Napoléon Bonaparte
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Napoléon Bonaparte (tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte; phát âm tiếng Pháp: [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt] ; 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821; Hán-Việt: Nã Phá Luân) là một nhà quân sự và chính trị kiệt xuất của nước Pháp sau cuộc cách mạng Pháp. Ông là người lập ra triều đại Bonaparte. Ông trở thành Hoàng đế Pháp từ năm 1804 đến năm 1815 với tên hiệu là Napoléon I. Với những cải cách về pháp luật, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn đến nền chính trị trên toàn thế giới, nhưng ông đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh chống Pháp được dẫn đầu bởi hàng loạt liên minh, cuộc chiến tranh Napoléon, ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng cách mạng của mình. Nhờ kết quả của những cuộc chiến, và những thành công của ông trong những cuộc chiến, ông được coi là một trong những nhà quân sự lớn nhất, lỗi lạc nhất mọi thời đại.
Napoleon được sinh ra ở Corsica, trong một gia đình quý tộc của Ý, ông được đào tạo thành một sỹ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte nổi lên theo Đệ nhất Cộng hòa Pháp và dẫn dắt thành công nhiều chiến dịch chống lại liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài đầu tiên; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên bố ông sẽ trở thành Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 19, Đệ nhất Đế chế Pháp dưới sự dẫn dắt của Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột, cuộc chiến tranh Napoléon, liên quan đến quyền bá chủ châu Âu. Sau một loạt chiến thắng, Pháp bảo đảm vị trí thống lĩnh trong lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì ảnh hưởng của Pháp thông qua sự hình thành của một liên minh rộng lớn và cùng với các nước chư hầu của mình để loại trừ các quốc gia châu Âu khác. Các chiến dịch của Napoléon được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.[1]
Cuộc xâm lược Nga năm 1812 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong vận may của ông. Lực lượng Grand Armée của ông đã gặp thất bại, hư hại nặng và không bao giờ có thể khôi phục. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoleon phải thoái vị và bị lưu đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại cầm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoleon đã dành sáu năm cuối cùng của cuộc đời mình trong sự giám sát của người Anh trên đảo Saint Helena. Khám nghiệm tử thi kết luận ông đã chết vì ung thư dạ dày.
[sửa] Tiểu sử
Napoléon Bonaparte là đứa con thứ hai trong một gia đình có tám người con tại Casa Buonaparte ở Ajaccio, Corsica, vào ngày 15 Tháng Tám năm 1769, một năm sau khi hòn đảo này được cộng hòa Genoa chuyển giao cho Pháp. Ông được đặt tên là Napoleone di Buonaparte (mặc dù người anh của ngài, người đã qua đời từ lúc còn ấu thơ, cũng mang tên là Napoleone) và được gọi bằng tên này cho đến hai mươi tuổi, sau đó ông lấy tên là Napoléon Bonaparte cho có vẻ Pháp hơn.[2][chú thích 1]
Corsica Buonaparte có nguồn gốc từ giới quý tộc nhỏ ở Ý, những người đã đến Corsica từ Liguria từ thế kỷ 16. [3] Cha của ông là Nobile Carlo Buonaparte, một luật sư. Người có ảnh hưởng đế phần lớn thời thơ ấu của Napoléon là mẹ ông, Letizia Ramolino, là một người mẹ nghiêm khắc, có kỷ cương.[4]. Ông có một anh trai Joseph và sáu người em Lucien, Elisa, Louis, Pauline, Caroline và Jérôme. Có hai đứa trẻ khác, một trai một gái, những người được sinh ra trước khi Joseph qua đời.[5] Napoleon được rửa tội như một người Công Giáo ngay trước sinh nhật thứ hai của mình, vào ngày 21 tháng Bảy năm 1771 tại nhà thờ Ajaccio.[6]
Napoléon từ nhỏ đã thể hiện tính cách cứng rắn và có tinh thần dũng cảm cũng như mưu trí. Sự giàu có của gia đình nối lạo với thân phận của người cha đủ sức cho ông một cơ hội lớn hơn để phát huy tài năng của mình, tìm được chỗ tốt hơn Corsica.[7] Trong tháng một năm 1779, Napoleon đã được ghi danh tại một trường tôn giáo ở Autun, nước Pháp, để học tiếng Pháp, và tháng năm, ông được nhận vào một học viện quân sự tại Brienne-le-Château.[8]. Cậu đọc theo giọng Corsica và không thể đánh vần đúng cách.[9] Khi đó cậu bé Napoléon hay bị bạn bè trêu chọc vì cậu nói tiếng Pháp không được nhanh và chuẩn như những người bạn khác.[10][chú thích 2] Nhưng một viên giám thị quan sát thấy Napoleon là học sinh rất nổi trội, đặc biệt là với môn Toán học và Lịch sử... cậu bé này sẽ làm một thủy thủ xuất sắc.[12][chú thích 3] Lúc đầu ông muốn học về hải quân nhưng do ý muốn của mẹ, ông quyết định học ngành pháo binh, chính đây là cái nôi đầu tiên tạo ra một vị chỉ huy lục quân tài giỏi cho nước Pháp. Sau khi hoàn thành nghiên cứu của ông tại Brienne năm 1784, Napoleon được nhận vào École Militaire ở Paris; điều này đã kết thúc tham vọng hải quân của mình, đã khiến ông phải xem xét một ứng dụng cho Hải quân Hoàng gia Anh.[14] Thay vào đó, ông được đào tạo để trở thành một sĩ quan pháo binh và cái chết của cha cậu làm giảm thu nhập của mình, đã buộc phải để hoàn thành các quá trình học hai năm trong một năm.[15] Ông đã trở thành người Corsica đầu tiên tốt nghiệp từ Militaire Ecole[15] và được khảo sát bởi nhà khoa học nổi tiếng Pierre-Simon Laplace, người mà Napoleon sau đó đã bổ nhiệm vào Thượng viện.[16]
[sửa] Khởi đầu sự nghiệp
Ngày 14 tháng 7 năm 1789, Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ lật đổ chế độ quân chủ, họ đã cho phép ông Pasquale Paoli trở về đảo Corsica và vào tháng 9 năm đó, Napoléon cũng quay về nghỉ tại đảo này. Tại quê hương, Napoléon muốn tham gia vào phong trào của ông Paoli nhưng vị lãnh tụ của phong trào chính trị địa phương này đã không tin tưởng chàng thanh niên Napoléon vì người cha, ông Carlo, đã không trung thành với lý tưởng tranh đấu cho địa phương. Do bị gạt ra khỏi nhóm đấu tranh và bị thất vọng, Napoléon trở lại nước Pháp và vào tháng 4-1791, được bổ nhiệm làm Trung Úy tại Trung Đoàn Pháo Binh thứ 4, đóng tại Valencia. Chính tại nơi này, Napoléon đã tham gia vào Câu Lạc Bộ Jacobin, một hội chính trị cấp tiến, lúc đầu chủ trương một nước cộng hòa dân chủ. Napoléon đã trở nên chủ tịch của câu lạc bộ và trong các lần phát biểu, thường công kích các nhà quý tộc, các giám mục và các thầy tu.
Tháng 9 năm 1791, Napoléon xin nghỉ phép và trở về sống tại đảo Corsica trong 3 tháng, và trong thời gian này, ông đã phục vụ trong quân đội địa phương của đảo. Sự tham gia vào câu lạc bộ Jacobin và khuynh hướng chính trị cấp tiến của Napoléon đã gây nên sự bất hòa giữa Napoléon và ông Paoli, một người bảo hoàng. Sau khi cuộc Cách Mạng Pháp xảy ra và vua Louis XVI bị hành quyết vào tháng 1-1793, thì ông Paoli với chủ trương tách đảo Corsica ra khỏi nước Pháp, đã tuyên bố Napoléon là kẻ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Các người trong gia đình Buonaparte đành phải rời khỏi hòn đảo, chạy qua đất Pháp. Sau đó, Napoléon trở về phục vụ trong Quân đội Pháp và đóng tại thành phố Paris.
[sửa] Cuộc vây hãm Toulon
Năm 1792, Napoléon mang cấp bậc Đại úy rồi phục vụ tại Nice vào tháng 6, 1793. Vào thời gian này, Napoléon đã viết một bài báo, có tên là “Souper de Beaucaire” qua đó ông kêu gọi những người Cộng hòa phải đoàn kết chung quanh nhóm Jacobin, là những người càng ngày càng trở nên cấp tiến hơn. Tới cuối tháng 8, 1793, đạo quân của Hội Nghị Quốc Ước đã chiếm được thành phố Marseille nhưng đã bị chặn lại tại thành phố Toulon là căn cứ của Phe Bảo hoàng, những người này đang kêu gọi sự trợ giúp của quân đội Anh.[17] Trong một trận đánh tại Toulon, do vị chỉ huy Pháo Binh của đạo quân cách mạng bị thương và cũng do lời đề nghị của ủy viên chính trị Antoine Saliceti là một người đảo Corsica và là bạn với gia đình, Napoléon được đề nghị giữ chức chỉ huy trưởng Trung Đoàn Pháo Binh, được thăng cấp bậc Thiếu Tá vào tháng 9 và tham dự vào công cuộc vây hãm thành phố Toulon. Chính tại nơi này, Napoléon đã bộc lộ khả năng của một vị tướng tài và một nhà lãnh đạo uy dũng.[18]
Vào tháng 12, 1793, Napoléon ra lệnh đặt các khẩu đại bác ở trên cao, hướng về hải cảng Toulon và bắn vào các tàu chiến Anh, vì vậy hạm đội Anh phải rút lui và quân Cách Mạng Pháp đã chiến thắng tại Toulon. Do chiếm được thành phố này, Napoléon được phong chức Thiếu Tướng lúc mới 24 tuổi. Augustin de Robespierre, ủy viên chính trị của Quân Đội Cách Mạng Pháp, đã phải gửi cho người anh là Maximilien Robespierre khi đó là người đứng đầu chính quyền Pháp và là một trong các nhà lãnh đạo của thời kỳ khủng bố, một bức thư ca tụng “công lao ưu việt” của viên sĩ quan trẻ Napoléon Bonaparte, thuộc đảng Cộng Hòa. Napoléon đã thành công vì biết áp dụng khéo léo một kỹ thuật quân sự mới là Pháo binh vào chiến tranh.[19]
[sửa] Xâm lược Ai Cập
Sau khi đã chiến thắng được nước Áo và trở về Paris, Bonaparte mang nhiều tham vọng lớn nhưng ông thấy chưa có đủ ảnh hưởng tác động tới chính quyền trung ương. Vào thời bấy giờ, phần lớn các nước trên lục địa châu Âu đều phải quy phục nước Pháp, ngoại trừ nước Anh.[20]
Vào cuối năm 1797, Hội Đồng Chấp Chính muốn thực hiện một cuộc đổ bộ qua nước Anh nên đã chỉ định Napoléon chỉ huy công cuộc viễn chinh qua eo biển Manche. Sau một cuộc thanh tra ngắn hạn vào tháng 2 năm 1798, Napoléon tuyên bố rằng cuộc xâm chiếm nước Anh chỉ thực hiện được sau khi nước Pháp làm chủ được mặt biển và ông đã đề nghị nên đánh phá các nguồn tài nguyên của nước Anh bằng cách chiếm đóng xứ Ai Cập và như vậy, đe dọa con đường dẫn tới Ấn Độ.[21] Napoléon muốn bắt chước lối chinh phục của Alexandros Đại Đế bằng cách chiếm đoạt đế quốc phía đông gồm Ai Cập, Ấn Độ, các miền đất Trung Đông và Viễn Đông. Đề nghị của Bonaparte được vị Bộ Trưởng Ngoại Giao là Talleyrand ủng hộ và được các nhân vật lãnh đạo Hội Đồng Chấp Chính chấp thuận ngay, vì chính các vị này cũng đang muốn đẩy đi xa vị tướng trẻ nhiều tham vọng là Napoléon Bonaparte.[22]
Vào tháng 5 năm 1798, Bonaparte bắt đầu cuộc viễn chinh tại Ai Cập với 38,000 quân. Các chiến thắng bắt đầu: pháo đài Malta của các Hiệp sĩ Cứu tế bị thất thủ vào ngày 10-6-1798, rồi thành phố Alexandria của Ai Cập đầu hàng vào ngày 1 tháng 7.[23] Napoléon đã đánh bại các kẻ cai trị xứ Ai Cập có tên là nhóm Mamluk, trong trận đánh gần Kim Tự Tháp, ngoài Cairo.[24] Rồi đồng bằng sông Nil bị chinh phục rất nhanh chóng. Nhưng, vào ngày 1 tháng 8, 1798, hạm đội Pháp bỏ neo tại Vịnh Abu Qir đã bị hoàn toàn phá hủy bởi hạm đội Anh của Đô Đốc Horatio Nelson trong trận thủy chiến Sông Nil khiến cho đoàn quân Pháp bị mắc kẹt trong miền đất mà họ đã chinh phục được và bị cắt đứt các nguồn tăng cường và tiếp tế. Cũng vào thời gian này, Napoléon đã cố gắng đưa vào xứ Ai Cập các định chế chính trị, cách quản trị và tài năng kỹ thuật của tây phương. Quốc gia bảo hộ Ai Cập là Thổ Nhĩ Kỳ bèn liên minh với các nước Anh, nước Nga và tuyên chiến với nước Pháp vào tháng 9 năm đó. Để ngăn chặn cuộc tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ vào xứ Ai Cập và có lẽ cũng vì muốn trở về đất Pháp bằng con đường Anatolia, Napoléon đã đưa quân qua Syria vào tháng 2 năm 1799, tiến tới pháo đài Acre (ngày nay là Akko, thuộc nước Do Thái) và đoàn quân Pháp đã bị chặn đánh thảm bại tại nơi này. Napoléon đành phải rút về Ai Cập và khi tới Abu Qir, gần Vịnh Abu Qir, ông đã đánh thắng 10,000 quân Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 7 năm 1799.[25]
Trận sông Nil đã cho người châu Âu thấy rằng Napoléon Bonaparte không phải là vô địch và các nước Anh, Áo, Nga, Thổ đã họp thành một liên minh quân sự mới, chống lại nước Pháp.[26] Từ mùa xuân năm 1799, quân đội Pháp bị thua nhiều trận tại nước Ý và đã phải rút lui khỏi phần lớn bán đảo Ý Đại Lợi. Những thất bại quân sự này đã gây nên các xáo trộn trong nước Pháp. Ngày 30 tháng Prairial (18 tháng 6, 1799), một cuộc đảo chính đã loại ra ngoài Hội Đồng Chấp Chính các nhân vật ôn hòa và đưa vô Hội Đồng này các đảng viên Jacobin, là các người cực đoan.[27] Nhưng hoàn cảnh chính trị vẫn không ổn định. Một trong các nhân vật lãnh đạo Hội Đồng Chấp Chính là ông Emmanuel Sieyès đã tin chắc rằng chỉ có chế độ độc tài quân sự mới ngăn ngừa được việc phục hưng chế độ quân chủ. Ông Sieyès tuyên bố: “Tôi đang tìm kiếm một cây gươm”. Hội Đồng Chấp Chính đã ra lệnh cho Napoléon trở về đất Pháp.[28]
Tình hình chính trị tại nước Pháp vào lúc này rất thuận tiện cho Napoléon. Việc phục hồi nhóm đảng viên Jacobin khiến cho các kẻ ôn hòa lo ngại sẽ xẩy ra một thời kỳ khủng bố mới, họ trông đợi một chính quyền mạnh, ngăn chặn được khuynh hướng cấp tiến này. Cũng vào thời gian này, Hội Đồng Chấp Chính đã thiết lập nên 4 nước cộng hòa vệ tinh là các xứ Batavian (Hà Lan), Helvetian (Thụy Sĩ), Roma (Ý) và Parthenopean (Naples).[29] Các nhà lãnh đạo nước Áo, hay họ Habsburg, vì thế rất lo ngại ảnh hưởng của nước Pháp tại các miền đất Ý thuộc nước Áo trước kia, và Sa Hoàng Pavel I (trị vì 1796-1801) lo sợ Napoléon sẽ làm hư hại các quyền lợi của nước Nga tại vùng Địa Trung Hải.[30] Đế Quốc Pháp mới mẻ đã làm lệch đi sự thăng bằng chính trị của châu Âu nên các nước Anh, Áo và Nga đã lập nên liên minh quân sự thứ hai và trong năm 1799, quân đội Nga dưới quyền của Tướng Aleksandr Suvorov (1729-1800) đã nhiều lần đánh bại quân đội Pháp và Tướng Suvorov trở nên vị anh hùng của châu Âu.[31] Vào tháng 8 năm 1799, quân Pháp bị đẩy ra khỏi lãnh thổ Ý và phần lớn các nước cộng hòa Pháp bị sụp đổ. Chính vào lúc này, lãnh thổ Pháp đang đứng trước nguy cơ bị xâm lăng. Có nhiều âm mưu phản cách mạng. Chế độ Cộng Hòa đang cần cấp cứu. Tháng 8 năm 1799, Napoléon Bonaparte lên tàu, lẻn về Pháp, giao quyền chỉ huy đoàn quân Ai Cập cho Tướng Jean Kleber.[32]
[sửa] Con đường vinh quang
Năm 1795, sau một thời gian không được trọng dụng, vận may lại đến với Napoléon. Do quân bảo hoàng tiến hành bạo loạn tại Paris, tình hình trở nên hết sức nghiêm trọng, chính phủ quyết định bổ nhiệm Napoléon làm phụ tá cho Tử tước Barras, tư lệnh quân cảnh vệ Paris. Với pháo binh trong tay, Napoléon đã nhanh chóng dập tắt cuộc bạo loạn. Kể từ đó con đường công danh của ông đã rộng mở.
[sửa] Chiến dịch Bắc Ý
Năm 1796 các nước Anh, Nga, Áo liên kết với nhau tập trung tấn công nước Pháp. Chính phủ Pháp phái 4 đạo quân tiến đánh. Napoléon được bổ nhiệm làm tư lệnh đạo quân thứ 4 tiến đánh nước Ý để kiềm chế quân Áo. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã đánh tan tác quân Áo tại Ý và tiến quân vào bản thổ nước Áo tới sát kinh đô Wien làm Áo phải ký hiệp định đình chiến. Đoàn quân chiến thắng của Napoléon trở về Paris trong vinh quang rực rỡ.
-
Napoléon trong chiến dịch bắc Ý năm 1796
-
Thống chế Murat của Napoléon trong trận Abukir-Chiến dịch viễn chinh sang Ai Cập 1797
[sửa] Tình hình kinh tế nước Pháp từ năm 1800 đến năm 1805
Trong khi đó tại châu Âu tình hình lại chuyển biến theo chiều hướng xấu cho nước Pháp, quân Pháp bị đánh bại trên chiến trường, các vùng đất tại Ý đều bị mất. Napoléon quyết định trở về Pháp.Tại đây, được sự ủng hộ của dân chúng và quân đội, ngày 9 tháng 11 năm 1799, Napoléon làm cuộc chính biến, trở thành chấp chính quan cao nhất của nước Pháp, với danh vị Đệ nhất Tổng tài (Premier Consul). Đó là cuộc chính biến tháng Sương mù (tháng Brumaire).
Năm 1800, Napoléon thân chinh cầm quân vượt dãy Alps đánh vào Ý, quân Áo tại Ý bị Napoléon đánh tan tác, tại trận Marengo, quân đội Áo bị đánh bại hoàn toàn.
Sau những thất bại nặng nề, liên quân Anh, Áo, Nga phải ký Hòa ước Amiens, công nhận những vùng đất mà Napoléon chiếm được thuộc về nước Pháp. Anh còn phải trả lại cho Pháp những thuộc địa bị mất trong thời gian chiến tranh.
Napoléon đã nhanh chóng đánh bại những kẻ thù của nước Pháp. Tháng 1 năm 1804, cảnh sát Pháp phá vỡ một âm mưu của phe bảo hoàng ám sát ông. Ông quyết định tái lập chế độ quân chủ, với lý lẽ rằng phe Bourbon sẽ không thể trở về nếu sự kế vị của họ Bonapart được hiến định. Đại lễ đăng quang của ông được tổ chức tại Nhà thờ Đức Bà Paris ngày 2 tháng 12 năm 1804. Thay vì để Giáo hoàng Pius VII đặt vương miện lên đầu mình, Napoléon đã giật chiếc vương miện từ tay Giáo hoàng để tự đội lên đầu, ngầm ý không hoàn toàn chịu phục uy quyền của Tòa thánh[33]. Ông trở thành Hoàng đế Napoléon I, và phong bà Joséphine làm Hoàng hậu. Tiếp đó, ngày 26 tháng 5 năm 1805, tại nhà thờ thành phố Milano, Napoléon tự phong làm vua nước Ý và vua xứ Lombardy.
[sửa] Những cải cách lớn
Sau khi lên ngôi hoàng đế, Napoléon đặt ra ở mỗi quận của Pháp một quận trưởng và công việc của họ là thanh tra, giám sát và xử lí toàn bộ mọi việc trong quận đó. Các tổng thống Pháp là những người được bổ nhiệm một hay nhiều quận trưởng mới khác mỗi khi quận trưởng cũ đã hết nhiệm kì. Các thị trưởng thì do Đệ nhất Tổng tài bổ nhiệm. Ngoài ra Napoléon còn tung ra 1 lực lượng điệp viên đông đảo nhiệm vụ đội quân này là giám sát hành động tất cả mọi người dân và cả quan chức nhà nước. Đội quân này được che đậy bằng 1 cơ quan riêng biệt gọi là bộ công an trực thuộc tổng tài thứ nhất.[cần dẫn nguồn] Dựa theo các luật lệ La Mã thời Cổ đại, Napoléon đã biên soạn thành công bộ luật Napoléon gồm 2281 điều. Nhờ bộ luật đó ông đã biến Pháp trở thành một đế chế rộng lớn gần bằng châu Âu. Để muốn đế chế giàu có hơn Napoléon ra lệnh mỗi quận phải xây dựng một trường Đại học lớn và mang tên Napoléon. Ông cũng muốn trích một nửa số tiền trong kho để đào tạo các sinh viên sau này sẽ tận tâm phục vụ chế độ. Ngoài ra Napoléon còn kiểm soát cả báo chí, sách vở và các buổi biểu diễn cho sinh viên.
[sửa] Đệ nhất đế chế
Chủ nghĩa đế quốc của Napoléon đã thể hiện rõ ràng qua “Hệ Thống phong tỏa Lục địa”. Đây là chương trình muốn điều hành nền kinh tế của toàn thể châu Âu bằng các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự, và qua một chính sách làm sao xây dựng nền xuất cảng của nước Pháp và làm tê liệt nền kinh tế của nước Anh. Dưới ảnh hưởng của Pháp là các nước Đan Mạch, Na Uy, Phổ và đế quốc Áo. 42 triệu người dân đã nằm dưới quyền hành của Napoléon Bonaparte. Bên ngoài ảnh hưởng của Hoàng Đế Napoléon là các nước Anh, Nga, Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ. Để triệt tiêu nước Anh, Napoléon đã ký đạo luật Berlin năm 1806, cấm đoán mọi mậu dịch với các hải đảo Anh và hạ lệnh bắt giữ mọi tầu biển Anh cũng như tịch thu các tài sản, hàng hóa của người Anh. Nước Anh đã phản ứng lại bằng cách bắt buộc các tầu biển trung lập phải trả thuế tại các hải cảng Anh trước khi chở hàng qua nước Pháp.
[sửa] Thời kì chiến tranh
Napoléon biết xây dựng một lực lượng quân sự hùng hậu nên ông đã bắt đầu thực hiện những tham vọng chinh phục to lớn của mình. Từ năm 1804 đến năm 1813 đội quân Pháp tăng từ 400.000 người đến hơn 1.000.000 người. Những người vào quân đội phải trải qua 2 tháng luyện tập và học cách sử dụng vũ khí. Sau đó họ được phân chia về nhiệm vụ của quân đội tùy theo nhu cầu của họ. Nhờ vậy quân Pháp mới trở thành đội quân hùng mạnh nhất châu Âu thời đó.
[sửa] Trận Trafalgar
Năm 1805, Napoléon chuẩn bị quân đội để chiếm lại các cảng của Pháp đang nằm trong tay lực lượng thủy binh Anh. Tháng 10 năm 1805, từ cảng Cadix, Toulon và Ronhefort Napoléon ra lệnh cho các chiến hạm nhỏ tấn công thủy binh Anh ở biển Manche. Vào ngày 21 tháng 10 năm 1805, lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh tấn công liên quân Pháp - Tây Ban Nha trong trận thủy chiến tại Trafalgar. Trận chiến diễn ra thật quyết liệt, thủy binh Anh chiến đấu dũng mãnh, tiêu diệt được rất nhiều quân Pháp. Hải quân Hoàng gia Anh đại thắng, Hải quân của Napoléon bị thảm bại tơi bời. Trong khi nhân Anh vui mừng với chiến thắng lừng lẫy, thất bại thê thảm này đã phá tan tành cái mộng xâm lược nước Anh của Napoléon.[34] Sức mạnh thủy binh của Napoléon bị phá sạch, trong khi nước Anh vươn lên làm liệt cường thủy quân số một thế giới. [35]
[sửa] Trận Austerlitz
Trận Austerlizt diễn ra tại cánh đồng Austerlizt ở Moravia. Phía bắc chiến trường là hai ngọn đồi Santon và Zuran nằm trên trục Đông/Tây, nhìn ra hướng Olmutz/Brno. Phía Tây là làng Bosenitz, còn ở giữa hai gọn đồi là sông Bosenitz (sông này là phụ lưu của sông Goldbach), chảy xuống phía Nam qua các làng Kobelnitz, Sokolnitz, Telnitz ở giữa bản đồ. Ở giữa chiến trường là cao điểm Pratzen, một vị trí chiến lược quan trọng. Do địa thế trên cao, bên nào chiếm được vùng đất cao này sẽ dễ dang khong chế vùng xung quanh. Quân Pháp được bố trí theo trục bắc-nam, và đóng ở phía Tây (xem bản đồ).
Đội quân gián điệp đông đảo đã cho Napoléon biết rất rõ ý đồ liên quân: cắt đứt đường liên lạc của mình về Viên, tức là sẽ tấn công cánh phải quân Pháp vào khu vực Tây-Nam của bản đồ. Tuy nhiên ông để ở đây một lực lượng nhỏ, ra lệnh tử thủ và có vẻ như cố tình kéo dài nó để cho liên quân tấn công. Lí do là, vì nó được chỉ huy bởi vị nguyên soái Davout dày dạn, vì khu vực này được một hệ thống sông hồ bảo vệ, và vì ông đã tạo ra một đường liên lạc mới Brunn-Iglau ở phía Tây Bắc bản đồ. Chỗ này ông cũng chỉ để một đạo quân nhỏ để phòng thủ.
Trái lại, lực lượng chính của ông tập trung ở mặt trận trung tâm, đối diện với cao điểm Pratzen. Khi quân đồng minh tấn công vào cánh phải, họ sẽ bị phòng tuyến sông hồ chặn lại và sẽ hở sườn cho quân Pháp lợi dụng. Lúc đó quân Pháp sẽ đột phá lên cao điểm Pratzen và từ đó, đánh vào mặt sơ hở ở sau lưng và sườn liên quân.
Trước khi khai trận, Nga hoàng đã truất quyền chỉ huy của Kutuzov và tự nắm lấy quân đội. Tuy nhiên, trên danh nghĩa thì Kutuzov vẫn là tư lệnh, nghĩa là sẽ lãnh hết mọi trách nhiệm thay cho Hoàng đế nếu liên quân thất bại. Sơ dĩ có việc này là do Nga hoàng, như bất kỳ một vị Hoàng đế nào khác, đều nghi ngại cấp dưới tài giỏi hơn mình.[cần dẫn nguồn] Thêm vào đó, những tác động của các viên tướng người Đức trong bộ tham mưu liên quân Nga - Áo cũng ảnh hưởng đến việc này. Họ cố gắng để đánh người Pháp đến người Nga cuối cùng. Trong khi đó thì Kutuzov không muốn mở trận Austerlitz vì một lẽ đơn giản: Ông cho rằng người lính Nga chẳng có lý do gì để chết vì một mảnh đất của kẻ khác.[36]
Vào ngày 2 tháng 12, quân Nga tiến quân để đánh vào cánh phải của Napoléon, đúng như ông ta đã dự đoán. Lần này Kutuzov chỉ huy đạo quân thứ tư, đây là đạo quân duy nhất ông được điều khiển. Trong khi quân Nga lần lượt vượt qua cao điểm Pratzen, thì Kutuzov, với sự nhạy cảm của một thiên tài quân sự, đã nhận rõ tầm quan trọng của cao điểm Pratzen. Ông dừng quân ở đấy và "chờ các đạo quân đến đông đủ". Tuy nhiên, một lần nữa Nga hoàng Alekxandr I lại phá bĩnh. Ông đuổi Kutuzov ra khỏi Pratzen và cùng với với hành động đó, đã đưa cả liên quân đến chỗ chết.
Chỉ chờ có thế, Napoléon I xua quân tấn công vào cao điểm Pratzen. Mặc dù chiến đấu hết sức dũng cảm, nhưng quân Nga của Kutuzov nhanh chóng bị quân Pháp áp đảo. Bản thân ông bị trọng thương và suýt bị bắt sống, còn con rể Ferdinand Tidengauden hi sinh ngay khi cầm cờ xông tới. Trong khi đó, đợt tấn công vào cánh phải cùng với đợt tấn công của quân Áo vào cánh trái đều bị đẩy lui. Tới lúc ấy, trung quân của Napoléon từ Pratzen, dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Nicolas Soult, ồ ạt tấn công vào trung tâm của liên quân, nơi đã bị yếu đi khi di chuyển sang cánh. Thảm họa Austerlizt bắt đầu. Sau một trận chiến ác liệt, quân Pháp phá vỡ đội hình của quân Áo và Nga, dồn họ vào tuyến sông hồ của Davout. Pháo binh từ trên đỉnh cao Pratzen bắt phá dữ dội, khiến mặt hồ đóng băng nhanh chóng tan vỡ, nhiều binh sĩ rớt xuống nước chết đuối, làm thương vong liên quân thêm trầm trọng. Liên quân bắt đầu rút chạy ào ạt. Tướng Áo cũng bỏ quân mà chạy. Hai hoàng đế Franz II và Alekxandr I cũng may mắn thoát nạn.
Phía Pháp có 1305 chết, 6940 bị thương, 573 bị bắt, phía Liên quân Áo - Nga có 15000 chết và bị thương, 12000 bị bắt, bị mất 180 khẩu pháo. Đây là một trong những chiến thắng lớn nhất của Napoléon, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của liên minh chống Pháp.
[sửa] Chiến tranh với Liên minh thứ tư
Đại quân của Napoléon đã đánh thắng quân Phổ trong hai trận đánh liên tiếp ở Jena và Auerstaedt (1806). Vào tháng 11 năm 1806, các đơn vị quân Phổ lần lượt đầu hàng đại quân của Napoléon. Vào ngày 24 tháng 10 năm 1806, ông và các quan tướng thăm viếng thành Potsdam - kinh đô thứ hai của Vương quốc Phổ, và vào viếng mộ của vị vua - chiến binh lỗi lạc Friedrich II Đại Đế của nước Phổ năm xưa. Ông truyền lệnh cho các tướng sĩ: [37]
| “ | Ba quân hãy cùng hạ mũ mão xuống. Nếu Ngài còn sống thì hẳn Trẫm và ba quân sẽ không thể đến được nơi đây. | ” |
|
—Napoléon Bonaparte |
||
Vào ngày 25 tháng 10 năm 1806, binh đoàn của Davout tiến hành lễ khải hoàn tiến vào kinh thành Berlin, được Napoléon ban thưởng vì chiến công hiển hách tại Auerstaedt.[37] Vào ngày 8 tháng 2 năm 1807, Napoléon chạm trán ác liệt với liên quân Nga - Phổ trong trận đánh lớn tại Eylau. Mở đầu, quân Nga tiến công mãnh liệt gây tổn hại cho trung quân Pháp. Sau cùng, trận chiến kết thúc bất phân thắng bại với tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Vào ngày 10 tháng 6 năm 1807, quân Nga đánh tan tác một binh đoàn của Napoléon trong trận đánh ở Heilsberg, tạo điều kiện cho người Nga cảm thấy mình có thể lôi kéo Áo tham chiến trong liên minh chống Pháp một lần nữa. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1807, nhân ngày kỷ niệm đại thắng của Napoléon trong trận Marengo, trận đánh tại Friedland bùng nổ. Hoàng đế Napoléon đến bãi chiến trường lúc chiều và ông huy động tấn công vào 17 giờ. Quân Thiết Kỵ binh Pháp đã chọc thủng quân Nga, mang lại chiến thắng vẻ vang cho ông.[38] Ngày 7 tháng 7 năm 1807 hiệp ước hòa bình Tilsit đã được kí kết để người Phổ gỡ gạc cho thất bại của họ.
[sửa] Nước Pháp những năm 1809-1812
[sửa] Chiến tranh kinh tế với nước Anh
Sau hiệp ước hòa bình Tilsit (1807), Napoléon thỏa thuận với Nga hoàng và tổ chức lại kinh tế những nơi mà ông chiếm đóng. Nhưng do không thể đánh thắng quân Anh bằng quân đội nên Napoléon quyết định làm cho nước Anh suy yếu bằng cách ngăn không cho tàu thuyền Anh tìm được thị trường tiêu thụ hàng hóa ở châu Âu. Ý nghĩa của cuộc chiến tranh kinh tế này là bóp nghẹt nước Anh và không cho một chiếc tàu Anh nào được cập bến cho dù không phải tàu của các thương gia Anh quốc, vì thế các tàu bè mang cờ Anh đều bị phá hủy. Nhằm duy trì cuộc chiến tranh kinh tế, Napoléon thấy cần thiết phải kiểm soát các bờ biển châu Âu như Đức, Ý, Tây Ban Nha và Na Uy để chống buôn bán hàng lậu. Trước sự xâm lược của quân Pháp, dân chúng Tây Ban Nha và Áo đã nổi dậy nhưng tháng 7 năm 1810 quân Pháp đã đàn áp họ tàn bạo và đã dập tắt các cuộc khởi nghĩa đó.
[sửa] Chiến dịch nước Nga
|
|
Bài viết (hoặc đoạn) này hiện gây tranh cãi về tính trung lập. Đề nghị: Người gắn tiêu bản nêu lý do tại trang thảo luận. Nếu không có lý do tại trang thảo luận, tiêu bản có thể bị tháo bỏ. Xin đừng xóa bảng thông báo này cho đến khi kết thúc hoặc đạt được đồng thuận trong vấn đề này. |
Nhận thấy Nga vẫn còn giao thương với Anh, năm 1812 Napoléon đã huy động khoảng 65 vạn quân xâm lược Đế chế Nga. Để đấu tranh bảo vệ đất nước, người Nga đã gấp rút xây dựng được một đội quân đông đảo khoảng 70 vạn - 75 vạn chiến binh nhưng trang bị tương đối thiếu thốn, chỉ khoảng 45 vạn quân chính quy được trang bị súng, số còn lại là dân quân và kỵ binh Cozak. Tinh thần yêu nước của nhân dân Nga sục sôi, họ quyết tâm đấu tranh để trả thù cho những thất bại trước Napoléon tại Austerlitz và Friedland, để xé bỏ cái nền hòa bình nhục nhã theo Hiệp định Tilsit. Họ cũng cương quyết không chịu kiếp chư hầu cho Napoléon, không để cho sứ thần Pháp tác oai tác quái tại kinh thành Sankt-Peterbug.[39] Nguyên soái Mikhail Illarionovich Kutuzov - một danh tướng được lòng toàn quân và dân Nga - trở thành Tổng tư lệnh Quân đội Nga kháng chiến chống Napoléon.[40] Trong trận đánh kịch liệt tại Borodino, Quân đội Nga đã tiêu diệt được rất nhiều kẻ xâm lược, sau đó họ dần dần rút lui khỏi trận địa để bảo toàn lực lượng.[41] Cuộc đại chiến tại Borodino trở thành một đòn giáng thật nặng nề vào Napoléon cũng như chế độ độc tài của ông ta. Napoléon đã thất bại trong mục tiêu chính của ông ta là tiêu diệt lực lượng Quân đội Nga chỉ trong một trận đánh duy nhất.[42] Napoléon tiến chiếm thành phố Moskva, nhưng Quân đội Nga thường xuyên tập kích quân xâm lược. Napoléon dự định liên kết với một số nhóm nông dân chống đối nhưng không thành.
[sửa] Rút lui
Tháng 10 năm 1812, Napoléon buộc phải hạ lệnh rút quân khỏi Nga. Trên đường rút quân, quân Pháp bị quân Nga truy kích quyết liệt nên bị thiệt hại nặng nề. Khi ra khỏi lãnh thổ nuớc Nga, trong tay Napoléon chỉ còn 127.000 quân (nhưng do phải rải quân dọc đường để bảo đảm liên lạc nên con số thực tế chỉ khoảng 30.000).
[sửa] Nước Pháp những năm 1813-1814
Sau khi quân Pháp thất bại, trên toàn châu Âu các nước đã liên kết với nhau để chống lại Napoléon. Cao trào chống Pháp nổi lên khắp nơi, năm 1814, liên quân Anh, Nga, Áo, Phổ, Thụy Điển và quân Pháp đánh nhau dữ dội trong trận Liên quốc gia tại Leipzig quân đội chư hầu đã làm phản, quay mũi súng bắn lại quân Pháp. Quân Pháp bại trận thiệt hơn 30.000 quân. Quân Pháp tuy thất bại nhưng Napoléon thêm một lần nữa chứng tỏ tài năng quân sự, dùng 50.000 quân của mình đánh bại 80.000 trong 230.000 quân liên minh.
[sửa] Đế chế kết thúc
Các tướng lãnh châu Âu thấy rõ ràng không thắng được Napoléon về quân sự nên dùng sức mạnh chính trị đánh bại ông ta.Liên quân đã tấn công chiếm thủ đô Paris khi ông ta không cảnh giác. Đầu năm 1814, Napoléon buộc phải thoái vị và bị đày ra đảo Elba (một hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi Ý). Triều đình phong kiến Bourbon của vua Louis XVIII, em vua Louis XVI trở về nước Pháp, bắt đầu chiếm lại những đất đai đã bị mất trong cuộc cách mạng và là vua kế vị. Ngày 30 tháng 5 năm 1814, nước Pháp lấy lại đường biên giới. Tuy vậy nhân dân và binh lính Pháp luôn mong mỏi Napoléon trở về. Sau đó vua Louis XVIII mắc phải vô vàn khó khăn về chính trị và từ đó nước Pháp suy yếu dần và công nghiệp phát triển chậm hơn, trong khi đó nước Anh đã giàu lên gấp bội nhờ kinh tế phát triển.
[sửa] Vương triều 100 ngày
Một buổi tối tháng 3 năm 1815 Napoléon từ đảo Elba bí mật trở về Lyon.[43] Triều đình Bourbon phái nhiều quân đoàn đến đánh nhưng hết quân đoàn này đến quân đoàn khác hô to "Hoàng đế vạn tuế" rồi chạy theo Napoléon. Napoléon không tốn một viên đạn để trở lại ngôi vị hoàng đế Pháp. Tin tức Napoléon quay trở về khiến các nước châu Âu hốt hoảng, họ vội vàng liên minh với nhau kéo quân từ bốn phương tám hướng đổ về nước Pháp. Lần này liên quân do người Phổ và người Anh đứng đầu, tập trung đại quân tại vùng Bỉ.[43] Nhưng chính ở đây, Napoléon chỉ huy quân Pháp đánh bại nhiều cánh của liên quân.
[sửa] Trận Waterloo
Công tước Wellington đã chọn một thung lũng rộng phía Nam ngôi làng Waterloo để làm nơi quyết chiến, quân Anh đóng ở phía Bắc chiến trường đối diện với họ là quân Pháp do Napoléon chỉ huy. Vốn là một nhà quân sự tài năng, Wellington hiểu rằng, với đội quân thiếu kinh nghiệm chiến đẫu mà ông đang nắm trong tay, đối đầu trực diện với Napoléon là tự sát. Vì thế, Wellington đã chọn biện pháp phòng thủ và chiến trường Waterloo là một địa điểm rất phù hợp với ý đồ này. Chiến trường Waterloo nằm phía sau một gò đất cao giúp tránh được sự quan sát của quân thù, đồng thời quân Anh đã cải tạo lại 2 pháo đài là Hogoumont và La Haye Saint được bảo vệ bởi các đơn vị thiện xạ giàu kinh nghiệm, đây được coi là vị trí chiến lược, yểm trợ cho đội quân phòng thủ trước sức tấn công của quân Pháp. Trước đó, quân Pháp cũng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển quân do trời mưa suốt nhiều ngày, tuy nhiên, Napoléon không thể chậm trễ bởi như vậy sẽ tạo thêm thời gian cho quân Phổ hội quân với quân Anh. Như thế, bên tấn công đã gặp phải nhiều khó khăn ngay trước trận đánh.
[sửa] Diễn biến
Sáng sớm ngày 18 tháng 6, Napoléon ra lệnh cho quân Pháp nã pháo dữ dội vào quân Anh,đến 10h sáng cùng ngày quân Pháp bắt đầu tấn công, mục tiêu của họ lần này là pháo đài Hougomont, nếu chiếm được Hougomont, cánh trái của quân Anh sẽ bị rơi vào thế nguy kịch, đồng thời nhờ đó, Napoléon có thể quan sát toàn trận địa của quân Anh. Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược đó, cả hai vị chỉ huy đều quyết tâm chiếm lấy vị trí này. Quân Pháp tiến công mạnh mẽ vào Hougomont, trận chiến diễn ra rất ác liệt tuy nhiên, quân Anh vẫn giữ được Hougomont, Napoléon đã cử 14000 quân tấn công bao vây Hougomont, nhưng Wellington đã kịp cử 12000 quân tiếp viện đến bảo vệ pháo đài. Đến 11h cùng ngày, quân Pháp buộc phải rút lui.
Sau đó, Napoléon cho pháo binh nã đạn dồn dập vào chiến tuyến của quân Anh, 80 khẩu pháo bắn không ngừng vào quân phòng tuyến quân Anh nhưng điều Napoléon không hề biết là chính tiếng pháo của ông đã dẫn đường cho quân Phổ đang tiến đến hội quân với Wellington vốn cách đó chỉ 50 km. Đến 1h chiều, quân Pháp ngừng nã pháo, bộ binh Pháp tiến công. Quân Pháp theo đội hình hình cột tấn công vào đội hình phòng thủ của quân Anh (đội hình hình cột mỗi cột có 150 người theo chiều ngang và 24 người theo chiều sâu, trên chiến trường, đội hình này có thể gây hoảng sợ cho đối phương bởi sự đông đảo của họ, tuy nhiên, do vũ khí chính thời đó là súng hoả mai có gắn lưỡi lê nên đội hình này có điểm yếu là chỉ có 2 hàng đầu tiên có thể khai hoả được). Đối mặt với đội hình hình cột của Pháp là đội hình phòng thủ chiều ngang của quân Anh, đây đơn giản chỉ là đội hình xếp theo chiều ngang có từ 2-4 hàng, tuy nhiên đội hình này có ưu điểm là có thể huy động tất cả hoả lực cùng lúc. Chính nhờ điều này mà quân Anh đã chặn được đợt tấn công của quân Pháp, Wellington tung đội thiết kỵ hoàng gia (Royal Dragoons) vào trận đánh. Kết hợp với bộ binh, họ đã đánh bật quân Pháp trở lại điểm xuất phát để lại sau lưng hàng nghìn xác chết.
Napoléon thay đổi chiến thuật, đến 3h chiều ông cho 2000 quân tấn công vào pháo đài La Haye Saint, chiếm được La Haye Saint, Napoléon có thể làm chủ được vùng trung tâm chiến trường. Pháo đài La Haye Saint được bảo vệ bởi 250 quân Đức được trang bị loại súng rãnh xoáy hiện đại thời đó, quân thủ thành đã chiến đấu hết sức dũng cảm đối đầu với quân địch đông hon gấp 10 lần. Và cuối cùng đến 4h chiều, quân Pháp đành phải rút lui, hơn 400 lính Pháp đã chết khi tấn công pháo đài.
Hết sức tức giận, Napoléon ra lệnh cho pháo binh nã đạn dữ dội lên đầu quân Anh, cùng lúc đó, tướng Ney đã chỉ huy kị binh sẵn sàng lao vào trận chiến. 12000 quân thiết kị Pháp tiến thẳng vào trung tâm của quân Anh, đến lúc này, Wellington mới ra lệnh cho pháo binh khai hoả dữ dội vào kị binh Pháp, bộ binh Anh nhanh chóng thiết lập đội hình hình vuông chuyên dùng để chống lại kị binh. Bế tắc trong tấn công, kị binh Pháp rút lui rồi sau các đợt pháo kích họ lại tiếp túc xông lên, nhưng trước sức phòng ngự mạnh mẽ của bộ binh Anh và sự tấn công của thiết kị hoàng gia, cuối cùng, tướng Ney đành ra lệnh cho kị binh rút lui. Napoleon lại một lần nữa ra lệnh tấn công pháo đài La Haye Saint, 6h30 chiều quân Pháp phát động tấn công, 2000 quân Pháp ào ạt tiến công như vũ bão vào pháo đài La Haye Saint, trong lúc này quân Anh lại gặp vấn đề về đạn dược và họ nhanh chóng bị áp đảo, trong số 400 quân giữ thành chỉ còn 42 người sống sót, quân Pháp đã kiểm soát được La Haye Saint[44].
Rạng sáng ngày hôm sau, có một đội quân đang tiến gần đến chiến trường, và điều Napoleon lo sợ nhất đã đến, đó chính là đội quân Phổ do Bá tước von Blücher chỉ huy đến hội quân với Wellington. Sau đó, quân Phổ đã tấn công vào sườn quân Pháp, 30000 quân Phổ tấn công vào ngôi làng được 20000 quân Pháp bảo vệ. Napoléon đã quyết định đánh ván bài cuối cùng, ông ra lệnh cho 4500 quân Cận vệ tinh nhuệ của mình tiến thẳng đến phòng tuyến quân Anh.
Quân Cận vệ là đội quân thiện chiến nhất của Napoléon, và ông tin tưởng rằng đây sẽ là đội quân có đủ khả năng chọc thủng hàng phòng ngự của quân Anh. Lúc này Wellington đã ra lệnh cho các đơn vị phòng thủ nằm xuống sau gò đất. Ông cho pháo binh bắn dữ dội vào quân Cận vệ Pháp, tuy nhiên, đội quân Cận vệ vẫn hùng dũng tiến tới. Tuyến phòng thủ đầu tiên của quân Anh nhanh chóng bị đè bẹp, lúc này Napoléon đã bắt đầu nghĩ đến một chiến thắng, tuy nhiên, chính trong lúc này, kết cục của cuộc chiến đã được quyết định. Khi quân Cận vệ tiến sát đến tuyến phòng thủ thứ hai, Wellington ra lệnh cho các đơn vị đứng lên, quân Pháp hoàn toàn bất ngờ, hơn 1400 khẩu súng của quân Anh đồng loạt nã đạn. 20% quân Pháp đã gục ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên, và Wellington đã tung ra đòn quyết định, ông ra lệnh tổng tấn công. Các đơn vị Anh ào ạt tiến công vào đội Cận vệ Pháp, quân Pháp đại bại buộc phải rút lui và thiết lập tuyến phòng thủ.
Đến cuối buổi chiều, quân Anh và Phổ đồng loạt tấn công, đến lúc này cả 3 cánh quân: trái, phải và trung tâm của Pháp đều đã tan vỡ. Liên quân nhanh chóng tiến thẳng đến Paris, tướng Louis Nicolas Davout, Bộ trưởng Chiến tranh của Napoléon đã bị quân của Blücher đánh bại tại Issy vào ngày 3 tháng 6 năm 1815, đến đây, số phận của Napoléon đã được định đoạt. Ngày 24 tháng 6 năm 1815, Napoléon thoái vị kết thúc chính quyền 100 ngày của ông. Vua Louis XVIII quay lại ngai vàng nước Pháp. Napoleon đã bị đày đến đảo Saint Helena ở Đại Tây Dương nơi ông sống những ngày cuối cùng của đời mình ở đó. Năm 1821, ông mất tại đảo Saint Helena. Về phần các tướng lĩnh Pháp, một số ít quay trở lại phục vụ cho LouisVIII còn lại hầu hết đều bị hành quyết vì tội phản quốc, trong số đó có tướng Ney (có tài liệu cho rằng tướng Ney đã trốn thoát sang Mỹ và cho đến ngày cuối đời, ông mới thú nhận thân phận thực sự của mình). Với đại thắng tại Waterloo, nước Phổ đã vinh viễn thoát khỏi cái ách đô hộ của Napoléon.[45] Chỉ huy quân Phổ tướng von Blücher sống những ngày cuối cùng trong sự hân hoan khi đã đánh bại kẻ tử thù của mình, năm 1822 ông mất. Còn vị tướng thắng trận Wellington sau đó đã trở thành Thủ tướng Anh.
Vậy là chỉ trong 2 ngày chiến tranh ác liệt, số phận của cả Châu Âu đã được quyết định. Thất bại của Napoléon đã mang lại một thế kỷ hoà bình cho Châu Âu, các cường quốc thắng trận đua nhau xâu xé các nước nhỏ, đồng minh của Napoleon và gây ra mầm hoạ cho 2 cuộc Thế chiến.
[sửa] Cái chết của Napoléon
Một lần nữa ông bị buộc thoái vị và đày ra đảo Saint-Helena trên Đại Tây Dương. Ông vẫn tiếp tục bàn luận về quân sự và xem lực lượng Quân đội Phổ là "đội quân tinh nhuệ nhất của châu Âu" khi kể về các cuộc chinh phạt của chính mình. Quốc vương Friedrich II Đại Đế là vị danh tướng duy nhất ở thế kỷ trước mà Napoléon thán phục.[46] Tại Saint-Helena, Napoléon đã sống đến cuối đời (ông đã bị đầu độc bởi người thân cận của ông bằng thuỷ ngân[cần dẫn nguồn] mà thời bấy giờ người ta dùng để giết chết những con chuột).Vị hoàng đế Pháp một thời uy chấn châu Âu mất ngày 5 tháng 5 năm 1821, hưởng thọ 52 tuổi. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông đã nói:'Nước Pháp...Quân đội...Tiến lên.
Đến năm 1840 chính phủ Pháp đưa di hài ông trở về Paris. Napoléon an nghỉ ở Viện Phế binh (Les Invalides). Một tài liệu khác gần đây nói rằng ông bị chết do ung thư dạ dày, chứ không phải là bị đầu độc[cần dẫn nguồn]
[sửa] Chiều cao của Napoléon
Không như mọi người vẫn nghĩ, Napoléon không thấp. Sau cái chết của ông vào năm 1821, họ đã đo được chiều cao của ông là 5 feet 2 inch theo đơn vị foot của Pháp, hay 5 feet 6,5 inch theo foot Anh (Imperial foot), có nghĩa là bằng 1,686 mét, và như vậy, chiều cao của ông còn hơn chiều cao trung bình của người Pháp ở thế kỷ 19. Có việc hiểu lầm rằng Napoléon thấp là do có người lại dùng đơn vị đo trên theo hệ thống đo của Anh, trong khi 1 inch của Pháp bằng 2,71 cm còn 1 inch của Anh thì bằng 2,54 cm. Thêm một lý do cho sự hiểu lầm này là Napoléon có biệt hiệu là là Le petit caporal, nhiều người sẽ nghĩ petit có nghĩa là "nhỏ", hoặc "lùn". Ông cũng thường xuyên bị che khuất bởi các lính bảo vệ xung quanh, những người mà thường cao từ 6 feet trở lên. (Thực ra là do sau khi tốt nghiệp trường quân sự ông có quân hàm không cao nên bị gọi là chàng lùn)[47]
[sửa] Danh ngôn
- Hỡi các binh sĩ! Từ trên đỉnh kim tự tháp kia, bốn mươi thế kỷ đang nhìn các ngươi đó! (phát ngôn trong chiến dịch Ai Cập)
- Trong buổi lễ xác nhận vào trường quân sự Paris, giám mục hỏi: "Sao tên thánh của con ở Pháp không ai biết đến?". Napoléon trả lời: "Thưa đức cha, các vị thánh trên thiên đường nhiều hơn số ngày trong năm. Tên của các vị không thể có hết trong tấm lịch chỉ gồm 365 vị của giáo hội".
Các câu nói nổi tiếng khác của ông:
- Quần chúng chỉ là những con số không dài vô tận, giá trị chỉ là ở con số đầu!
- Tôi có thể thất bại một trận đánh, nhưng tôi sẽ chiến thắng cả cuộc chiến tranh!
- Từ chỗ tuyệt vời đến chỗ lố bịch chỉ có một bước.
- Trí thông minh của con người được tính từ trán tới trời.
- Chiều dài chân lý tưởng bằng khoảng cách từ hông đến gót chân.
- Không có cà phê, chính trị mất vị chỉ còn có mùi.[48]
Phương châm hành động của ông:
- Không có gì là không thể[49]
- Không nếu không nhưng phải thành công[cần dẫn nguồn]
- Khi tôi có một mục đích to lớn phải làm được, tôi sẽ đạp đổ mọi chướng ngại trên đường
[sửa] Phả hệ
| Tổ phụ của Napoléon Bonaparte | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[sửa] Chú thích
- ^ Tên của ông cũng được đánh vần làNabulione, Nabulio, Napolionne, and Napulione.[2]
- ^ At Brienne, Napoleon first met the champagne-maker Jean-Rémy Moët. They became friends, and Napoleon later frequently stayed at Moët's estate. Victorious French armies were known for their indulgence in sabrage: opening a champagne bottle with a sabre.[11]
- ^ Aside from his name, there does not appear to be a connection between him and Napoleon's theorem.[13]
[sửa] Tham khảo
[sửa] Trích dẫn
- ^ Schom, Alan (1998). Napoleon Bonaparte (ấn bản 1. HarperPerennial ed.). New York: HarperPerennial. ISBN 0-06-092-958-8.
- ^ a b Dwyer 2008, p.xv
- ^ McLynn 1998, p.2
- ^ Cronin 1994, p.20–21
- ^ Harvey, R. The War of Wars, Robinson, 2006. p. 58-61.
- ^ “Cathedral—Ajaccio”. La Fondation Napoléon. Truy cập 31 tháng 5 năm 2008.
- ^ Cronin 1994, p.27
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênrxvi - ^ McLynn 1998, p.18
- ^ Dwyer 2008, p.29
- ^ Kladstrup 2005, p.61–8
- ^ McLynn 1998, p.21
- ^ Wells 1992, p.74
- ^ McLynn 1998, p.23
- ^ a b Dwyer 2008, p.42
- ^ McLynn 1998, p.26
- ^ Dwyer 2008, trang.132
- ^ McLynn 1998, trang.76
- ^ Dwyer 2008, trang.145-9
- ^ Dwyer 2008, trang.157
- ^ Alder 2002
- ^ McLynn 1998, trang.92
- ^ McLynn 1998, trang.175
- ^ McLynn 1998, p.93
- ^ Johnson 2002, trang.27
- ^ McLynn 1998, trang.76 và 84
- ^ McLynn 1998, trang.189
- ^ Dwyer 2008, trang.411-24
- ^ McLynn 1998, trang.189
- ^ Roberts 2001, trang.xx
- ^ McLynn 1998, trang.193
- ^ Dwyer 2008, trang.442
- ^ Ê. Tác-lê, Na-pô-lê-ông Bô-na-pác, Hà Nội, Nxb Quân đội nhân dân
- ^ Elaine Landau, Napoleon Bonaparte, trang 82
- ^ Martin Collier, Bill Marriott, Colonisation and conflict 1750-1990
- ^ Lev Tolstoi. Chiến tranh và hòa bình. Tập I. Dịch giả chính: Cao Xuân Hạo. NXB Văn học. Hà Nội. 1961. trang 289.
- ^ a b Todd Fisher, Gregory Fremont-Barnes, Bernard Cornwell, The Napoleonic Wars: The Rise and Fall of an Empire, trang 72
- ^ Todd Fisher, Gregory Fremont-Barnes, Bernard Cornwell, The Napoleonic Wars: The Rise and Fall of an Empire, các trang 81-87.
- ^ Alexander Mikaberidze, The battle of Borodino: Napoleon against Kutuzov, trang 1
- ^ Alexander Mikaberidze, The Russian Officer Corps of the Revolutionary and Napoleonic Wars: 1792-1815, các trang 215-216.
- ^ Alexander Mikaberidze, The battle of Borodino: Napoleon against Kutuzov, trang 204
- ^ Christopher Duffy, Borodino and the War of 1812, trang 11
- ^ a b David Fraser, The Grenadier Guards, trang 11
- ^ [1]
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênGilesDonogh12 - ^ Owen Connelly, Blundering to glory: Napoleon's military campaigns, trang 95
- ^ Einstein không học dốt, Napoléon chẳng lùn
- ^ Theo cuốn: The world encyclopedia of coffee, Tác giả: Marry Banks, Christine Mc Faaden.
- ^ Danh nhân thế giới - Na-po-lê-ông NXB Kim Đồng
[sửa] Tài liệu tham khảo
- Abbott, John (2005). Life of Napoleon Bonaparte. Kessinger Publishing. ISBN 1417970634.
- Alder, Ken (2002). The Measure of All Things—The Seven-Year Odyssey and Hidden Error That Transformed the World. Free Press. ISBN 074321675X.
- Alter, Peter (2006). T. C. W. Blanning and Hagen Schulze. ed. Unity and Diversity in European Culture c. 1800. Oxford University Press. ISBN 0197263828.
- Amini, Iradj (2000). Napoleon and Persia. Taylor & Francis. ISBN 0934211582. http://books.google.com/books?id=n5IOAAAAQAAJ&pg=PA12.
- Archer, Christon I.; John R. Ferris, Holger H. Herwig (2002). World History of Warfare. University of Nebraska Press. ISBN 0803244231.
- Astarita, Tommaso (2005). Between Salt Water And Holy Water: A History Of Southern Italy. W. W. Norton & Company. ISBN 0393058646.
- Balcombe Abell, Lucia Elizabeth (1845). Recollections of the Emperor Napoleon. J. Murray. OCLC 9123757.
- Bell, David (2007). The First Total War. Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 0618349650. http://books.google.com/books?id=Pw5jup_LyHAC&lpg=PA212&dq=%22total%20war%22%20napoleon&pg=PA13#v=onepage&q&f=false.
- Bertman, Sandra (2002). “Execution of the Defenders of Madrid, 3 May 1808”. New York University. Truy cập 18 tháng 11 năm 2008.
- Blaufarb, Rafe (2007). Napoleon: Symbol for an Age, A Brief History with Documents. Bedford. ISBN 0312431104.
- Bordes, Philippe (2007). Jacques-Louis David. Yale University Press. ISBN 0300123469.
- Chandler, David (1973). The Campaigns of Napoleon, Volume 1. 9780025236608. ISBN 0025236601.
- Chandler, David (1995). The Campaigns of Napoleon. Simon & Schuster. ISBN 0025236601.
- Chandler, David (2002). Napoleon. Leo Cooper. ISBN 0850527503.
- Chesney, Charles (2006). Waterloo Lectures:A Study Of The Campaign Of 1815. Kessinger Publishing. ISBN 1428649883.
- Connelly, Owen (2006). Blundering to Glory: Napoleon's Military Campaigns. Rowman & Littlefield. ISBN 0742553183.
- Cordingly, David (2004). The Billy Ruffian: The Bellerophon and the Downfall of Napoleon. Bloomsbury. ISBN 158234468X.
- Cronin, Vincent (1994). Napoleon. HarperCollins. ISBN 0006375219.
- Cullen, William (2008). Is Arsenic an Aphrodisiac?. Royal Society of Chemistry. ISBN 0854043632.
- Driskel, Paul (1993). As Befits a Legend. Kent State University Press. ISBN 0873384849.
- Dunan, Marcel (1963). “Napoleon's height” (bằng French). La Fondation Napoléon. Truy cập 11 tháng 1 năm 2009.
- Dwyer, Philip (2008). Napoleon:The Path to Power 1769–1799. Bloomsbury. ISBN 9780747566779.
- Edwards, Catharine (1999). Roman Presences. Cambridge University Press. ISBN 052159197X.
- Flynn, George Q. (2001). Conscription and democracy: The Draft in France, Great Britain, and the United States. Greenwood Publishing Group. ISBN 031331912X.
- Fremont-Barnes, Gregory; Todd Fisher (2004). The Napoleonic Wars: The Rise and Fall of an Empire. Osprey. ISBN 1841768316.
- Fulghum, Neil (2007). “Death Mask of Napoleon”. University of North Carolina. Truy cập 4 tháng 8 năm 2008.
- Gates, David (2001). The Spanish Ulcer: A History of the Peninsular War. Da Capo Press. ISBN 0306810832.
- Gates, David (2003). The Napoleonic Wars, 1803–1815. Pimlico. ISBN 0712607196.
- Geyl, Pieter (1982) [1947]. Napoleon For and Against. Penguin Books. ISBN 0452000572.
- Goetz, Robert (2005). 1805: Austerlitz: Napoleon and the Destruction of the Third Coalition. Greenhill Books. ISBN 1853676446.
- Hall, Stephen (2006). Size Matters. Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 0618470409. http://books.google.com/books?id=FUaIGHxCIEwC&pg=PA181&dq=napoleon+height#PPA181,M1.
- Hanson, Victor Davis (2003). “The Claremont Institute: The Little Tyrant, A review of Napoleon: A Penguin Life”. The Claremont Institute. Truy cập 30 tháng 5 năm 2008.
- Harvey, Robert (2006). The War of Wars. Robinson. ISBN 9781845296353.
- Hindmarsh, J. Thomas; John Savory (2008). “The Death of Napoleon, Cancer or Arsenic?”. Clinical Chemistry (American Association for Clinical Chemistry) 54: 2092. doi:. http://www.clinchem.org/cgi/reprint/54/12/2092. Truy cập 10 October 2010.
- Jackson, John (2004). Race, Racism, and Science. ABC-CLIO. ISBN 1851094482.
- Johnson, P. (2002). Napoleon: A life. Penguin Books. ISBN 0670030783.
- Karsh, Inari (2001). Empires of the Sand: The Struggle for Mastery in the Middle East, 1789–1923. Harvard University Press. ISBN 0674005414. http://books.google.com/books?id=UBilaKRKkC&pg=PA11.
- Kladstrup, Don; Petie Kladstrup (2005). Champagne: How the World's Most Glamorous Wine Triumphed Over War and Hard Times. William Morrow. ISBN 0060737921.
- Lowndes, Marie Adelaide Belloc (1943). Where Love And Friendship Dwelt. Macmillan. OCLC 67554055.
- Macaulay, Neill (1986). Dom Pedro: The Struggle for Liberty in Brazil and Portugal, 1798–1834. Duke University Press. ISBN 0822306816.
- Markham, Felix (1988). Napoleon. Mass Market Paperback. ISBN 0451627989.
- McLynn, Frank (1998). Napoleon. Pimlico. ISBN 0712662472.
- O'Connor, J; E F Robertson (2003). “The history of measurement”. St Andrew's University. Truy cập 18 tháng 7 năm 2008.
- Outhwaite, William (2003). The Blackwell Dictionary of Modern Social Thought. Blackwell. ISBN 0631221646.
- Poulos, Anthi (2000). “1954 Hague Convention for the Protection of Cultural Property in the Event of Armed Conflict”. International Journal of Legal Information (HeinOnline). http://heinonline.org/HOL/LandingPage?collection=journals&handle=hein.journals/ijli28&div=12&id=&page=.
- Ribbe, Claude (2007). Napoleon's Crimes: A Blueprint for Hitler. Oneworld Publications. ISBN 1851685332.
- Roberts, Andrew (2001). Napoleon and Wellington. Weidenfeld and Nicholson. ISBN 0297646079.
- Roberts, Chris (2004). Heavy Words Lightly Thrown. Granta. ISBN 1862077657. http://books.google.com/?id=MdMZqhMzfpYC&pg=PR9&dq=bogeyman+napoleon+nursery+%22bonaparte+will+pass%22#PPA93,M1.
- Scheck, Raffael (2008). Germany, 1871–1945: A Concise History. Berg. ISBN 184520817X.
- Schom, Alan (1997). Napoleon Bonaparte. HarperCollins. ISBN 9780060172145.
- Schwarzfuchs, Simon (1979). Napoleon, the Jews and the Sanhedrin. Routledge. ISBN 0197100236.
- Thomson, Kathleen (1969). “Balcombe, Alexander Beatson (1811–77)”. Australian Dictionary of Biography Online. Truy cập 27 tháng 5 năm 2008.
- Wanniski, Jude (1998). The Way the World Works. Regnery Gateway. ISBN 0895263440.
- Watson, William (2003). Tricolor and crescent. Greenwood Publishing Group. ISBN 0275974707. http://books.google.com/books?id=o4vrUbMK5eEC&pg=PA13. Truy cập 12 June 2009.
- Wells, David (1992). The Penguin Dictionary of Curious and Interesting Geometry. Penguin Books. ISBN 0140118136.
- Wilkins, William (1972) [1944]. Napoleon's Submarine. New English Library. ISBN 0450010287.
- Wilson, J (2 August 1975). “Dr. Archibald Arnott: Surgeon to the 20th Foot and Physician to Napoleon”. British Medical Journal (vol.3). PMID 1097047.
- Wood, Philip (2007). The Law and Practice of International Finance Series. Sweet & Maxwell. ISBN 1847032109.
- Woodward, Chris (tháng July năm 2005). “Napoleon's Last Journey”. History Today. Bản chính lưu trữ 25 tháng 4 năm 2008. Truy cập 12 tháng 7 năm 2008.
[sửa] Liên kết ngoài
| Tìm hiểu thêm về Napoleon Bonaparte ở các dự án khác của Wikipedia: | |
| Định nghĩa ở Wiktionary |
|
| Nội dung đa phương tiện ở Commons |
|
| Tư liệu học tập ở Wikiversity |
|
| Tin tức ở Wikinews |
|
| Câu nói nổi tiếng ở Wikiquote |
|
| Văn bản ở Wikisource |
|
| Sách ở Wikibooks |
|
- The Napoleonic Guide
- Napoleon Series
- International Napoleonic Society
- Napoleon 101, podcast by J. David Markham
- Napoleon Bonaparte and Chess Edward Winter (chess historian)
- Biography by the US Public Broadcasting Service
- Biography on the Napoleon Bonaparte Wikia
- Works by or about Napoléon Bonaparte in libraries (WorldCat catalog)
- Memoirs of Napoleon, tiếng Anh, miễn phí tại Dự án Gutenberg
- John Holland RoseThe Life of Napoleon I, tiếng Anh, miễn phí tại Dự án Gutenberg
- John Gibson LockhartThe History of Napoleon Buonaparte, tiếng Anh, miễn phí tại Dự án Gutenberg
- William Milligan SloaneThe Life of Napoleon I., tiếng Anh, miễn phí tại Dự án Gutenberg Vol. 1/4
- William Milligan SloaneThe Life of Napoleon I., tiếng Anh, miễn phí tại Dự án Gutenberg Vol. 3/4
|
Hoàng đế Napoleon I của Pháp
|
||
| Chức vụ | ||
|---|---|---|
| Tiền vị: Hội đồng Đốc chính Phápandva |
Tổng tài lâm thời Cộng hòa Pháp 11 tháng 11 – 12 tháng 12 1799 Cùng với: Roger Ducos và Emmanuel-Joseph Sieyès |
Trở thành Tổng tài |
| Chức vụ mới |
Đệ nhất Tổng tài của Pháp 12 tháng 12 1799 – 18 tháng 5 1804 Cùng với: Jean Jacques Régis de Cambacérès (Đệ nhị Tổng tài) Charles-François Lebrun (Đệ tam Tổng tài) |
Trở thành Hoàng đế |
| Hiệu | ||
| Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Louis XVI của Phápnhư là Vua Pháp |
Hoàng đế Pháp 18 tháng 5 1804 – 11 tháng 4 1814 |
Kế vị Louis XVIII của Pháp như là Vua Pháp và Navarre |
| Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Karl V của đế quốc La Mã Thần thánhnhư là vị vua cuối cùng năm 1530 |
Vua Ý 17 tháng 3 1805 – 11 tháng 4 1814 |
Trống ngôi
Danh hiệu được kế thừa bởi
Victor Emmanuel II của Savoy |
| Tiền vị: Louis XVIII của Pháp như là Vua Pháp và Navarre |
Hoàng đế Pháp 20 tháng 3 – 22 tháng 6 1815 |
Kế vị Louis XVIII của Pháp như là Vua Pháp và Navarre (Napoleon II theo thánh chỉ) |
| Chức vụ mới Liên bang được tạo ra
|
Người bảo vệ Liên bang sông Rhine 12 tháng 7 1806 – 19 tháng 10 1813 |
Người bảo vệ Liên bang sông Rhine |
| Tước hiệu thừa kế trên danh nghĩa | ||
| Chức vụ mới | — DANH NGHĨA — Hoàng đế Pháp 11 tháng 4 1814 – 20 tháng 3 1815 |
Trống ngôi
Danh hiệu được kế thừa bởi
Napoleon II |