Lord Byron

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lord Byron
Sinh 2 tháng năm 1788
London, Anh Cờ của Anh
Mất 19 tháng 4 năm 1824
Mesolongi, Hy Lạp Cờ của Hy Lạp
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Anh

Lord George Gordon Noel Byron (22 tháng 1 năm 1788 – 19 tháng 4 năm 1824) là nhà thơ lãng mạn Anh, một trong những nhà thơ lớn của thế giới thế kỷ 19.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ada Lovelace, con gái của Byron là một nhà khoa học nổi tiếng thế giới

Byron sinh ở London, trong một gia đình quí tộc đã sa sút. Học ở Harrow SchoolĐại học Cambridge. Năm 1807 in tập Hours of Idleness (Những giờ giải trí), năm 1809 in trường ca English Bards and Scotch Reviewers (Những nhà thơ Anh và những nhà phê bình Scotland) phê phán những nhà lãng mạn quá khích. Từ năm 1809 là thành viên nghị viện Anh, sau đó bắt đầu 2 năm đi chu du sang các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban NhaHy Lạp. Năm 1812 in 2 chương đầu của Childe Harold's Pilgrimage (Chuyến hành hương của Childe Harold) kể lại chuyến đi Nam ÂuCận Đông. Nhân vật của trường ca là chàng trai trẻ thất vọng trước cuộc sống thiếu lý tưởng và tự do. Năm 1812, phát biểu trước nghị viện, Byron tố cáo tầng lớp thống trị ở Anh và đòi hủy bỏ luật tử hình những người công nhân phá máy.

Trong những tác phẩm The Giaour (1813), The Bride of Abydos (1813), The Corsair (1814), Lara (1814), The Siege of Corinth (1816) Byron kêu gọi đấu tranh giành tự do. Năm 1816 ông đi sang Thụy Sĩ, gặp Percy Bysshe Shelley, hai người trở thành bạn của nhau. Những năm 1817-1820 Byron sống ở Venezia, cảm thông với nỗi khổ của người Ý trước ách cai trị của người Áo. Thời kỳ này ông viết một số trường ca và 2 chương tiếp theo của Childe Harold's Pilgrimage. Những năm 1818-1819 ông viết trường ca Don Juan gồm 16 chương và chương 17 viết dở. Năm 1823 ông sang Hy Lạp để tham gia đấu tranh giải phóng Hy Lạp khỏi ách cai trị của Thổ Nhĩ Kỳ nhưng công việc đang dở dang thì ông bị sốt và mất ngày 19 tháng 4 năm 1824Mesolongi.

Lòng say mê mãnh liệt, tính trữ tình sâu sắc, sự bạo dạn về ý tưởng và vẻ sống động của những hình tượng khiến Byron trở thành một trong những nhà thơ lớn và nổi tiếng nhất ở châu Âu thế kỷ 19. Tác phẩm của Byron mở ra những khả năng mới của chủ nghĩa lãng mạn như một phương pháp nghệ thuật. Byron đưa vào thơ ca những nhân vật mới, làm giàu hình thức và thể loại thơ ca. Ông có sự ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca thế giới thế kỷ 19, sinh ra một trường phái thơ ca ở nhiều quốc gia khác nhau với tên gọi chủ nghĩa Byron.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Lord Byron
Lord Byron
Anne Isabella Milbanke
Augusta Leigh
  • Hours of Idleness (1806)
  • English Bards and Scotch Reviewers (1809)
  • Childe Harold's Pilgrimage (1812 – 1818)
  • The Giaour (1813)
  • The Bride of Abydos (1813)
  • The Corsair (1814)
  • Lara (1814)
  • Hebrew Melodies (1815)
  • The Siege of Corinth (poem) (1816)
  • Parisina (1816)
  • The Prisoner Of Chillon (1816)
  • The Dream (1816)
  • Prometheus (1816)
  • Darkness (1816)
  • Manfred (1817)
  • The Lament of Tasso (1817)
  • Beppo (1818)
  • Mazeppa (1819)
  • The Prophecy of Dante (1819)
  • Marino Faliero (1820)
  • Sardanapalus (1821)
  • The Two Foscari (1821)
  • Cain (1821)
  • The Vision of Judgement (1821)
  • Heaven and Earth (1821)
  • Werner (1822)
  • The Deformed Transformed (1822)
  • The Age of Bronze (1823)
  • The Island (1823)
  • Don Juan (1819 – 1824)

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Fare Thee Well
 
"At last! they had been friends in youth:
But whispering tongues can poison truth;
And constancy lives in realms above;
And life is thorny; and youth is vain;
And to be wroth with one we love,
Doth work like madness in the brain;
But never either found another
To free the hollow heart from paining -
They stood aloof, the scars remaining.
Like cliffs which had been rent asunder;
A dreary sea now flows between,
But neither heat, nor frost, nor thunder,
Shall wholly do away, I ween,
The marks of that which once hath been."
Coleridge, Christabel
 
Fare thee well! and if for ever,
Still for ever, fare thee well:
Even though unforgiving, never
'Gainst thee shall my heart rebel.
 
Would that breast were bared before thee
Where thy head so oft hath lain,
While that placid sleep came o'er thee
Which thou ne'er canst know again:
 
Would that breast, by thee glanced over,
Every inmost thought could show!
Then thou wouldst at last discover
Twas not well to spurn it so.
 
Though the world for this commend thee -
Though it smile upon the blow,
Even its praise must offend thee,
Founded on another's woe:
 
Though my many faults defaced me,
Could no other arm be found,
Than the one which once embraced me,
To inflict a cureless wound?
 
Yet, oh yet, thyself deceive not;
Love may sink by slow decay,
But by sudden wrench, believe not
Hearts can thus be torn away:
 
Still thine own its life retaineth,
Still must mine, though bleeding, beat;
And the undying thought which paineth
Is - that we no more may meet.
 
These are words of deeper sorrow
Than the wail above the dead;
Both shall live, but every morrow
Wake us from a widowed bed.
 
And when thou wouldst solace gather,
When our child's first accents flow,
Wilt thou teach her to say "Father!"
Though his care she must forego?
 
When her little hands shall press thee,
When her lip to thine is pressed,
Think of him whose prayer shall bless thee,
Think of him thy love had blessed!
 
Should her lineaments resemble
Those thou never more may'st see,
Then thy heart will softly tremble
With a pulse yet true to me.
 
All my faults perchance thou knowest,
All my madness none can know;
All my hopes, where'er thou goest,
Wither, yet with thee they go.
 
Every feeling hath been shaken;
Pride, which not a world could bow,
Bows to thee - by thee forsaken,
Even my soul forsakes me now:
 
But 'tis done - all words are idle -
Words from me are vainer still;
But the thoughts we cannot bridle
Force their way without the will.
 
Fare thee well! thus disunited,
Torn from every nearer tie.
Seared in heart, and lone, and blighted,
More than this I scarce can die.
 
So We'll Go No More A Roving
 
So we'll go no more a- roving
So late into the night,
Though the heart be still as loving,
And the moon be still as bright.
 
For the sword outwears its sheath,
And the soul wears out the breast,
And the heart must pause to breathe,
And Love itself have rest.
 
Though the night was made for loving,
And the day returns too soon,
Yet we'll go no more a- roving
By the light of the moon.
Vĩnh biệt em
 
Than ôi! họ đã từng là bạn của nhau
Nhưng ác nhân đầu độc lòng chung thủy
Dù sự thật vẫn sống ở trên cao
Nhưng tuổi thanh xuân phí hoài, vô nghĩa
Và cuồng điên ngự trị ở trong đầu
Và cuộc đời từ đây chia hai ngả.
Không bao giờ họ còn gặp lại nhau
Để con tim lại mừng vui, hớn hở
Biệt ly này có ai muốn gì đâu
Như vách đá bị chia làm hai nửa.
Biển buồn bã giữa con sóng bạc đầu
Không sấm chớp, oi nồng hay băng giá
Tình đã chết ở trong lòng, tuy thế
Hai người đã từng một thuở của nhau.
Coleridge. Christabel.
 
Vĩnh biệt em! và nếu là mãi mãi
Thì đến muôn đời vĩnh biệt em
Lòng hận thù anh không còn giữ lại
Và em nhé, hãy quên.
 
Có lẽ nào trên ngực của anh
Nơi mái đầu của em từng cúi xuống
Nơi đã từng say sưa trong giấc mộng
Em còn nhớ chăng giấc mộng của mình?
 
Và với anh, có lẽ nào em nỡ
Khi đã nhìn xuyên suốt trái tim anh
Rồi sau đấy em dễ dàng chối bỏ
Trái tim anh em nỡ coi thường.
 
Có thể là thiên hạ sẽ khen em
Nhưng là điều tai họa, em có biết
Rằng khi nhận về lời khen cho mình
Em mang bất hạnh đến cho người khác.
 
Ừ thì anh lỗi lầm, anh vẫn biết
Anh vẫn mong chuộc lại lỗi lầm
Nhưng tại sao bàn tay, em nỡ giết
Bàn tay từng âu yếm cùng anh?
 
Và dù sao, em đừng tự dối mình
Ngọn lửa tình đâu đã tàn phai hẳn
Dù bây giờ đã ly biệt con tim
Tình đau đớn trong tim này vẫn sống.
 
Tình của em trong tim anh vẫn giữ
Đớn đau này rỉ máu trái tim anh
Một ý nghĩ vẫn làm anh đau khổ
Rằng sẽ không còn gặp nữa chúng mình.
 
Em có nghe tiếng nức nở của ai
Như tiếng khóc lạc loài trên xác chết
Ta vẫn sống, nhưng mỗi sáng hai người
Đều goá bụa trên giường khi tỉnh giấc.
 
Và khi em âu yếm cùng con gái
Dạy con mình cất tiếng gọi “Cha ơi!”
Thì với con của mình, em có nói:
Cha của con vẫn sống ở trên đời?
 
Khi bàn tay đứa con quàng âu yếm
Khi hôn môi con em có biết rằng
Anh vẫn mong và vẫn luôn cầu nguyện
Vẫn nghĩ về em như thuở yêu anh.
 
Nếu em thấy con gái mình rất giống
Với kẻ mà xưa em nỡ phụ tình
Nếu bỗng nhiên con tim em rung động
Nhịp đập chân thành em hãy hướng về anh.
 
Lỗi lầm anh, có thể là em biết
Vẻ điên cuồng em chẳng biết được đâu
Niềm hy vọng của anh còn tha thiết
Như bên tai còn vọng mãi u sầu.
 
Và tâm hồn rất kiêu hãnh của anh
Trước tình em cúi xuống
Hồn anh đuổi theo em
Từ giã anh đi về nơi xa vắng.
 
Hết thật rồi, tất cả lời trống rỗng
Càng phí hoài hơn thế những lời anh
Nhưng ý nghĩ không thể nào ngăn cản
Ý nghĩ khát khao bay đến với tình.
 
Vĩnh biệt em! giờ tình yêu đã hết
Mất em rồi, tình yêu đã xa xôi
Không bao giờ tim anh còn được chết
Bởi từ đây con tim đã chết rồi.
 
Chẳng còn những đêm xưa
 
Thôi đêm này chẳng cùng em sánh bước
Như những đêm xưa từng bước chung đôi
Dù tình yêu vẫn dồn lên trong ngực
Và ánh trăng vẫn sáng ở trên trời.
 
Như lưỡi dao đã mòn vì bao vỏ
Tâm hồn đau vì đã lắm bồi hồi
Giờ con tim đang rất cần hơi thở
Và tình yêu đang muốn được nghỉ ngơi.
 
Dù đêm nay vẫn dịu hiền như trước
Đêm dễ thương, âu yếm của hai người
Nhưng anh và em chẳng còn sánh bước
Như những đêm xưa dưới ánh trăng soi.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]