%20Bittrich&f=false
  41. ^ http://books.google.com.vn/books?id=HBQ3Va075OoC&pg=PA183&lpg=PA183&dq=Rommel+Dietrich++%22obey%22&source=bl&ots=EwvgKLEpT6&sig=SuqhkUICUtw2tBAEfRcjePzuucM&hl=vi&sa=X&ei=xn4TU-EoxauQBeOygBg&ved=0CFcQ6AEwBQ#v=onepage&q=Rommel%20Dietrich%20%20%22obey%22&f=false
  42. ^ http://books.google.com.vn/books?id=VqutwXcrfGUC&pg=PA203&lpg=PA203&dq=Rundstedt+%22you+are+young%22&source=bl&ots=ouPGgv-O9x&sig=gkh43JOcEx8Hucu_vUn94-apJto&hl=vi&sa=X&ei=cYQTU93INIPBkgXVloHgCA&ved=0CCoQ6AEwAA#v=onepage&q=Rundstedt%20%22you%20are%20young%22&f=false
  43. ^ Terry Brighton, Patton, Montgomery, Rommel: Masters of War, phần Mở đầu
  44. ^ Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, trang 152
  45. ^ David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 5
  46. ^ a ă â Terry Brighton, Patton, Montgomery, Rommel: Masters of War, các trang XV-XVII.
  47. ^ David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 558
  48. ^ a ă David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 428
  49. ^ David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 562
  50. ^ Biggs, Barton (2008). Wealth, War and Wisdom . John Wiley and Sons. tr. 97. ISBN 0470223073. 
  51. ^ Churchill, Winston (1986). Second World War. Volume 3: The Grand Alliance . Houghton Mifflin Harcourt. tr. 177. ISBN 0395410576. 
  52. ^ http://books.google.com.vn/books?id=04IbhwRVZfYC&pg=PA182&lpg=PA182&dq=%22stauffenberg%22+%22rommel%22+%22a+great+leader%22&source=bl&ots=gQj0oI9VAO&sig=5XgBOcqf244_UXQzLY5vjcBLOsw&hl=vi&sa=X&ei=ikkUU-zMCYaFlAW-gIHADQ&ved=0CCoQ6AEwAA#v=onepage&q=%22stauffenberg%22%20%22rommel%22%20%22a%20great%20leader%22&f=false
  53. ^ http://books.google.com.vn/books?id=85nbrwEmgSYC&pg=PA390&lpg=PA390&dq=Rommel+%22the+blow%22+%22the+only+man%22&source=bl&ots=P7a3ZbzVn9&sig=aDarGuwf6UJDVxBE392Iv8qcjEs&hl=vi&sa=X&ei=bkQUU9tdhoiQBfipgPAK&ved=0CDQQ6AEwAg#v=onepage&q=Rommel%20%22the%20blow%22%20%22the%20only%20man%22&f=false
  54. ^ Irving, David John Cawdell (1977). The trail of the fox. Dutton. tr. 15. ISBN 052522200615 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  55. ^ David Fraser, Knight's Cross: A Life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 52
  56. ^ Ralf Georg Reuth, Rommel: the end of a legend, trang 36
  57. ^ David Fraser, Knight's cross: a life of Field Marshal Erwin Rommel, trang 99

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]