Trận chiến nước Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến nước Pháp
Một phần của Mặt trận phía Tây trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Nazi-parading-in-elysian-fields-paris-desert-1940.png
Quân đội Đức diễu hành tại Paris năm 1940.
Cảnh trong phim Divide and Conquer, phần 3 của loạt phim "Vì sao chúng tôi chiến đấu"
.
Thời gian 10 tháng 525 tháng 6 năm 1940
Địa điểm Pháp, Vùng đất thấp[ct 1]
Kết quả Thắng lợi quyết định của phe Trục.
Thay đổi lãnh thổ Đức chiếm đóng Hà Lan, Bỉ, Luxembourg và Bắc - Tây nước Pháp;

Ý chiếm đóng Đông Nam Pháp.

Tham chiến
Đức Quốc Xã Đức
Ý Ý (từ 10 tháng 6)
Pháp PhápSurrendered
 Anh
 BỉSurrendered
 Hà LanSurrendered
 Canada
 LuxembourgSurrendered
Chỉ huy
Đức Quốc Xã Gerd von Rundstedt
Đức Quốc Xã Fedor von Bock
Đức Quốc Xã Wilhelm von Leeb
Ý H.R.H. Umberto di Savoia
Pháp Maurice GamelinSurrendered
Pháp Maxime WeygandSurrendered
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Tử tước Gort
Bỉ Leopold IIISurrendered
Hà Lan H.G. WinkelmanSurrendered
Lực lượng
Đức:
141 sư đoàn[1],
7.378 đại bác[1],
2.445 xe tăng[1],
5.638 máy bay[2][ct 2]
3.350.000 quân
Vùng Alps ngày 20 tháng 6
300.000 quân Ý
Đồng Minh
144 sư đoàn[1],
13.974 đại bác[1],
3.383 xe tăng[1],
2.935 máy bay[2]
3.300.000 quân
Vùng Alps ngày 20 tháng 6
~150.000 quân Pháp
Tổn thất
Đức:
27.074 chết[ct 3]
111.034 bị thương
18.384 mất tích[3][4][5]
Mất 1.129 phi hành đoàn[6]
Máy bay:
1.236[3] - 1.345[7] bị mất,
323[3] - 488 bị hư hỏng[7]
Xe tăng:
795 chiếc[8]
Ý:
1.247 chết hoặc mất tích,
2.631 bị thương,
2.151 nhiễm lạnh[9][10][ct 4]
Đồng Minh
360.000 chết và bị thương
1.900.000 bị bắt
2.233 máy bay[11]
.

Trận chiến nước Pháp (tiếng Pháp:Bataille de France),[ct 5] hay Chiến dịch phía tây (tiếng Đức:Westfeldzug) theo cách gọi của người Đức, là một chiến dịch tấn công chiến lược của Quân đội Đức Quốc xã vào Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 10 tháng 5 năm 1940, đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh kỳ quặc và chiến sự chính thức bùng nổ tại Tây Âu.

Với một kế hoạch tấn công táo bạo, mũi tấn công mồi của Quân đội Đức Quốc xã vào Vùng đất thấp hút theo chủ lực Đồng Minh, tạo bất ngờ cho mũi tấn công chính băng qua khu rừng Ardennes. Được tổ chức theo phương thức Blitzkrieg, ngay sau khi đột phá phòng tuyến sông Meuse của Quân đội Pháp ở Sedan, lực lượng thiết giáp Đức đã thọc sâu tốc độ cao về eo biển Manche, cô lập chủ lực Đồng Minh ở phía bắc. Thắng lợi ở Dunkirk, tuy không hoàn toàn vì để Lực lượng Viễn chinh Anh kịp sơ tán, nhưng cũng đủ mang tính quyết định, tạo điều kiện để đánh quỵ hoàn toàn Quân đội Pháp trong các hoạt động quân sự tiếp theo, kéo theo Ý nhảy vào tuyên chiến với Pháp và dẫn tới sự đầu hàng của nước Pháp vào ngày 22 tháng 6.

Chiến thắng nhanh chóng ở Pháp đã đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn, một mặt có được bàn đạp cho hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, một mặt khác rảnh tay chuẩn bị cho mặt trận phía đông chống Liên Xô.

Nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền Bắc và Tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở Đông Nam và một vùng tự do ở phía nam do Chính phủ bù nhìn Vichy quản lý cho đến khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandie năm 1944.

Mục lục

Bối cảnh trước trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Quân đội Đức Quốc xã đã tấn công Ba Lan. Hai ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức.

Phản ứng của Anh và Pháp nằm ngoài dự tính của Hitler, vì ông ta cho rằng các cường quốc này sẽ lại tiếp tục thụ động như trong các cuộc thôn tính trước đó của Đức.[12] Ngày 6 tháng 10, trong bài phát biểu tại Tòa nhà Quốc hội Đức, Hitler gửi lời kêu gọi hoà bình đến Anh và Pháp trong đó tuyên bố "Đức không đòi hỏi gì thêm từ Pháp".[13] Ngày 10 tháng 10 năm 1939, Anh từ chối đề nghị của Hitler; ngày 12 tháng 10 Pháp cũng tuyên bố tương tự.[14]

Tuy nhiên, ngoài lời nói, không bên nào có hoạt động quân sự đáng kể chống lại nhau. Trong giai đoạn cuộc chiến tranh kỳ quặc đó, Đức Quốc xã hoàn thành cuộc chinh phục Ba Lan,[15] gia tăng đáng kể tiềm lực quân sự và phát triển kế hoạch tấn công Pháp,[12] còn phe Đồng minh cũng tích lũy lực lượng chờ đợi một cuộc chiến tranh lâu dài.[16] Riêng ở nước Pháp, nền chính trị bị chia rẽ sâu sắc và sự mệt mỏi với viễn cảnh chiến tranh gia tăng.[17] Bất chấp nỗ lực tuyên truyền chống lại "sự suy thoái đạo đức và thiếu nhiệt tình chiến tranh", chính phủ Pháp không ngăn được tâm lí chiến bại và tình trạng vô kỷ luật lan tràn.[18]

Chiến lược của Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Pháp trong chiến lược của Hitler[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ năm 1922, Hitler đã nhắm tới mục tiêu lâu dài của chiến tranh là chinh phục nước Nga để mở rộng không gian sinh tồn cho người Đức.[19] Trong cuốn sách Mein Kampf, Hitler đã chỉ ra tiền đề cho cuộc chinh phục này là phải thôn tính xong nước Pháp nhằm tránh một cuộc chiến tranh cùng lúc trên hai mặt trận.[19]

Từ những biểu hiện nhu nhược của các cường quốc phương Tây, Hitler cho rằng trừ khi bị tấn công, các nước này sẽ vẫn trốn tránh đối đầu quân sự với nước Đức.[20] Phản ứng từ chối đề nghị hòa bình của Đồng Minh đã khiến Hitler quyết định tận dụng chiến thắng chớp nhoáng đối với Ba Lan để "đánh bại Pháp và [...] buộc nước Anh thừa nhận sự yếu thế và tìm cách thỏa hiệp".[21] Một khi đã "buộc Phương Tây quỳ gối", Đức có thể quay lại chống "Chủ nghĩa Bolshevik Do Thái" và chinh phục nước Nga.[22]

Nhằm phục vụ cho chiến lược này, ngày 9 tháng 10 năm 1939, Hitler ban hành "chỉ thị Führer số 6".[23] Theo đó, Vùng đất thấp phải được chiếm trong thời hạn ngắn nhất có thể để ngăn Pháp chiếm đóng các quốc gia này và đe doạ vùng Ruhr - khu vực quan trọng sống còn của Đức[24] đồng thời chiếm bàn đạp phục vụ cho hoạt động trên biển và trên không chống lại nước Anh. Tuy nhiên, đối diện với sự e ngại của các tướng lĩnh là cuộc chiến có thể kéo dài và Liên Xô có thể thay đổi thái độ trung lập,[25] Hitler buộc phải nhiều lần chấp nhận dời lại thời điểm bắt đầu của cuộc tấn công (tổng cộng là 29 lần).[12]

Kế hoạch tấn công Vùng đất thấp và Bắc Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kế hoạch Manstein
Tiến triển của Fall Gelb từ 9/1939 đến 2/1940.

Ngày 19 tháng 10, Franz Halder, Tham mưu trưởng Lục quân đã trình bày phương án tác chiến đầu tiên của Fall Gelb (Kế hoạch vàng), mật danh của kế hoạch tấn công Bắc Pháp và Vùng đất thấp,[26] và cho đến đầu năm 1940 đã đưa ra thêm một số phiên bản khác. Ý đồ chung của các phương án này là tổ chức tấn công vỗ mặt ở Trung bộ nước Bỉ nhắm vào mục tiêu hạn chế là chiếm lấy bờ biển Flanders.[27] Đây cũng chính là phương án tấn công rơi vào tay Đồng Minh sau khi một sĩ quan Đức bị hỏng máy bay phải hạ cánh ở Mechelen Bỉ vào ngày 10 tháng 1 năm 1940.[23]

Phương án này bị phản đối vì bị coi là một phiên bản không hợp thời của kế hoạch Schlieffen trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Một trong số những người phản đối là Erich von Manstein - Tham mưu trưởng của Cụm Tập đoàn quân A - soạn thảo một phương án khác,[28] với ý tưởng chính là biến mũi tấn công phía bắc thành mồi nhử dụ chủ lực Đồng Minh tiến lên nghênh chiến, trong lúc đó mũi chủ công sẽ được mở ở chính diện trung tâm. Điểm đột phá được chọn là đoạn Sedan - Dinant, nơi có khả năng gây bất ngờ vì có 2 cản ngại tự nhiên cho hoạt động của xe tăng là rừng rậm Ardennes và sông Meuse.[29] Sau đó, mũi chủ công gồm toàn bộ lực lượng thiết giáp sẽ độc lập tác chiến về eo biển Manche để cô lập chủ lực Đồng Minh ở Bỉ.[29]

Đề xuất của von Manstein qua nhiều cuộc vận động mới đến tai Hitler vào ngày 17 tháng 2 và được sửa đổi thành phương án tác chiến vào ngày 24 tháng 2.[30] Phương án sửa đổi vẫn giữ lại ý tưởng chính của von Manstein, nhưng cắt bỏ những điểm trái với quan điểm tác chiến bộ binh truyền thống như ý tưởng thiết giáp tác chiến độc lập.[31] Phương án được triển khai thành kế hoạch chi tiết cho 9 ngày chiến sự đầu tiên; phần còn lại sẽ do các chỉ huy tiền phương quyết định để bảo đảm linh hoạt chiến thuật,[32] và đây là điểm khiến các tướng chỉ huy thiết giáp đã tận dụng để triển khai phương án của Manstein trong thực tế.[33]

Chiến lược của Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất thấp đối với Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Thất bại nhanh chóng của Ba Lan làm cho Đồng Minh hoang mang trong khả năng Đức ra tay trước. Các tướng lĩnh cho rằng do Pháp được che chở bởi phòng tuyến Maginot từ phía đông, cho nên hướng tấn công chính của Đức hầu như chắc chắn sẽ đi qua lãnh thổ Bỉ và Hà Lan.[34] Một số tướng lĩnh cho rằng hướng tấn công chính của Đức cũng có thể đi qua chính diện Meuse - Moselle, cho nên đã đề xuất phương án thận trọng, giữ một lực lượng lớn làm dự bị ở phía bắc Paris để sẵn sàng điều chuyển đối phó với mọi tình huống.[35]

Tuy nhiên, Tổng Tư lệnh Tối cao quân đội Pháp, Thống chế Maurice Gamelin, đã bác bỏ phương án này. Lý do đầu tiên là ông không tin rằng Quân đội Pháp có cơ may chiến thắng bằng vận động chiến.[36] Một lý do khác nữa là Đồng Minh không thể bỏ mặc các nước Vùng đất thấp. Mặc dù trong thời gian này Bỉ và Hà Lan vẫn cố gắng đứng ngoài chiến tranh bằng một chính sách trung lập công khai, nhưng vẫn bí mật thương lượng với Đồng Minh.[37] Trong khi đó, đối với Pháp, Bỉ là một vùng đệm chiến lược vừa để ngăn chặn Đức từ xa, vừa là bàn đạp tấn công Đức về sau, còn Anh không muốn khu vực bãi biển Flanders trở thành căn cứ không quân - hải quân của Đức.

Kế hoạch Dyle - Breda[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kế hoạch Dyle - Breda
Bản đồ kế hoạch Dyle-Breda.

Tháng 10 năm 1939, Gamelin đề xuất kế hoạch E - đặt theo con sông Escaut (tên tiếng Pháp của sông Scheldt), theo đó Đồng Minh tiến quân lên lập phòng tuyến dọc bờ sông này nối liến với tuyến biên giới Bắc Pháp với chủ định chỉ bảo vệ bờ biển Flanders. Bị chỉ trích vì không liên kết được với Quân đội Bỉ tập trung ở Trung bộ nước Bỉ theo thỏa thuận ngầm trước đó,[38] hơn nữa phòng tuyến vừa dài lại lồi về phía đối phương, nên Gamelin dời tuyến đến dọc theo sông Dyle,[35] đồng thời đưa 1 Tập đoàn quân qua Antwerp tới Breda, Hà Lan - và nhận được sự đồng ý của Anh.[35][ct 6]

Tuy nhiên, tướng Gort, Tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Anh (B.E.F.), cho rằng kế hoạch này quá mạo hiểm, một mặt vì thời gian quá hạn hẹp để tiến quân chiếm lĩnh trận địa, mặt khác mũi chủ công của Đức có thể mở ra ở nơi khác.

Để chống lại phản biện này, Gamelin lập luận rằng Đức phải đột phá phòng tuyến bằng thiết giáp, mà lực lượng này không có cơ may xuyên qua phòng tuyến Maginot ở sườn phải, hoặc chiến thắng được các lực lượng Đồng minh tập trung bên sườn trái.[39] Chỉ còn lại khu trung tâm, nhưng hầu hết khu vực này đã được che chở bởi sông Meuse. Xe tăng sẽ không thể đánh bại được các vị trí kiên cố bên bờ sông. Ở vị trí xung yếu Gembloux giữa tuyến sông Dyle - Namur, nơi mà sông Meuse đột ngột rẽ về phía đông tạo thành một hành lang bằng phẳng - mà Gamelin tin chắc rằng mũi tấn công chính của Đức sẽ đi qua đây - thì ông ta đã cho tập trung một nửa lực lượng thiết giáp dự bị.[39] Trong trường hợp Đức vượt sông Meuse ở phía nam Namur, thì phải mất thời gian để tập kết pháo binh hỗ trợ cho bộ binh lập đầu cầu, và do đó vẫn có đủ thời gian chuyển quân tăng viện.[40]

Ngày 10 tháng Giêng năm 1940, bản kế hoạch Fall Gelb No2 do một sĩ quan Đức mang theo chưa kịp hủy khi hạ cánh khẩn cấp xuống Bỉ[23] đã góp phần khẳng định lập luận của Gamelin.

Lực lượng và bố trí[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Đức Quốc xã[sửa | sửa mã nguồn]

Bố trí lực lượng và ý đồ tiến quân của hai bên.

Lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Đức đã động viên được tổng cộng 4.200.000 người cho lục quân, 1.000.000 cho không quân (Luftwaffe), 180.000 cho hải quân (Kriegsmarine), và 100.000 cho lực lượng Waffen-SS. Không tính đến các bộ phận tại Ba Lan, Đan Mạch và Na Uy, lục quân Đức có tổng cộng 3.000.000 người phục vụ cho cuộc tấn công ngày 10 tháng 5 năm 1940.[41] Lực lượng này được tổ chức thành 157 sư đoàn, trong đó 135 sư đoàn được dùng cho việc tấn công, 42 sư đoàn làm dự bị.[42]

Ở phía tây, trong tháng 5 và tháng 6, quân Đức đã triển khai 2.439 xe tăng và 7.378 khẩu pháo.[43] Trong các năm 1939–1940, có 45% quân số đã 40 tuổi, và 50% binh lính mới chỉ qua vài tuần lễ huấn luyện.[44] Lục quân Đức cũng không được cơ giới hóa hoàn toàn. Chỉ có 10% lục quân được cơ giới hóa trong năm 1940 và chỉ có thể tập hợp được 120.000 xe cộ so với con số 300.000 của Pháp. Người Anh cũng có một lực lượng cơ giới "đáng ganh tỵ" so với Đức.[44] Hầu hết đoàn xe hậu cần của Đức vẫn là xe ngựa kéo.[45]

Chỉ có một nửa số sư đoàn Đức hiện có trong năm 1940 là đã sẵn sàng chiến đấu,[44] và thường được trang bị nghèo nàn hơn nhiều so với Pháp và Anh, thậm chí là chỉ ngang bằng mức trang bị của quân Đức năm 1914.[46] Vào mùa xuân năm 1940, quân đội Đức vẫn đang trong tình trạng bán hiện đại.[46] Có một số lượng nhỏ các sư đoàn tinh nhuệ được trang bị tốt nhất đã bù đắp lại nhiều sư đoàn hạng hai và hạng ba.[46]

Không quân Đức (Luftwaffe) chia 2 cụm: 1.815 máy bay chiến đấu, 487 máy bay vận tải và 50 tàu lượn phối hợp với Cụm Tập đoàn quân B, 3.286 máy bay chiến đấu khác hỗ trợ Cụm Tập đoàn quân A và C.[47]

Bố trí[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Đức chia làm 3 cụm quân:

  • Cụm Tập đoàn quân A do Gerd von Rundstedt chỉ huy, bao gồm 45½ sư đoàn, trong đó có 7 sư đoàn thiết giáp và 3 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa,[48] đóng vai trò chủ công của mũi thọc sâu lưỡi hái[ct 7]. Thành phần của cụm bao gồm Tập đoàn quân 4 (được biên chế Quân đoàn Thiết giáp 15), 12 và 16 cùng với Cụm Thiết giáp Kleist (gồm Quân đoàn Thiết giáp 19 và 41).[48]
  • Cụm Tập đoàn quân B dưới quyền chỉ huy của Fedor von Bock, bao gồm 29½ sư đoàn, gồm Tập đoàn quân số 6 (biên chế 2 sư đoàn thiết giáp) và 18 (có 1 sư đoàn thiết giáp), có nhiệm vụ tiến qua Vùng đất thấp và dụ chủ lực Đồng minh tiến lên nghênh chiến.
  • Cụm Tập đoàn quân C, gồm 18 sư đoàn do Wilhelm Ritter von Leeb chỉ huy bao gồm 2 Tập đoàn quân số 1 và 7, chờ tiến hành hộ công vào phòng tuyến Maginot từ phía đông.

Quân đội Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Pháp Alphonse Georges xem xét khẩu pháo 8 inch của Anh.

Do tỉ lệ sinh đẻ thấp, dân số lại suy giảm trong chiến tranh thế giới thứ nhất và trong cuộc Đại suy thoái, nước Pháp lâm vào tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng trong khi dân số chỉ bằng một nửa nước Đức. Bù lại, Pháp đã huy động được khoảng 1 phần 3 dân số nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 45, nâng tổng số lực lượng vũ trang lên đến 5.000.000 người,[50] trong đó có 2.240.000 phục vụ trong các đơn vị quân đội ở phía bắc. Người Anh đóng góp tổng cộng 897.000 quân trong năm 1939, và tăng lên 1.650.000 vào tháng 6 năm 1940, nhưng trong tháng 5 chỉ có 500.000 người, kể cả dự bị. Nguồn nhân lực của Hà Lan và Bỉ ước tính lần lượt là 400.000 và 650.000 người.[41]

Bắt đầu trận chiến, Đồng minh có khoảng 3.100 xe tăng hiện đại và pháo tự hành; sau đó còn có thêm 1.200 chiếc nữa lấy ra từ kho hoặc biên chế trong các đơn vị mới thành lập, còn nếu tính cả 1.500 xe tăng FT-17 đời cũ thì tổng cộng tới 5.800 xe tăng. Ngoài ưu thế xe tăng, Đồng Minh còn vượt trội về hỏa lực pháo với khoảng 14.000 khẩu.[51] Tuy nhiên, Không quân Đồng Minh vừa thua kém số lượng vừa sút kém chất lượng: chỉ có một số nhỏ máy bay Hawker Hurricane của Anh và Dewoitine D.520 của Pháp có thể đương đầu với Messerschmitt Bf 109 của Đức.[52]

Lực lượng phía bắc của Quân đội Pháp nằm trong biên chế Cụm Tập đoàn quân số 1 do tướng Gaston-Henri Billotte chỉ huy, gồm 40 sư đoàn tinh nhuệ có nhiệm vụ sẵn sàng tiến sang Vùng đất thấp. Tập đoàn quân số 7 gồm Sư đoàn Cơ giới hóa số 1 (DLM) và các sư đoàn mô tô hóa để di chuyển đến Breda - Hà Lan.[53] Chín sư đoàn của Lực lượng Viễn chinh Anh (B.E.F.) có nhiệm vụ hành quân tới tuyến Dyle giáp sườn phải của quân Bỉ. Tập đoàn quân số 1 có 2 sư đoàn cơ giới hóa và 1 sư đoàn thiết giáp dự bị (DCR), nhận nhiệm vụ phòng thủ hành lang Gembloux. Xa nhất về phía nam cùng hành tiến vào Bỉ là Tập đoàn quân số 9 có nhiệm vụ giữ chính diện dọc sông Meuse giữa Sedan và Namur.[53] Tại Sedan, Tập đoàn quân số 2 trở thành "bản lề" của lực lượng di chuyển và ở lại.[53]

Tháng 5: Kế hoạch vàng, Vùng đất thấp và Bắc Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 5 năm 1940, Bộ Ngoại giao Đức đã chuẩn bị một công hàm để giao cho đại sứ Bỉ và Hà Lan vào lúc 5h45 ngày hôm sau. Với lý do Bỉ và Hà Lan đã "đơn phương ủng hộ kẻ thù của nước Đức và có ý định hỗ trợ chúng",[54] nên Chính phủ Đức "quyết định sẽ đảm bảo tính trung lập của các quốc gia này bằng toàn bộ sức mạnh quân sự của đế chế".[54] Chính phủ Luxembourg cũng nhận được một công hàm thông báo rằng Chính phủ Đức "nhận thấy họ buộc phải mở rộng chiến dịch trên lãnh thổ Luxembourg".[54]

Mũi tấn công mồi phía bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 9 tháng 5 năm 1940, Quân đội Đức Quốc xã mở màn Kế hoạch vàng bằng cách tràn sang Luxembourg.[55] Sáng 10 tháng 5, quân dù Đức (Fallschirmjäger) thuộc Sư đoàn Dù số 1 và Sư đoàn Bộ binh số 22 của Không quân đã đổ bộ chiếm các vị trí quan trọng ở Hà Lan và Bỉ nhằm hỗ trợ cho Cụm Tập đoàn quân B tiến quân.[56]

Bộ Tư lệnh Quân đội Pháp lập tức điều Cụm Tập đoàn quân số 1 lên phía bắc theo đúng kế hoạch D và đưa Tập đoàn quân số 7 di chuyển vào lãnh thổ Hà Lan. Tuy nhiên, Đồng Minh sớm gặp khó khăn vì ưu thế trên không của Đức không cho phép trinh sát bằng máy bay và làm gián đoạn hệ thống thông tin liên lạc.[57]

Chiến sự ở Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Hà Lan
Một máy bay vận tải Junkers Ju 52 của Đức bị bắn rơi.

Trên bầu trời Hà Lan, Không quân Đức chiếm ưu thế tuyệt đối với 247 máy bay ném bom, 147 máy bay tiêm kích, 424 máy bay vận tải và 12 thủy phi cơ.[58] Không quân Hà Lan (Militaire Luchtvaartafdeling - ML) có 144 máy bay thì đã mất một nửa ngay trong ngày đầu tiên,[59] mất thêm 38 chiếc trong các ngày tiếp theo trong khi chỉ thực hiện được 332 lượt xuất kích.[60] Tuy nhiên, cuộc đổ bộ đánh chiếm trụ sở của chính phủ Hà Lan ở La Hague đã thất bại hoàn toàn. Quân dù Đức đã trả giá đắt để chiếm được các phi trường Ypenburg, Ockenburg, và Valkenburg ở ngoại ô, nhưng ngay cùng ngày đã bị 2 sư đoàn bộ binh dự bị Hà Lan chiếm lại. Trong trận này Không quân Đức mất 125 máy bay tải quân Ju 52, 47 chiếc bị thương, tương ứng với 50% số máy bay vận tải.[61]

Tuy nhiên, quân dù Đức đã thành công ở phía nam khi bất ngờ đổ bộ chiếm các cây cầu dọc tuyến đường nổi Moerdijk qua khu vực ngập nước ở cửa sông Meuse,[62] giữ đường cho Quân đoàn số 18 tiến quân thâm nhập Pháo đài Holland, cắt Hà Lan làm đôi. Hành động nhanh chóng này buộc Quân đội Hà Lan phải rút về AmsterdamRotterdam ở phía bắc, khiến Tập đoàn quân 7 của Pháp tới Breda nhưng không liên kết được với Quân đội Hà Lan nên phải rút về tuyến sông Escaut.[63] Hai ngày sau, Sư đoàn Thiết giáp số 9 Đức được điều tới hướng Hà Lan đã thẳng tiến tới Rotterdam và chỉ bị chặn lại ở cây cầu cửa ngõ trong ngày 13 tháng 5.[62]

Ngày 14 tháng 5, Không quân Đức đã ném bom Rotterdam và san bằng trung tâm thành phố, đốt cháy các khu phố cổ khiến 814 dân thường thiệt mạng.[64] Nỗi lo sợ các thành phố khác bị hủy hoại cùng với tình thế vô vọng về mặt chiến lược khiến lãnh đạo Quân đội Hà Lan quyết định đầu hàng vào tối ngày 14 tháng 5, trong lúc Quân đội hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Ngày hôm sau, văn kiện đầu hàng được ký còn Nữ hoàng Wilhelmina chạy sang Anh thành lập chính phủ lưu vong.[65]

Chiến sự ở Bỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Bỉ
Quân Đức vượt kênh đào Albert.

Trên bầu trời Bỉ, Không quân Đức cũng dễ dàng chiếm ưu thế, phá hủy 83 trong tổng số 179 máy bay của Không quân Bỉ (Aeronautique Militaire) trong vòng 24 giờ đầu tiên, khiến Không quân Bỉ chỉ thực hiện được 77 phi vụ mà không có hiệu quả đáng kể.[66]

Dưới mặt đất, để bảo đảm hành quân cho Cụm Tập đoàn quân B, quân dù Đức đổ bộ chiếm giữ các cây cầu trên sông đào Albert ngay sáng ngày 10 tháng 5. Cùng lúc, quân dù Đức đổ bộ lên nóc pháo đài Eben-Emael bằng tàu lượn, dùng đầu nổ lõm đặt trên nóc tháp để phá hủy các khẩu pháo lớn, làm lửa loang xuống các phòng bên dưới.[67] Sáng ngày 11 tháng 5, xe tăng Đức tiến quân bao vây pháo đài, khiến 1.200 quân phòng thủ đầu hàng.[67] Choáng váng vì phòng tuyến sụp đổ ở ngay vị trí kiên cố nhất, Bộ Tư lệnh Tối cao Quân đội Bỉ rút quân về tuyến Dyle trước kế hoạch 5 ngày, khiến cho B.E.F. và Tập đoàn quân số 1 Pháp không đủ thời gian chiếm lĩnh trận địa.

Khi Quân đoàn Thiết giáp 16 của Đức tiến quân về hành lang Gembloux thì Sư đoàn Cơ giới hóa số 2 và 3 phải tiến lên đối đầu tại Hannut vào ngày 12 và 13 tháng 5.[68] Ở trận đánh xe tăng lớn nhất cho đến lúc bấy giờ - với khoảng 1.500 xe thiết giáp tham chiến[69] - 2 sư đoàn Pháp đã thành công khi chỉ mất 105 xe tăng đổi lấy 165 xe tăng Đức.[70][ct 8] Qua hôm sau, quân Đức xoay xở chọc thủng được đội hình xe tăng Pháp, nhưng Pháp đã lui quân thành công về Gembloux, lúc này Tập đoàn quân số 1 cũng đã kịp lập xong thế phòng thủ. Ngày 14 tháng 5, khi các sư đoàn thiết giáp Đức tấn công trận địa Gembloux của Tập đoàn quân số 1 thì bị đẩy lùi, mất thêm 42 xe tăng, 26 trong số đó bị hỏng hoàn toàn.[71]

Tuy nhiên, thắng lợi chiến thuật này của Pháp đã trở nên vô nghĩa vì những sự kiện diễn ra ở xa hơn về phía nam.

Cuộc đột phá ở Trung tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Sedan (1940)
Heinz Guderian, Hermann HothHans Reinhardt, Tư lệnh các quân đoàn thiết giáp của Cụm Tập đoàn quân A.

Ở chính diện trung tâm, các sư đoàn bộ binh cơ giới hóa của Bỉ và kỵ binh cơ giới hoá Pháp đã tiến vào vùng rừng Ardennes từ trước, nhưng vì thiếu vũ khí chống tăng nên đã phải nhanh chóng rút về sông Meuse trước số lượng xe tăng đông đảo của Đức. Chỉ có hạ tầng giao thông yếu của vùng mới làm chậm bước tiến của Cụm Tập đoàn quân A: 4 tuyến đường xuyên rừng phải tải trên 41.000 xe cộ của riêng Cụm Thiết giáp Kleist,[72] gây tắc nghẽn kéo dài đến tận sông Rhine trong 2 tuần lễ. Nếu như Không quân Pháp đủ sức thách thức ưu thế trên không của Đức, thì chắc chắn Cụm Tập đoàn quân A đã bị thiệt hại nặng.[72]

Các đơn vị đi đầu của Đức tới bờ sông Meuse vào chiều muộn ngày 12 tháng 5[73] và chuẩn bị lập 3 đầu cầu vượt sông: một tại phía nam Sedan, một tại Monthermé cách đó 20 km về phía tây bắc và một tại Dinant, thêm 50 km nữa về phía bắc.[73] Do khó khăn tiếp vận, nên các đơn vị tiên phong chưa đủ quân để tạo ưu thế quân số; số pháo hỗ trợ chưa đến đủ lại còn bị giới hạn 12 viên đạn mỗi nòng.[74] Lãnh đạo Quân đội Pháp cũng dự báo tình trạng này và tin rằng nhanh nhất là tới ngày 20 tháng 5 Đức mới tập trung đủ quân và hỏa lực, vì thế nên mặc dù ra lệnh cho 6 sư đoàn dự bị di chuyển ngay từ ngày 11 tháng 5 nhưng lại không yêu cầu khẩn cấp. Do đó, các sư đoàn tới nơi vừa trễ lại vừa lẻ tẻ.[75]

Trong khi đó, ngay trong ngày 13 tháng 5, Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Rommel đã vượt sông Meuse ở Dinant,[73] còn Trung đoàn Bộ binh tinh nhuệ Đại Đức và bộ binh cơ giới hóa của tướng Heinz Guderian đã bắt đầu vượt sông ở 3 vị trí lân cận Sedan dưới sự hỗ trợ của Không quân Đức.[73]

Hỏa lực hỗ trợ của Không quân Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Pháp giữ tuyến sông Meuse tại Sedan là Sư đoàn Bộ binh 55, qua ngày 13 tháng 5 có thêm Sư đoàn Bộ binh 71, là 2 sư đoàn hạng B, phần lớn không được trang bị đầy đủ.[76] Bù lại, đai tuyến đã xây dựng kiên cố xung quanh xương sống là 103 lô cốt bê tông, sâu 6–10 km được tổ chức theo nguyên tắc chồng phủ vùng hỏa lực hiện đại, nằm trên mặt dốc thoải xuống thung lũng sông Meuse.[77]

Để mở hành lang tiến quân qua đai công sự kiên cố, Không quân Đức đã huy động hầu hết máy bay ném bom chiến thuật của Tập đoàn quân Không quân (Luftflotte) số 3 và số 2. Giữ đúng lời hứa với Guderian, Hermann Göring đã ra lệnh thực hiện một cuộc oanh tạc yểm trợ dữ dội chưa từng cho tới thời điểm đó, kéo dài liên tục 8 tiếng đồng hồ.[78] Ngoài 3.940 phi vụ rải thảm của 9 không đoàn ném bom Kampfgeschwader,[79] còn có thêm 300 phi vụ ném bom bổ nhào do 2 không đoàn Stuka (Stukageschwader) thực hiện.[80]

Không quân tiêm kích Đức cũng có đóng góp quan trọng. Trong ngày 14 tháng 5, khi các máy bay ném bom của Anh được các máy bay tiêm kích Pháp hộ tống tìm cách phá hủy các cây cầu phao của Đức bắc qua sông Meuse, thì đã bị Không đoàn Jagdfliegerführer 3 chặn đánh. Cùng với các khẩu đội phòng không trên mặt đất, Không đoàn đã bắn hạ 21 máy bay tiêm kích Pháp và 48 máy bay ném bom Anh.[79] Hôm sau nữa, khi lực lượng máy bay ném bom nhỏ nhoi của Đồng Minh chuyển mục tiêu sang các đoàn xe tăng Đức, thì lại tiếp tục bị chặn đánh, mất 90 máy bay trong một ngày.[81]

Thiết lập đầu cầu bên sông Meuse[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn Thiết giáp số 1 vượt sông Meuse.

Trung đoàn Bộ binh số 147 Pháp được che chở trong các công sự kiên cố tiền phương đã giữ vững vị trí trong suốt đợt oanh tạc ngày 13 tháng 5, ngăn không cho bộ binh cơ giới hóa Đức vượt sông ở 2 vị trí cánh bên. Thế nhưng, lô cốt án ngữ vị trí vượt sông ở giữa bị Trung đoàn Đại Đức hạ bằng pháo phòng không, hình thành khe hở để các trung đội công binh xung kích Đức vượt sông thâm nhập khoét rộng.[82] Bố trí phòng ngự chiều sâu theo khu vực của Pháp là để đối phó với kiểu đột nhập nhóm nhỏ này, nhưng vì cả Sư đoàn Bộ binh số 55 đã bị đợt oanh tạc của Không quân Đức bẻ gãy ý chí chiến đấu,[83] nên không kháng cự hiệu quả được lâu. Bắt đầu từ việc pháo binh của Sư đoàn hoảng loạn bỏ chạy, các đại đội đang giữ tuyến cảm thấy bị bỏ rơi nên cũng tháo chạy theo. Chỉ mất vài trăm quân, nửa đêm đó Trung đoàn Đại Đức đã tiến sâu 8 km vào tuyến phòng ngự của Pháp.[84]

Sự hỗn loạn bắt nguồn từ Sedan đã lan truyền theo chân những tốp lính phờ phạc đang tháo chạy. Lúc 19 giờ ngày 13 tháng 5, Trung đoàn 295 thuộc Sư đoàn Bộ binh 55, giữ tuyến phòng thủ sau cùng trên đồi Bulson cách sông Meuse 10 km, hoảng sợ vì tin đồn rằng xe tăng Đức đã có mặt sau lưng vị trí của mình, cũng bỏ chạy khiến đai phòng ngự của Pháp bị đứt khúc trong khi chưa có một chiếc xe tăng nào của Đức qua sông.[85] Cơn hoảng loạn Bulson của pháo binh Sư đoàn 55 đã kéo tầm pháo Pháp ra khỏi các vị trí vượt sông Đức, làm cả Sư đoàn tan rã và kéo Sư đoàn Bộ binh 71 tan rã theo mà không hề bị tấn công cho tới 12 tiếng đồng hồ sau đó.[86]

Bước qua ngày 14 tháng 5, 2 tiểu đoàn xe tăng và Trung đoàn 213 Pháp cố gắng phản công xóa đầu cầu của Đức nhưng đã muộn.[87] Lúc này cây cầu phao đầu tiên đã bắc xong, các đơn vị thiết giáp và chống tăng Đức đã gấp rút qua sông từ sáng sớm và tổ chức bẻ gãy cuộc phản công tại Bulson.[88]

Phòng tuyến sông Meuse sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình chiến sự từ ngày 10 đến 16 tháng 5 năm 1940

Ngay từ ngày 12 tháng 5, tướng von Kleist, Tư lệnh Cụm Thiết giáp đã nhân danh Hitler yêu cầu Guderian phải giới hạn chiều sâu của đầu cầu trong 8 km để chờ bộ binh,[89] nhưng Guderian vừa vin vào nguyên tắc chỉ huy tiền phương được quyền quyết định tại chỗ, vừa dọa từ chức để được "trinh sát có hỏa lực", bằng cách đó bỏ thượng lệnh ngoài tai.[90]

Trong kế hoạch ban đầu của von Manstein mà Guderian có tham gia, một mũi tấn công tung hỏa mù sẽ được mở về hướng Đông Nam ra sau lưng chiến tuyến Maginot. Ý tưởng này đã bị Halder cắt bỏ nhưng Guderian vẫn thực hiện bằng Sư đoàn Thiết giáp số 10 và Trung đoàn Đại Đức.[90] Đây cũng là hướng mà tướng Charles Huntziger - Tư lệnh Tập đoàn quân 2 của Pháp - dự tính điều Sư đoàn Thiết giáp Dự bị 3 (DCR3) để xóa đầu cầu của Đức.[91] Do Sư đoàn Thiết giáp Dự bị 3 bị phân tán để phòng ngự trước đó nên sáng ngày 15 tháng 5 chỉ tập trung được 1 đại đội xe tăng để chặn Sư đoàn Thiết giáp số 10 tại thị trấn Stonne.[91]

Tuy nhiên, cho dù Stonne là một thắng lợi phòng ngự thì Huntzinger cũng đã đọc sai ý đồ đối phương vì chiều ngày trước đó Guderian đã tung Sư đoàn Thiết giáp số 1 và 2 về phía tây,[92] khiến phía Pháp bỏ lỡ cơ hội quý giá lúc cả 2 sư đoàn Đức đã hành quân trong khi Sư đoàn Thiết giáp số 10 chưa kịp qua sông giữ đầu cầu.[91] Vào lúc trận đánh Stonne đang tiếp diễn, thì các Sư đoàn Thiết giáp số 1 và 2 Đức đã khoét sâu vào khe giữa Tập đoàn quân 2 và Tập đoàn quân 9 của Pháp, đánh thiệt hại nặng Tập đoàn quân số 6 mới thành lập ngay tại khu vực tập kết Tây Sedan.[93] Phát triển tiếp về phía tây gần 40 km, các mũi thiết giáp của Guderian ép Sư đoàn Pháo đài số 102 bỏ vị trí, giải phóng cho Quân đoàn Thiết giáp số 41 của Reinhardt đang bị giam trong đầu cầu Monthermé.[93] Ngay khi xe tăng qua sông xong, Reinhardt cấp tốc tấn công về Montcornet, đè bẹp Sư đoàn Pháo đài 102 đang trên đường rút và cắt đôi đội hình Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 2 đang triển khai.[94] Trong cùng khoảng thời gian, Tập đoàn quân 9 Pháp bị hở sườn phải tháo lui đã tạo điều kiện cho Sư đoàn Thiết giáp 7 của Rommel thuộc Quân đoàn Thiết giáp 15 bứt phá khỏi khu vực Dinant.

Cũng như Guderian, Rommel phớt lờ thượng lệnh, tiến quân cấp tốc với chủ định không cho quân Pháp có thời gian tổ chức phòng thủ.[90] Sáng ngày 15 tháng 5 Sư đoàn của Rommel đã kịp tấn công Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 1 ngay khi đoàn xe tăng Pháp còn đang xếp hàng chờ nhận nhiên liệu.[95] Để lại việc xóa sổ Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 1 Pháp cho Sư đoàn Thiết giáp 5, Rommel tiếp tục thúc quân về phía tây, đánh tan Sư đoàn Bộ binh 18 và 22, cô lập Sư đoàn Bộ binh Bắc Phi 4 tại Philippeville.[96] Mờ sáng hôm sau, 16 tháng 9, Sư đoàn của Rommel đến Avesnes, kịp tấn công xóa sổ Sư đoàn Mô tô hóa số 5 Pháp khi đoàn xe Pháp đang đậu ngay ngắn trên đường và binh sĩ vẫn đang ngủ say.[97] Đến lúc này, Sư đoàn Thiết giáp 7 đã cơ bản đánh sụm Tập đoàn quân 9 của Pháp,[96] mở thông đường qua tuyến Sambre-Oise tại Landrecies mà phía Pháp muốn giữ bằng mọi giá.[98]

Cuộc tấn công thọc sâu về eo biển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc đột phá sớm về phía tây mà không chờ bộ binh khiến cho các Quân đoàn Thiết giáp Đức có nguy cơ bị cắt rời khỏi hậu tuyến. Hơn thế nữa, sau hơn một tuần liên tục hành quân và chiến đấu, lực lượng đã mệt mỏi, nhiên liệu, đạn dược đang cạn và nhiều xe tăng đã hư hỏng. Tình trạng này cũng rõ ràng đối với Đồng Minh, thế nhưng họ không làm gì được.[99]

Sự bất lực của Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng Char B1 của Pháp

Các lãnh đạo Pháp, bất ngờ và choáng váng, đã bị đánh bại về tâm lí. Sáng ngày 15 tháng 5 Thủ tướng Pháp Paul Reynaud gọi điện cho Thủ tướng Anh Winston Churchill và nói "Chúng ta đã bị đánh bại. Chúng ta đã quỵ; chúng ta đã vỡ trận."[100] Hôm sau, Churchill bay tới Paris và bị sốc khi hỏi Gamelin về quân dự bị thì nhận được câu trả lời là "Chẳng còn gì".[101] Khi Churchill hỏi về kế hoạch phản công thì Gamelin trả lời ngắn gọn rằng "kém về số lượng, kém về trang bị, kém về phương pháp"'.[101]

Đó cũng là thực tế. Vào ngày 11 tháng 5, sau khi tung 6 sư đoàn vào tăng cường cho mặt trận Sedan[75] thì lực lượng tổng dự bị của Pháp chỉ còn Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 2. Nhưng sư đoàn loại này lại được cấu trúc cho nhiệm vụ hỗ trợ công kiên mà không thể tác chiến độc lập vì thiếu bộ binh cơ giới hóa cơ hữu.[102] Hầu hết xe tăng của sư đoàn là loại Char B1 bis - nặng nề và cần tiếp liệu 2 lần mỗi ngày - khiến cho việc triển khai rất chậm. Khi được chuyển tới Hirson vào ngày 15 tháng 5 bằng tàu hỏa, chỉ riêng việc đưa xe tăng xuống tàu đã mất quá nhiều thời gian, nên Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 2 chỉ triển khai lực lượng từng phần, dẫn đến đội hình bị rải mỏng, đánh mất ảnh hưởng chiến lược trên chiến trường.[94]

Các sư đoàn tinh nhuệ nhất lại đang ở phía bắc, nhưng cũng đang bị Cụm Tập đoàn quân B Đức đe dọa cắt rời nên chỉ có thể co cụm về tuyến sông Escaut.[94] Trong lúc này, Pháp chỉ có thể chờ đợi vào Tập đoàn quân số 7 mới đang được thành lập bằng các sư đoàn rút ra từ vùng Alsace-Lorraine và phòng tuyến Maginot. Thế nhưng một mặt việc tập hợp quân tốn thời gian, một mặt khác các lãnh đạo Quân đội Pháp lại do dự không biết nên tập trung quân để chặn mũi thiết giáp của Đức, hay nên rải dọc hành lang tiến quân của Đức để bảo vệ Paris.[94]

Nỗ lực duy nhất trong thời gian đó là của Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 4 dưới quyền của Đại tá Charles de Gaulle. Sư đoàn mới được thành lập vội, nhưng vẫn cố gắng mở một cuộc phản công từ phía nam vào Montcornet và giành được một thắng lợi nhỏ, không làm suy suyển đến cục diện chung.[103]

Cuộc đua ra eo biển của quân Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình chiến sự từ ngày 16 đến 21 tháng 5 năm 1940

Chiều tối ngày 16 tháng 5, việc chống thượng lệnh của cả Guderian lẫn Rommel đều trở thành công khai khi Quân đoàn của Guderian đã đến Male, cách Sedan 80 km, còn Sư đoàn của Rommel đã vượt sông Sambre ở Le Cateau, cách Dinant 100 km. Đến đây, theo lệnh của đích thân Hitler, cả hai mũi tiến quân mới tạm dừng để nghỉ ngơi, tiếp liệu và sửa chữa xe tăng.[104]

Lúc này thì Đồng Minh không còn làm được gì để đe dọa các quân đoàn thiết giáp Đức, cũng chẳng biết cách nào để thoát khỏi mối đe dọa của chúng. Tối ngày 16 tháng 5, Đồng Minh rút bỏ tuyến Dyle về bờ sông Escaut ở phía bắc và phơi sườn ra trước các Sư đoàn Thiết giáp số 3 và 4. Động thái này khiến OKH tự tin rằng Đồng Minh cũng không có khả năng đe doạ nghiêm trọng đến sườn Nam của mũi chủ công,[105] nên tiếp tục án binh bất động nghĩa là để cho Đồng Minh có cơ hội tổ chức phòng ngự hoặc chạy thoát.

Vào sáng ngày 18 tháng 5, các quân đoàn thiết giáp Đức được lệnh khởi động lại cuộc hành quân.[106] Trong khi Rommel chỉ giả vờ tấn công vào Cambrai đã lấy được thành phố thật, thì các sư đoàn của Guderian vượt sông Somme trước buổi trưa, còn Quân đoàn Thiết giáp 41 của Reinhardt đè bẹp tàn quân của Sư đoàn Thiết giáp số 2, chiếm Sở Chỉ huy Tập đoàn quân 9.[106] Ngày 20 tháng 5, Quân đoàn của Guderian đã xóa sổ 2 Sư đoàn Nội địa số 18 và 23 vừa thiếu vừa yếu của Anh, lần lượt chiếm Amiens, Abbeville và kiểm soát cây cầu ở cực Tây trên sông Somme. Tối hôm ấy, một đơn vị trinh sát thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 đã tới được bờ biển Noyelles.[107] Kể từ lúc này, Quân đội Bỉ, B.E.F. và 3 Tập đoàn quân Pháp đã bị cô lập ở phía bắc.[108]

Cuộc đua ra eo biển của các quân đoàn thiết giáp có sự chi viện hiệu quả của 2 Phi đoàn Hỗ trợ Mặt đất số 2 và 77 thuộc Quân đoàn Không quân ném bom số 8. Được gọi là "thời khắc vàng" của Stuka, các phi đoàn này nhanh chóng đáp ứng mọi yêu cầu hỏa lực qua một hệ thống thông tin radio hai chiều thông suốt, chặn đánh các cuộc đột kích dọc sườn quân Đức, dập tắt các hỏa điểm kiên cố, phá hoại hậu tuyến của Đồng Minh[109] và dọn đường sẵn cho các sư đoàn thiết giáp.

Kế hoạch phản công của Weygand[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình chiến sự từ ngày 21/5 đến ngày 4/6

Sáng ngày 19 tháng 5, Maurice Gamelin ra lệnh cho lực lượng Đồng Minh bị mắc kẹt tại Bỉ và Bắc Pháp đánh xuống phía nam để nối với Tập đoàn quân 7 mới đánh từ sông Somme lên phía bắc. Thế nhưng tướng Maxime Weygand, người được chỉ định thay thế Gamelin từ tối cùng ngày, vào hôm sau đã huỷ bỏ lệnh để bay sang Ypres bàn bạc thêm với các chỉ huy Đồng Minh ở Bỉ.[110] Kết quả là Weygand để lãng phí 3 ngày chỉ để đổi tên Gamelin thành Weygand trong mệnh lệnh.[111]

Theo Weygand thì kế hoạch này có vẻ khả thi: Quân Bỉ sẽ gánh chiến tuyến để B.E.F và Tập đoàn quân 1 Pháp thực hiện cuộc phản công phía bắc,[112] còn Tập đoàn quân 7 có từ 18-20 sư đoàn đánh lên từ phía nam.[113] Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn khác khi Vua Bỉ Leopold III đã mất ý chí,[112] còn Tập đoàn quân 7 chỉ có vỏn vẹn 6 sư đoàn đang rải mỏng trên chiến tuyến dài 105 km dọc theo hành lang tiến quân của Đức.[113]

Vào lúc nguy cấp, Đồng Minh lại nảy sinh mâu thuẫn. Ngày 19 tháng 5, tướng Ironside, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia Anh, bay sang Bỉ yêu cầu Gort phối hợp với quân Pháp tấn công Amiens, thì Gort cho biết 7 trong số 9 sư đoàn Anh đang bị ghim giữ ở bờ sông Escaut.[107] Được Gort báo cáo là không nhận được mệnh lệnh nào từ tướng Billotte trong suốt 8 ngày, thì Ironside đến gặp Billotte tại Bộ Tư lệnh và nổi nóng khi nhận thấy rằng ông ta không thể dứt khoát được việc gì nữa.[107] Trong tình hình đó, Ironside phải đóng vai trò chỉ đạo phối hợp.

Ngày 21 tháng 5, một cụm quân B.E.F gồm 2 tiểu đoàn bộ binh và một lữ đoàn xe tăng dưới quyền của Thiếu tướng Harold Edward Franklyn có phối hợp của 2 tiểu đoàn Pháp cố gắng chặn mũi tấn công của Đức ở Arras.[114] Trong trận đánh, giáp dày của xe tăng Matilda II Anh đã vô hiệu hóa pháo chống tăng 37mm Đức, khiến Rommel phải dùng pháo phòng không 88mm hạ nòng trực xạ để chặn cuộc tập kích sau khi đã để mất một số xe cơ giới và 400 quân.[115] Nhưng thành công đến đó là hết, vì ngay tối hôm đó thì Sư đoàn Cơ giới hóa SS Totenkopf đã kịp đến tăng viện, đẩy lùi nỗ lực của quân Anh.[115]

Ngày 27 tháng 5, cuộc phản công được trông chờ từ phía nam cũng xảy ra, nhưng 2 sư đoàn bộ binh Pháp được một ít xe tăng yểm trợ không đủ sức lấy lại Amiens.[116] Ngày hôm sau, Sư đoàn Thiết giáp Dự bị số 4 của de Gaulle được hỗ trợ của Sư đoàn Sơn cước 51 Anh cố gắng tấn công Abbeville một lần nữa nhưng không làm được gì hơn.[116]

Nhưng cho dù cánh quân Nam có chiếm được Abbeville thì cũng không cứu nổi cục diện phía bắc, vì vào lúc này Quân đoàn Thiết giáp 19 của Guderian đã tấn công các cảng biển nằm sau lưng chủ lực Đồng Minh.

Cuộc sơ tán ở phía bắc của B.E.F.[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ tán dưới mưa bom ở Dunkirk

Ngày 23 tháng 5, tướng Gort rút quân khỏi Arras để tránh bị bao vây. Quyết định này bị Weygand diễn dịch là "bỏ chạy" và dẫn tới sự bất đồng giữa hai bên. Qua ngày 25, mặc dù được London chỉ thị phải hợp tác với Pháp thực hiện kế hoạch Weygand, nhưng Gort tự quyết định đưa quân lên phía bắc gánh chiến tuyến của quân Bỉ đang vỡ để giữ đường rút ra Dunkirk, cảng duy nhất chưa bị chiếm.[117]

Ngay trong ngày 23 tháng 5, Boulogne bị Sư đoàn Thiết giáp số 2 Đức tấn công. Chỉ sau 2 ngày, lực lượng Anh giữ Boulogne buộc phải đầu hàng[118] mà chỉ sơ tán kịp 4.368 binh sĩ. Ngày 24 tháng 5, đến lượt Calais bị Sư đoàn Thiết giáp số 10 tấn công. Trước đó 24 giờ, Anh đã gấp rút đổ bộ 1 trung đoàn xe tăng và 1 lữ đoàn bộ binh mô tô hóa tăng viện, nhưng cũng chỉ giữ được thành phố đến khoảng 4 giờ chiều 26 tháng 5.[118]

Dunkirk thì Sư đoàn Thiết giáp số 1 Đức đã sẵn sàng tấn công vào ngày 25 tháng 5, nhưng phải dừng lại theo mệnh lệnh của đích thân Hitler.[119] Nguyên do là Hermann Göring đã khẳng định với Hitler rằng Luftwaffe có thể phong tỏa được cuộc sơ tán trong khi von Rundstedt cảnh báo rằng các sư đoàn thiết giáp đã quá căng sức.[120] Hitler đồng ý với von Rundstedt bất chấp phản đối của các thành viên khác ở Tổng Hành dinh như Halder và von Brauchitsch, và mệnh lệnh này trở thành một trong những quyết định gây tranh cãi nhất của toàn cuộc chiến.[119]

Thời gian quý giá nhờ lệnh dừng của Hitler đã giúp B.E.F kịp rút về Dunkirk và lập được đai chặn hậu, đồng thời giúp cho Hải quân Hoàng gia Anh tập hợp đủ tàu bè và máy bay.[121] Chiến dịch giải cứu bắt đầu từ ngày 26 tháng 5 đã diễn ra dưới mưa bom của Luftwaffe. Trong 9 ngày của chiến dịch, hơn 850 lượt tàu thuyền lớn nhỏ đủ loại được huy động, sơ tán được 224.320 binh sĩ Anh và 139.097 binh sĩ Pháp,[122] với phần lớn binh sĩ Pháp được trả về miền Nam Pháp sau đó.

Cuộc sơ tán diễn ra không dễ dàng. Ở trên không, chỉ nhờ gần căn cứ hơn mà toàn bộ các phi đội tiêm kích của Anh đã thực hiện được 2.739 lượt xuất kích[123] so với 1.997 của Luftwaffe, mất 177 máy bay để góp phần lớn trong tổng cộng 240 máy bay Đức bị hạ trong chiến dịch,[124] hạn chế thiệt hại ở mức 89 tàu hàng bị đánh đắm, 6 tàu khu trục của Hải quân Anh và 2 của Hải quân Pháp bị chìm.[125] Ở trên bộ, việc vua Bỉ Leopol III đầu hàng vào ngày 27 tháng 5 khiến cho Dunkirk nhanh chóng bị bao vây từ phía bắc, phải nhờ đến tinh thần chiến đấu dũng cảm của các đơn vị chặn hậu, trong đó có 2 sư đoàn Pháp, mới giữ được thành phố và khu cảng cho đến ngày 4 tháng 6.[126]

Tháng 6: Kế hoạch đỏ, nước Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Khó khăn của Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đội quân tinh nhuệ được trang bị hiện đại nhất của Pháp ở phía bắc đã bị loại khỏi vòng chiến; Pháp cũng đã mất 3 trong 4 sư đoàn thiết giáp dự bị. Giờ đây, đối chọi với 143 sư đoàn Đức trong đó có 10 sư đoàn thiết giáp, thì Weygand chỉ có 60 sư đoàn (hầu hết là hạng B) được hối hả rút ra mặt trận Tây và tây nam, cộng với tàn quân sơ tán từ phía bắc gấp rút lắp ghép lại để rải dọc sông Somme nối với sông Aisne dài tới gần 400 km.[127]

Trong tình thế quân lực Pháp đã suy yếu thì Anh chỉ còn lại hơn 1 sư đoàn ở miền Nam Pháp cộng thêm 2 sư đoàn mới được đổ xuống trong thời gian cuộc sơ tán đang diễn ra.[128] Anh cũng từ chối gửi thêm máy bay tiêm kích đến đất Pháp để cứu vãn cuộc chiến với lý do Không quân chiến đấu của Anh đã giảm xuống dưới 25 phi đội, chỉ đủ để bảo vệ nước Anh.[129]

Trong hoàn cảnh đó, Weygand cùng với ban lãnh đạo Quân đội Pháp cũng hiểu "tuyến Weygand" là một canh bạc tuyệt vọng.[127] Vì thế, trong khi kêu gọi binh lính tử chiến thì ông ta lại ngầm tìm cách cho nước Pháp được đàm phán riêng rẽ, thậm chí tự mình phác thảo ra các hoạt động nhằm mang lại một nền "hòa bình riêng".[130]

Cuộc tấn công mới của Đức và sự sụp đổ của Paris[sửa | sửa mã nguồn]

Case Rot của Đức trong tháng 6.
Quân Đức diễu hành chiến thắng tại Khải Hoàn Môn ngày 14 tháng 6.

Trong khi trận Dunkirk chưa kết thúc thì các Sư đoàn Thiết giáp Đức đã được rút ra, bổ sung lực lượng.[131] Ngay sau khi hoàn thành Kế hoạch Vàng, thì ngày 5 tháng 6 năm 1940, Cụm Tập đoàn quân B của von Bock mở màn cuộc tấn công về phía nam dọc theo sông Somme với 6 sư đoàn của Cụm Thiết giáp Kleist chia làm 2 mũi: một mũi đánh dọc theo bờ biển phía tây, một mũi hướng đến bờ biển Địa Trung Hải[132]. Nhờ đã chiếm giữ các đầu cầu qua sông Somme ở Abbeville, Amiens và Peronne trước đó,[133] nên các mũi tấn công của von Bock đã đột phá phòng tuyến Pháp theo một kịch bản gần giống nhau: Quân Pháp cầm cự được trong ngày đầu tiên, rút lui một phần vào ngày thứ hai và tan vỡ trong ngày thứ ba.[134] Lực lượng vừa yếu vừa thiếu của Weygand nhanh chóng bị đè bẹp, và đến ngày 10 tháng 6 chính phủ Pháp bỏ chạy về Bordeaux, tuyên bố bỏ ngỏ Paris.[135] Ngày 14 tháng 6, Quân đội Đức Quốc xã đã lấy được Paris, chiến lợi phẩm đã vuột mất trong trận sông Marne lần thứ nhất.

Ngày 9 tháng 6, Cụm Tập đoàn quân A của von Rundstedt gia nhập chiến dịch và nổ súng đột phá phòng tuyến Pháp dọc sông Aisne. Chỉ sau 1 ngày, mũi thiết giáp gồm 4 sư đoàn của Guderian[ct 9] đã lập được đầu cầu bên sông Aisne.[137] Ngày 12 tháng 6, cụm thiết giáp của Guderian để lại các điểm đề kháng cho bộ binh và cấp tốc vượt sông Marne thọc sâu đánh dọc lưng chiến tuyến Maginot, bao vây Cụm Tập đoàn quân số 2 Pháp,[138] trong khi Cụm Tập đoàn quân C của tướng Leeb nổ súng để ghim giữ lực lượng Pháp đồn trú ở đây. Ngày 16 tháng 6, các sư đoàn thiết giáp của Guderian đã tới Besançon, hoàn toàn cắt rời Cụm Tập đoàn quân số 2,[139] đánh dấu kết cục an bài cho chiến dịch mặc dù phần lớn binh sĩ Pháp ở đây chỉ đầu hàng sau khi Hiệp ước đình chiến được ký.[ct 10]

Chiến thắng của Không quân Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian này, chiến sự trên không cũng nguy cấp không kém trên bộ. Trong tình thế tuyệt vọng, Không quân Pháp đã hết sức nỗ lực để thực hiện những chiến dịch không kích lớn, như chiến dịch Paula từ ngày 5 đến ngày 9 tháng 6 có tới 1.815 lượt xuất kích, trong đó có 518 lượt của máy bay ném bom. Tuy nhiên, trước ưu thế tuyệt đối của Không quân Đức, Không quân Pháp đã bị tổn thất ở mức độ không thể thay thế được, dẫn tới bờ vực sụp đổ.[141] Không quân Hoàng gia Anh cũng cố gắng đỡ đòn cho Pháp từ các căn cứ ở nước Anh, thực hiện được 660 phi vụ tấn công các mục tiêu ở vùng Dunkirk nhưng cũng bị tổn thất nặng nề; tính riêng trong ngày 21 tháng 6 đã mất 37 máy bay Bristol Blenheim.[142]

Sau ngày 9 tháng 6, sự kháng cự trên không của Pháp hầu như đã bị dập tắt, các máy bay còn khả năng chiến đấu đã rút chạy sang Bắc Phi thuộc Pháp. Không quân Đức giờ không còn ai thách thức đã tự do không kích phòng tuyến Pháp, hỗ trợ hỏa lực để các mũi thiết giáp hoàn thành nhiệm vụ đột phá sau đó.[142]

Trong toàn cuộc chiến, ước tính Pháp mất 1.274 máy bay, Anh mất 959 chiếc (trong đó có 477 tiêm kích).[11] Đổi lại, tính chung cả chiến dịch thì Không quân Đức cũng bị mất 28% lực lượng, tức là khoảng 1.428 máy bay (1.129 bị bắn rơi, 299 do tai nạn). Ngoài ra 488 máy bay bị hư hỏng (225 là do đối phương, 263 do tai nạn), nâng tổng số thiệt hại của Đức lên đến 36%.[7][11] Tuy nhiên, toàn bộ chiến dịch là một trận thắng tuyệt đối của Không quân Đức khi đã huỷ diệt Armée de l'Air và 2 Không lực nhỏ của Bỉ và Hà Lan, ngoài ra còn gây thiệt hại nặng cho Không quân Hoàng gia Anh. Với thành tích này, Thống chế Hermann Göring - Tư lệnh Không quân Đức - đã được trao thưởng Huân chương Chữ thập sắt Kỵ sĩ.

Ý tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ý xâm chiếm Pháp

Theo lời mời của Hitler, Mussolini đã đồng ý sẽ tấn công Pháp ngày 5 tháng 6, nhưng cuối cùng lại hoãn đến ngày 10 tháng 6 mới tuyên chiến với Anh và Pháp.[129] Cuộc tấn công của Ý vào thời điểm này được mô tả như một hành động "đâm sau lưng" nước Pháp.[143] Tuy nhiên, sức mạnh quân sự Ý được khoa trương qua lời của Mussolini đã bộc lộ sự thật khi sau một tuần lễ tham chiến, khoảng 32 sư đoàn Ý hầu như không tiến được bước nào trước 6 sư đoàn Pháp, mặc dù các sư đoàn này đang bị quân Đức đe dọa từ sau lưng.[144]

Trong khi đó, tâm lý chiến bại của ban lãnh đạo Pháp đã ngăn cản các hành động đáp trả. Thủ tướng Pháp Paul Reynaud đã kêu gọi Hạm đội Pháp tấn công cảng Genova ngay sau khi Ý tham chiến, nhưng chỉ có một chi hạm đội tiến hành trong ngày 14 tháng 6, và Đô đốc Hải quân Darlan đã ngăn cản mọi hành động khác.[144] Cố gắng sau đó của Không quân Hoàng gia Anh nhằm tấn công các mục tiêu ở MilanTurin từ sân bay Marseille cũng bị Darlan ngăn chặn bằng cách cho đặt xe tải chặn đường băng cất cánh.[144]

Mặc dù có tham vọng nhân cơ hội lấn lãnh thổ Pháp càng nhiều càng tốt và đặc biệt là chiếm lấy Hạm đội Pháp, nhưng kết quả nghèo nàn của Quân đội Ý khiến tiếng nói của Mussolini không có nhiều trọng lượng.[144] Đề nghị được cùng Hitler ký chung Hiệp định đình chiến với Pháp bị từ chối vì Hitler không muốn san sẻ vinh quang chiến thắng.[145]

Cuộc sơ tán phía nam của B.E.F.[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài lực lượng ở phía bắc Pháp, thì B.E.F còn Sư đoàn Sơn cước số 51 và một phần Sư đoàn Thiết giáp số 1 ở Nam sông Somme và các đơn vị hậu tuyến ở các cảng căn cứ ở miền Nam nước Pháp. Trong khi cuộc sơ tán phía bắc đang diễn ra, thì Churchill cho rằng Anh vẫn có nghĩa vụ hỗ trợ Pháp, do đó đổ tiếp Sư đoàn Sơn cước số 52 và Sư đoàn Canada số 1 xuống cảng Cherbourg, tất cả đặt dưới quyền của tướng Alan Brooke.

Vào tối ngày 14 tháng 6, sau khi Paris bị chiếm đóng, tướng Alan gọi điện cho Churchill yêu cầu sơ tán trước khi quá muộn. Churchill đồng ý và chiến dịch sơ tán bắt đầu từ hôm sau cho đến 25 tháng 6. Trong chiến dịch, tổng cộng 144.171 quân nhân Anh, 18.246 Pháp, 24.352 Ba Lan, 4.938 Tiệp Khắc và 163 Bỉ đã được sơ tán thành công.[146] Riêng một số đơn vị của Sư đoàn Sơn cước 51 tập kết tại Saint-Valery-en-Caux buộc phải đầu hàng vào ngày 11 tháng 6 do quân Đức đã khống chế các cao điểm quanh thành phố.[147] Trong chiến dịch này, Luftwaffe hoạt động tương đối hạn chế nên chỉ đánh đắm được 1 chiếc tàu chở khách RMS Lancastria ngoài khơi St Nazaire, nhưng lại gây tổn thất lớn về người khi 3.000 trên số 5.800 quân nhân trên tàu thiệt mạng.[148]

Đầu hàng và đình chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Hitler cùng Göring trước lễ ký hiệp định tại Compiègne.

Thất bại quân sự của Pháp dẫn tới khủng hoảng chính trị. Một số chính khách muốn thừa nhận thất bại và cầu hòa, trong khi một số khác muốn dựa vào thuộc địa ở Bắc Phi để tiếp tục chiến tranh theo cam kết với Đồng Minh.

Trong lúc này, chính phủ Anh cũng cố gắng giữ Pháp tiếp tục cuộc chiến bằng đề nghị hợp nhất hai quốc gia vào làm một.[149] Tuy nhiên khuynh hướng đầu hàng được tướng Weygand, Thống chế Pétain, Pierre Laval và Đô đốc Darlan ủng hộ đã chiến thắng, dẫn tới những phản ứng thù địch với đề nghị của Anh trong chính phủ.[149] Cho rằng đa số thành viên chính phủ không còn ủng hộ mình, nên Thủ tướng Paul Reynaud, người chủ trương tiếp tục chiến tranh, đã từ chức ngày 16 tháng 6 năm 1940.[149] Thống chế Philippe Pétain lên kế nhiệm đã bác bỏ đề nghị của Anh.

Ngày 17 tháng 6, Pétain gửi đề nghị cầu hòa qua Đại sứ Tây Ban Nha. Nhận được đề nghị, Hitler đã chọn rừng Compiègne - nơi ký kết hiệp đình chiến năm 1918 kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất với thất bại nhục nhã của Đức - làm địa điểm đàm phán. Vào ngày 22 tháng 6, trong đúng toa xe lửa cũ được đưa từ viện bảo tàng đến đúng nơi đã nằm năm 1918,[150] Hitler ngồi vào đúng tại chiếc ghế mà thống chế Ferdinand Foch đã ngồi trước đại diện của nước Đức chiến bại.[151] Sau khi nghe đọc nghi thức, Hitler đã rời toa xe trong một cử chỉ miệt thị có tính toán trước, để cuộc đàm phán lại cho tướng Wilhelm Keitel.[151]

Ngày 24 tháng 6 năm 1940, Pháp cũng phải ký một hiệp định đình chiến với Ý. Thời điểm hiệu lực của cả hai hiệp định đều bắt đầu 6 tiếng đồng hồ sau khi hiệp định thứ hai được ký kết, tức là lúc 0h35 ngày 25 tháng 6 năm 1940.[152] Trước thời hạn đó, quân Đức vẫn tranh thủ mở rộng vùng chiếm đóng trên lãnh thổ Pháp cùng với Quần đảo Eo biển của Anh.

Kết quả và các hệ lụy[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Pháp sau ngày 25 tháng 6 năm 1940.

Nước Pháp bị chia cắt[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ còn lại lá bài duy nhất là khả năng chuyển Hạm đội Pháp và các thuộc địa cho Đồng Minh, chính phủ Petain phải bằng lòng với phần lãnh thổ không bị chiếm đóng ở phía nam và dời đô đến thành phố nghỉ dưỡng Vichy sau đó.[153] Trong khi Ý chỉ được một phần nhỏ ở Đông Nam thì Đức chiếm đóng phần lớn lãnh thổ Pháp chạy từ ven biển Đại Tây Dương qua Bắc Pháp đến Alsace.[153] Trong khu vực chiếm đóng này, Alsace được sát nhập trở lại vào Đức, vùng Lorraine được dự tính tái định cư cho người Đức để đẩy biên giới Pháp về lại tuyến năm 1540, còn vùng bãi biển Flanders ở Bắc Pháp được cắt làm căn cứ quân sự cho các hoạt động chống lại Anh.[154]

Mặc dù Hiệp định đảm bảo chủ quyền của Pháp các thuộc địa,[155] nhưng khi Charles de Gaulle đưa ra lời kêu gọi ngày 18 tháng 6 phủ nhận tính hợp pháp của chính phủ Vichy và thành lập Chính phủ lưu vong Nước Pháp tự do, thì một số thuộc địa như Guyane thuộc Pháp, Châu Phi xích đạo thuộc Pháp đã từ bỏ chính phủ Vichy để công nhận de Gaulle.

Thúc đẩy chiến tranh lan rộng toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ở nước Đức, chiến thắng ở phía tây đã đưa Hitler đã đạt được đỉnh cao quyền lực ở vị trí chủ nhân của châu Âu lục địa, biển Baltic và vịnh Biscay.[156] Uy tín trong dân chúng Đức đối với ông đã lên đỉnh điểm.[157] Bản thân Hitler cũng tự cho mình là một thiên tài quân sự không thể thất bại,[158] và tự tin tiếp tục cuộc phiêu lưu chiến tranh.

Trong khi đó, thất bại của Pháp khiến cho cán cân sức mạnh quốc tế bị nghiêng lệch, hút theo các quốc gia chưa tham chiến vào vùng xoáy.[158] Ở Liên Xô, Stalin ngay lập tức ra lệnh sát nhập các nước vùng Baltic vào ngày 15 và 16 tháng 6 để củng cố phòng ngự cho khu vực Leningrad, tiến chiếm vùng Bessarabia và Bukovina của Rumania vào ngày 26 tháng 6 để kiểm soát cửa sông Danube và Biển Đen.[159] Những hành động này làm Hitler lo lắng, thúc đẩy ý định tấn công Liên Xô sớm nhất có thể, dẫn tới cuộc xâm lược Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941.[159]

Ở khu vực Địa Trung Hải, tuy hành động cơ hội của Ý chỉ giúp lấy được một vùng nhỏ ở Pháp, nhưng lại đặt Anh vào vị trí đối địch trực tiếp mà không còn Hạm đội Pháp giúp sức. Vì thế, Anh phải điều một phần lớn Hải quân đến đây, chấp nhận bỏ trống các khu vực quyền lợi ở Châu Á như Singapore và Hồng Kông.[158] Sự suy giảm sức mạnh của Anh ở châu lục này cùng với khoảng trống quyền lực của Pháp ở Đông Dương đã tạo cơ hội bành trướng cho Nhật Bản. Đây chính là tiền đề để Nhật Bản xích lại gần hơn với Đức, Ý trong Hiệp ước Liên minh khối Trục tháng 9 năm 1940, dẫn tới cuộc tấn công Trân Châu Cảng hơn một năm sau đó và kéo theo Hoa Kỳ tham chiến.[159]

Thương vong và thiệt hại[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với hầu hết các nước tham chiến, thiệt hại về mặt quân sự được biết đến là:[160]

  • Bỉ: 7.500 chết, 15.850 người bị thương;
  • Hà Lan: 2.890 chết, 6.889 bị thương;
  • Anh: 3.458 chết, 13.602 bị thương, 48.052 mất tích và bị bắt (trong đó có 45.000 tù binh tại Dunkirk);
  • Đức: 27.074 người chết, 111.034 bị thương, 18.384 mất tích hay bị bắt.[161] Theo nguồn của sử gia Đức Karl Heinz Frieser công bố về sau, thì có khoảng 49.000 quân Đức tử trận và 150.000 bị thương, tổng cộng gần 200.000 người,[162] tuy không có nguồn đối chứng xác nhận.

Con số thương vong của Quân đội Pháp không được nghiên cứu chính xác và thống nhất giữa các nguồn. Các con số ước tính của các sử gia khác nhau: chết từ 55.000 đến 123.000 người, và bị thương từ 120.000 đến 250.000 người.[163] Một số nhà nhà sử học ước lượng khoảng 39.000 chết trong khi bị giam cầm và 5.200 mất tích.[164] Con số ước tính 120.000 người chết đã bao gồm 21.000 thường dân[165] và những thương vong của quân đội Vichy cho đến ngày 1 tháng 11 năm 1943.

Theo nguồn Ban Lịch sử Quốc phòng Pháp thì có 85.310 người chết (trong đó có 5.400 lính Maghreb), 12.000 mất tích, 120.000 bị thương và 1.540.000 bị bắt (trong đó có 67.400 lính Maghreb).[166] Ước lượng của sử gia Jean-Jacques Arzalier là từ 50.000 đến 90.000 binh lính tử trận và 123.000 người bị thương,[166] và 1.800.000 binh sĩ Pháp bị bắt. Trong tháng 8 năm 1940, 1.575.000 tù binh đã bị đưa sang Đức và ước tính chỉ có 940.000 người được Đồng Minh giải thoát năm 1945. Trong thời gian bị giam cầm ở Đức, 24.600 tù binh chết, 71.000 người trốn thoát, 220.000 được phóng thích theo nhiều thoả thuận khác nhau giữa chính phủ Vichy với Đức và vài trăm nghìn người khác được tha bổng bởi lí do ốm yếu tàn tật.[167] Hầu hết tù binh trong thời gian giam giữ đều bị cưỡng bức lao động.

Ngoài thương vong, thiệt hại tài sản quân sự cũng rất lớn:

  • Quân đội Anh phải bỏ lại tất cả vũ khí, trang thiết bị nặng tại Dunkirk;[168] Không quân Hoàng gia Anh mất hơn 1.000 máy bay[168]
  • Quân đội Pháp mất tất cả vũ khí, trang thiết bị nặng đã cấp phát.[169] Tuy Hải quân Pháp tạm giữ được Hạm đội nhưng phải giải trừ vũ khí và giam trong cảng Toulon cho đến khi phải tự phá hủy các tàu chiến 1 năm sau đó, lúc Hitler phá bỏ cam kết.[170]

Về phía Đức, Quân đội mất 714 xe tăng, trong đó có 428 loại Panzer I và Panzer II, Không quân mất 1.236 máy bay và 323 chiếc bị hư hại.[162]

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian chiến sự lẫn ngay sau khi ngừng bắn đã có nhiều tội ác chiến tranh xảy ra đối với thường dân và tù binh. Ngoài các nạn nhân của cuộc ném bom Rotterdam ngày 14 tháng 5[ct 11] thì ngày 27 tháng 5 năm 1940, quân Đức đã tiến hành cuộc thảm sát tại Vinkt, Bỉ, giết hại hơn 130 dân thường. Trong ngày hôm sau tại OigniesCourrières, 114 dân thường đã bị sát hại bởi lính không chính quy Đức.[172] Cùng ngày, Trung đoàn Leibstandarte SS Adolf Hitler đã sát hại từ 80 - 97 lính Anh và Pháp trong cuộc thảm sát Wormhout. Sư đoàn SS Totenkopf cũng chịu trách nhiệm giết hại hàng loạt tù binh chiến tranh, chẳng hạn như 99 lính Anh trong vụ thảm sát Le Paradis, hay tù binh da đen châu Phi trong các vụ khác. Ước tính khoảng 1.500-3.000 binh sĩ thuộc địa trong Quân đội Pháp đã bị giết sau khi rơi vào tay quân Đức ở thời kỳ cuối của trận đánh.[173]

Ngoài các vụ thảm sát, sử gia Raul Hilberg và một số tác giả khác cáo buộc rằng Bộ Tư lệnh Tối cao Các Lực lượng Vũ trang Đức (OKW) đã ban hành một số mệnh lệnh trái luật pháp quốc tế trong tháng 6 năm 1940, trong đó có lệnh cô lập và giết hại người Do Thái gốc Đức phục vụ trong Quân đội Pháp.[174][175]

Sử học[sửa | sửa mã nguồn]

"Trận chiến nước Pháp" là một thất bại nhục nhã nhất trong lịch sử nước Pháp, và tiếp tục ám ảnh người dân Pháp trong nhiều thập kỷ.[176] Ngay sau chiến tranh, tác phẩm "Thất bại xa lạ" (Étrange Défaite) của sử gia Marc Bloch, đồng thời là một chứng nhân trong vai trò người lính của Tập đoàn quân số 1, có nhiều ảnh hưởng.[177] Trong tác phẩm, ông cho rằng thất bại của Pháp không chỉ đến từ chiến lược sai, mà bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa hơn. Ông chỉ trích sự bất lực của giới chính trị và tướng lĩnh, các điểm yếu tư duy của mọi giới trong xã hội, từ trí thức, giáo viên cho tới công nhân, qua đó quy lỗi cho thất bại là sự xơ cứng về ý thức xã hội.[178]

Tháng 8 năm 1946, Quốc hội Pháp thành lập một ủy ban điều tra nguyên nhân thất bại, tuy nhiên, trách nhiệm chưa hoàn thành thì đến năm 1951, Quốc hội cũ hết nhiệm kỳ còn Quốc hội mới không duy trì tiếp Ủy ban.[179] Vì thế, công việc khảo cứu quay trở lại với các cá nhân, nhất là các sử gia Anh và Mỹ.

Cuối những năm 1960, vấn đề lại được lật lại trong 3 tác phẩm lớn: Tại sao nước Pháp sụp đổ của Guy Chapman (Why France Collapsed, 1968); Thua trận: nước Pháp 1940 của Alistair Horne (To Lose a Battle: France 1940, 1969) và Sự sụp đổ của Đệ Tam Cộng hòa: nghiên cứu về sự thất thủ của nước Pháp năm 1940 của William Shirer (The Collapse of the Third Republic: An Inquiry into the Fall of France in 1940, 1969).[180] Hai tác phẩm sau có chung quan điểm với Marc Bloch, cho rằng thất bại của nước Pháp không chỉ riêng trách nhiệm của giới quân sự, mà là do "sự sụp đổ của quân đội, của chính phủ lẫn sự khủng hoảng tinh thần của người dân".[180]

Trên góc độ khoa học quân sự, một số sử gia cho rằng nguyên nhân quan trọng là giới lãnh đạo Quân đội Pháp đã không hiểu rõ khía cạnh nghệ thuật chiến dịch,[181] xây dựng một hệ thống chỉ huy tập trung để kiểm soát và tiến hành trận đánh theo mô hình Trận đánh theo phương pháp (Bataille conduite) cứng nhắc từ Thế chiến thứ nhất,[182] bất cập với bản chất linh động của trận đánh hiện đại. Thế nhưng sau khi sử gia người Đức Karl-Heinz Frieser đưa ra quan điểm rằng Blitzkrieg không xuất phát từ nền tảng lý luận quân sự đã xác lập của Đức, mà chỉ là sáng tạo của vài cá nhân trong việc lập kế hoạch lẫn triển khai cuộc tấn công, thì vài sử gia khác, như tác giả Mỹ Ernest May trong tác phẩm Chiến thắng xa lạ: cuộc xâm lăng nước Pháp của Hitler (2000), lại đưa ra quan điểm khác. Căn cứ vào việc Tập đoàn quân số 1 Pháp đã chặn được các đoàn quân thiết giáp Đức, ông cho rằng nguyên nhân chính của thất bại không phải ở tư duy chiến tranh của giới quân sự Pháp mà là sự yếu kém trong chỉ đạo chiến lược.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích & nguồn dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ Vùng đất thấp bao gồm châu thổ sông Rhine, sông Scheldt (tiếng Pháp là Escaut) và một phần phía tây nước Đức.
  2. ^ Tính cả tàu lượn và máy bay vận tải dùng trong cuộc tấn công Hà Lan và Bỉ.
  3. ^ Con số thống kê tử vong cuối cùng có thể lên đến 49.000 người (tính cả số thiệt hại của Luftwaffe và Kriegsmarine), vì cộng thêm những người chết bởi những nguyên nhân không phải do chiến đấu, những người bị thương nặng rồi chết và những người mất tích được xác nhận là đã chết.[3]
  4. ^ Quân Ý tham chiến tại vùng núi Alps thuộc Pháp, nơi mà nhiệt độ thường xuyên ở dưới 0oC.
  5. ^ Tên gọi này được sử dụng lần đầu tiên trong một bài phát biểu trên đài BBC của tướng de Gaulle ngày 18 tháng 6 năm 1940.
  6. ^ Do Breda có mặt trong kế hoạch phòng thủ, nên kế hoạch D thực tế là tuyến Dyle-Breda, còn gọi là tuyến KW (Koningshooikt-Wavre).
  7. ^ Sichelschnitt được giới tướng lĩnh Đức sử dụng theo từ Sickle Cut của Winston Churchill về sau.[49]
  8. ^ Do Đức kiểm soát chiến trường sau trận đánh nên đã thu hồi và sửa chữa lại được khoảng 100 xe tăng bị bắn hỏng.[70]
  9. ^ Để chuẩn bị cho Kế hoạch Đỏ, lực lượng thiết giáp được tổ chức lại và Guderian được bổ nhiệm làm Tư lệnh Cụm Thiết giáp Guderian (Panzergruppe Guderian)[136]
  10. ^ Trên 400.000 binh sĩ Pháp ở túi Vosges được lệnh giải giáp đầu hàng vào ngày 25 tháng 6, nhưng một số pháo đài của phòng tuyến Maginot không chịu buông súng cho đến khi đại diện của Chính phủ Pháp đến tận nơi vào tháng 7 năm 1940.[140]
  11. ^ Theo ghi nhận ban đầu và cũng được chính thức ghi lại trong Encyclopaedia Britannica ấn bản 1953 thì có 25.000 - 30.000 người thiệt mạng, nhưng theo con số do Chính phủ Hà Lan đưa ra tại Tòa án Nuremberg thì chỉ là 814 người.[171]
Nguồn dẫn
  1. ^ a ă â b c d Maier và Falla 1991, trang 279.
  2. ^ a ă Hooton 2007, trang 47-48.
  3. ^ a ă â b Frieser (1995), trang 400
  4. ^ L'Histoire, số 352, tháng 4 năm 2010 France 1940: Autopsie d'une défaite, trang 59.
  5. ^ Shepperd (1990), trang 88
  6. ^ Hooton 2007, trang 73.
  7. ^ a ă â Murray 1983, trang 40.
  8. ^ Healy 2008, trang 85.
  9. ^ Giorgio Bocca, Storia d'Italia nella guerra fascista 1940-1943, Mondadori; trang 161
  10. ^ Arrigo Petacco, La nostra guerra 1940-1945. L'avventura bellica tra bugie e verità, Mondadori; trang 20
  11. ^ a ă â Hooton 2007, trang 90.
  12. ^ a ă â Kershaw 2009, trang 108-110.
  13. ^ Shirer 1960, trang 639.
  14. ^ Shirer 1960, trang 643.
  15. ^ Shirer 1960, trang 633
  16. ^ Jackson 2003, trang 80.
  17. ^ Jackson 2003, trang 108.
  18. ^ Jackson 2003, trang 154, 159.
  19. ^ a ă Irving 2002, trang 50.
  20. ^ Irving 2002, trang 218.
  21. ^ Irving 2002, trang 245.
  22. ^ Irving 2002, trang 247.
  23. ^ a ă â Shirer 1960, trang 715.
  24. ^ Frieser 2005, trang 74.
  25. ^ Frieser 1960, trang 644-645.
  26. ^ Ellis 1954, trang 333.
  27. ^ Jackson 2003, trang 30.
  28. ^ Shirer 1960, trang 718.
  29. ^ a ă Krause & Cody 2006, trang 160.
  30. ^ Bond 1990, trang 43-44.
  31. ^ Frieser 1995, trang 88.
  32. ^ Horne 1971, trang 97.
  33. ^ Krause&Cody 2006, trang 177.
  34. ^ Jackson 2003, trang 25,26.
  35. ^ a ă â Jackson 2003, trang 28.
  36. ^ Bond 1990, trang 28
  37. ^ Jackson 2003, trang 27.
  38. ^ Horne 1971, trang 72.
  39. ^ a ă Gunsburg 1992, trang 208.
  40. ^ Shepperd 1990, trang 29.
  41. ^ a ă Frieser 2005, trang 35.
  42. ^ Frieser 2005, trang 36.
  43. ^ Frieser 2005, trang 36-37.
  44. ^ a ă â Frieser 2005, trang 29.
  45. ^ DiNardo và Bay 1988, trang 131-132.
  46. ^ a ă â Frieser 2005, trang 30.
  47. ^ Hooton 2007, trang 47.
  48. ^ a ă Miquel 1986, trang 62
  49. ^ Frieser 1995, trang 71.
  50. ^ Dear và Foot 2001, trang 316.
  51. ^ Frieser 1995, trang 41.
  52. ^ Jackson 2003, trang 20.
  53. ^ a ă â Jackson 2003, trang 33.
  54. ^ a ă â Overesch & Saal 1991, trang 80.
  55. ^ Weinberg 1995, trang 122
  56. ^ Hooton 2007, trang 49-54.
  57. ^ Horne 1971, trang 132
  58. ^ Hooton 2007, trang 48.
  59. ^ Hooton 2007, trang 52.
  60. ^ Hooton 2007, trang 49
  61. ^ Hooton 2007, trang 50.
  62. ^ a ă Shirer 1960, trang 721-722.
  63. ^ Jackson 2003, trang 37.
  64. ^ Newark 2003, trang 92.
  65. ^ Shirer 1960, trang 723.
  66. ^ Hooton 2007, trang 48
  67. ^ a ă Shirer 1960, trang 725.
  68. ^ Draper 1944, trang 109.
  69. ^ Gunsburg 1992, trang 207–244.
  70. ^ a ă Jackson 2003, trang 38.
  71. ^ Gunsburg 1992, trang 242.
  72. ^ a ă Krause & Cody 2006, trang 171.
  73. ^ a ă â b Shepperd 1990, trang 43.
  74. ^ Frieser 1995, trang 192.
  75. ^ a ă Jackson 2003, trang 42.
  76. ^ Jackson 2003, trang 35.
  77. ^ Shepperd 1990, trang 44,50.
  78. ^ Hooton 2007, trang 64.
  79. ^ a ă Hooton 2007, trang 65.
  80. ^ Weal 1997, trang 46.
  81. ^ Weal 1997, trang 22.
  82. ^ Shepperd 1990, trang 53, 55.
  83. ^ Jackson 2003, trang 164.
  84. ^ Frieser 1995, trang 244.
  85. ^ Jackson 2003, trang 167.
  86. ^ Jackson 2003, trang 48.
  87. ^ Shepperd 1990, trang 58.
  88. ^ Shepperd 1990, trang 62.
  89. ^ Frieser 1995, trang 258.
  90. ^ a ă â Krause&Cody 2006, trang 173, 175.
  91. ^ a ă â Jackson 2003, trang 50.
  92. ^ Shepperd 1990, trang 64.
  93. ^ a ă Shepperd 1990, trang 69.
  94. ^ a ă â b Jackson 2003, trang 54.
  95. ^ Shepperd 1990, trang 66.
  96. ^ a ă Shepperd 1990, trang 67.
  97. ^ Krause&Cody 2006, trang 176.
  98. ^ Shepperd 1990, trang 72.
  99. ^ Jackson 2003, trang 56.
  100. ^ Jackson 2003, trang 9.
  101. ^ a ă Shirer 1960, trang 726.
  102. ^ Jackson 2003, trang 24.
  103. ^ Horne 1971, trang 281.
  104. ^ Shepperd 1990, trang 73.
  105. ^ Shirer 1996, trang 726.
  106. ^ a ă Shepperd 1990, trang 77.
  107. ^ a ă â Shepperd 1990, trang 81.
  108. ^ Shirer 1996, trang 727.
  109. ^ Weal 1997, trang 47.
  110. ^ Jackson 2003, trang 60.
  111. ^ Shirer 1990, trang 728.
  112. ^ a ă Jackson 2003, trang 62.
  113. ^ a ă Jackson 2003, trang 89.
  114. ^ Ellis 1954, trang 89.
  115. ^ a ă Ellis 1954, trang 91.
  116. ^ a ă Shepperd 1990, trang 86
  117. ^ Jackson 2003, trang 92.
  118. ^ a ă Shepperd 1990, trang 85.
  119. ^ a ă Shirer 1960, trang 728, 731.
  120. ^ Kershaw 2009, trang 27.
  121. ^ Shirer 1960, trang 735.
  122. ^ Ellis 1954, trang 247.
  123. ^ Shepperd 1990, trang 87.
  124. ^ Ellis 1954, trg.246
  125. ^ Hooton 2007, trang 74.
  126. ^ Ellis 1954, trang 244-245.
  127. ^ a ă Kaufmann 1993, trang 265, 266.
  128. ^ Jackson 2003, trang 98.
  129. ^ a ă Newark, trang 93.
  130. ^ Horne 1971, trang 315
  131. ^ Kaufmann 1993, trang 256.
  132. ^ Kaufmann 1993, trang 268, 273
  133. ^ Draper 1944, trang 239
  134. ^ Draper 1944, trang 243
  135. ^ Shirer 1990, trang 738
  136. ^ Kaufmann 1993, trang 273.
  137. ^ Kaufmann 1993, trang 274.
  138. ^ Kaufmann 1993, trang 285.
  139. ^ Kaufmann 1993, trang 278.
  140. ^ Kaufmann 1993, trang 297, 298.
  141. ^ Hooton 2007, trang 86.
  142. ^ a ă Hooton 2007, trang 84-85.
  143. ^ Shirer 1960, trang 739.
  144. ^ a ă â b Shirer 1960, trang 740.
  145. ^ Shirer 1960, trang 741.
  146. ^ Rickard, J. Operation Aerial, the evacuation from north western France, 15-25 June 1940.
  147. ^ Rickard, J. Operation Cycle, the evacuation from Havre, 10-13 June 1940.
  148. ^ Hooton 2007, trang 88.
  149. ^ a ă â Jackson 2003, trang 138.
  150. ^ Shirer 1960, trang 741-742.
  151. ^ a ă Shirer 1960, trang 743.
  152. ^ Shirer 1960, trang 745-746
  153. ^ a ă Jackson 2003, trang 232.
  154. ^ Irving 2002, trang 311.
  155. ^ Hiệp định đình chiến, trang web của trường Đại học Perpignan, cập nhập ngày 29 tháng 11 năm 2008.
  156. ^ Shirer 1960, trang 746.
  157. ^ Irving 2002, trang 309.
  158. ^ a ă â Jackson 2003, trang 236.
  159. ^ a ă â Jackson 2003, trang 237.
  160. ^ Jean-Jacques Arzalier, trang 428-430.
  161. ^ Shepperd 1990, trang 88.
  162. ^ a ă Frieser 1995, trang 400.
  163. ^ Arzalier 2001, trang 437.
  164. ^ Arzalier 2001, trang 438.
  165. ^ Arzalier 2001, trang 439
  166. ^ a ă Số liệu của Ban Lịch sử quốc phòng, Paul-Marie de La Gorce, L'Empire écartelé, 1936-1946, Denoël, 1988, trang 496.
  167. ^ Durand 1981, trang 21
  168. ^ a ă Arzalier 2001, trang 429.
  169. ^ Arzalier 2001, trang 433.
  170. ^ Shirer 1960, trang 745.
  171. ^ Shirer 1960, trang 722.
  172. ^ Lieb 2007, trang 518.
  173. ^ Scheck 2006, trang 165.
  174. ^ Hilberg 1993, trang 658.
  175. ^ Caron 1999, trang 263.
  176. ^ Jackson 2003, trang 2.
  177. ^ Jackson 2003, trang 183.
  178. ^ Jackson 2003, trang 187.
  179. ^ Jackson 2003, trang 189-190.
  180. ^ a ă Jackson 2003, trang 192
  181. ^ Krause & Cody 2006, trang 69
  182. ^ Krause & Cody 2006, trang 91-92

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục tham khảo chính
  • Ellis, E.F. The war in France and in the Flanders 1939-1940. United Kingdom Military Services, London 1954 Bản trực tuyến
  • Frieser, Karl-Heinz (tiếng Đức) Blitzkrieg-Legende. Der Westfeldzug 1940 (Operationen des Zweiten Weltkrieges), München: Oldenbourg 1995 ISBN 3486561243.
  • Frieser, Karl-Heinz. The Blitzkrieg Legend. Naval Institute Press. 2005. ISBN 978-1-59114-294-2
  • Hooton, E.R. Luftwaffe at War; Blitzkrieg in the West. London: Chervron/Ian Allen 2007. ISBN 978-1-85780-272-6.
  • Jackson, Julian T. The Fall of France: The Nazi Invasion of 1940. Oxford University Press, 2003, ISBN 019280300X.
  • Kaufmann, J. E.; Kaufmann, H. W. Hitler's Blitzkrieg Campaigns: The Invasion and Defense of Western Europe, 1939-1940. Da Capo Press 1993. ISBN 978-0938289203
  • Shepperd, Alan France 1940 - Blitzkrieg in the West. The Osprey Campaign Series No3 - Osprey Publishing 1990. ISBN 0850459583
  • Shirer, William L. The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany. Simon & Schuster 1960. Bản trực tuyến.
Thư mục tham khảo bổ sung
  • Arzalier, Jean-Jacques La campagne de mai-juin 1940. Les pertes?, Christine Levisse-Touré, Tallandier, Paris, 2001.
  • Blatt, Joel The French Defeat of 1940: Reassessments. Breghahn Books 1998. ISBN 1-57181-109-5.
  • Bond, Brian Britain, France and Belgium, 1939-1940. Brassy's, London 1990. ISBN 0-08-037700-9.
  • Caron, Vicky Uneasy Asylum: France and the Jewish Refugee Crisis, 1933-1942 Stanford University Press 1999, ISBN 0804743770
  • Dear, Ian và Foot, M. The Oxford Companion to World War II. Oxford Oxfordshire: Oxford University Press. 2001. ISBN 0198604467
  • DiNardo R. L. và Bay, Austin. 'Horse-Drawn Transport in the German Army'. Journal of Contemporary History, quyển 23, số 1 (tháng 1/1988)
  • Draper, Theodore The Six Weeks' War: France, May 10-June 25, 1940. New York: The Viking Press, 1944.
  • Durand, Yves La Captivite, Histoire des prisonniers de guerre francais 1939 - 1945, Paris 1981.
  • Gunsburg, Jeffrey The Battle of the Belgian Plain, 12–14 May 1940: The First Great Tank Battle, Military History Journal, No 56, 1992.
  • Healy, Mark, Ed. Prigent, John &. Panzerwaffe: The Campaigns in the West 1940. Vol. 1. London. Ian Allan Publishing. 2008 ISBN 978-071103-240-8
  • Hilberg, Raul (tiếng Đức) Die Vernichtung der europäischen Juden. (Sự hủy diệt người Do Thái ở châu Âu). quyển 2, Fischer, Frankfurt 1993, ISBN 3-596-10612-5.
  • Horne, Alastair The Fall of the France, Systems Publisher, 1971.
  • Irving, David Hitler’s War and The War Path, World War II Books; 3rd edition 2002. ISBN 978-1872197104.
  • Krause, M. & Cody, P. (biên tập) Historical Perspectives of the Operational Art. Center of Military History (U.S. Army) 2006. ISBN 978-0-16072-564-7 Bản trực tuyến
  • Kershaw, Ian (bản tiếng Pháp) Choix fatidiques – Dix décisions qui ont changé le monde, 1940-1941 Editions de Seuil, Paris, 2009. ISBN 978-2-02-080325-0
  • Lieb, Peter (tiếng Đức) Konventioneller Krieg oder NS-Weltanschauungskrieg, Oldenbourg, München 2007.
  • Maier, Klaus và Falla,P.S. Germany and the Second World War: Volume 2: Germany's Initial Conquests in Europe. Oxford University Press. 1991. ISBN 0-19822885-6
  • Miquel, Pierre La Seconde Guerre Mondiale, Librairie Arthème Fayard, 1986, Paris. Code ISBN 9782213018225
  • Murray, Williamson. Strategy for Defeat: The Luftwaffe 1933–1945. United States Government Printing, 1983. ISBN 978-9997393487
  • Newark, Tim. Turning the Tide of War: 50 Battles That Changed the Course of Modern History. Praha, Ottovo nakladatelství 2003.
  • Neave, Airey The Flames of Calais, Grafton Books 1989. ISBN 0-586-20343-5.
  • Overesch, Manfred & Saal, Friedrich Wilhelm (tiếng Đức) Das III. Reich - Band 2: 1939 - 1945. Weltbild Verlag, Augsburg 1991, ISBN 3-89350-349-8.
  • Scheck, Raffael Hitler's African victims: the German Army massacres of Black French soldiers in 1940 Cambridge University 2006, ISBN 978-0-521-85799-4 (Bản trực tuyến)
  • Strawson, John (2003). Hitler as military commander (2003 ed.). Pen & Sword Military Classics. ISBN 9780850529562.
  • Taylor, A.J.P. & Mayer, S.L. A History Of World War Two. London: Octopus Books, 1974. ISBN 0-70640-399-1.
  • Weal, John Junkers Ju 87 - Stukageschwader 1937-41. Oxford: Osprey 1997. ISBN 1-85532-636-1.
  • Weinberg, Gerhard L. World at Arms: A Global History of World War II. Cambridge UP, 1995.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]