Anpơ
| Anpơ | |
| Dãy núi | |
| Các quốc gia | Áo, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Italia, Slovenia, Liechtenstein |
|---|---|
| Điểm cao nhất | Mont Blanc (tiếng Italia: Monte Bianco) |
| - cao độ | 4.808 m (15.774 ft) |
| - tọa độ | |
| Địa chất | Diệp thạch Bündner, Flysch, Molat |
| Kiến tạo sơn | Kiến tạo sơn Alps |
| Niên đại | Kỷ Đệ Tam |
Anpơ (tiếng Pháp: Alpes, tiếng Đức:Alpen, tiếng Ý:Alpi là một trong những dãy núi lớn nhất, dài nhất châu Âu, kéo dài từ Áo, Ý và Slovenia ở phía Đông, chạy qua Ý, Thụy Sĩ, Liechtenstein và Đức tới Pháp ở phía Tây.
Mục lục |
[sửa] Đặc điểm
[sửa] Địa hình
Đỉnh cao nhất của dãy núi Anpơ là đỉnh Mont Blanc với chiều cao 4810 m nằm trên biên giới giữa Pháp và Ý. Đỉnh cao nhất phần phía Đông Anpơ là đỉnh Piz Bernina, cao 4052 m.
[sửa] Địa chất và kiến tạo sơn
Alps là một phần của đai kiến tạo sơn Đệ Tam gọi là đai Alpide, nó kéo dài từ miền nam châu Âu và châu Á từ Đại Tây Dương đến Himalayas. Đai dãy núi này được hình thành trong quá trình kiến tạo sơn Anpơ. Khoảng không liên tục của dãy núi này ở trung Âu ngăn cách Alps từ núi Carpathia về phía đông. Kiến tạo sơn diễn ra một cách liên tục và hoạt động hút chìm được cho là đã tạo ra khoảng trống trên.
Alps nâng lên là kết quả của quá trình va chạm giữa các mảng châu Phi và Á-Âu, theo đó phần phía tây của đại dương Tethys bị biến mất. Các đá móng bị lộ ra ở những vùng trung tâm nằm ở cao hơn, hình thành Mont Blanc, Matterhorn, và các đỉnh cao của Pennine Alps và Hohe Tauern. Sự hình thành Địa Trung Hải liên quan đến các hoạt động gần đây hơn, và không để lại dấu vết ở bờ biển bắc cỉa lục địa châu Phi.
[sửa] Những nhánh núi
Nhìn chung thì phần núi phía Tây cao hơn phần phía Đông, tuy nhiên tại phần trung tâm lại ngắn và nhiều vòng cung hơn phần phía Đông.
[sửa] Lịch sử văn hóa và chính trị
Có ít thông tin về những người sống ở Alps trứoc đây, theo các dấu hiệu được bảo tồn kém theo các nhà lịch sử và địa lý La Mã và Ai Cập. Một ít thông tin chi tiết đã bị mờ nhạt do các cuộc chinh phục Alpine của Augustus. Các nghiên cứu gần đây về Mitochondrial DNA cho thấy rằng MtDNA Haplogroup K rất có thể có nguồn gốc trong hoặc gần phía đông nam Alps có tuổi cách đây 12.000–15.000 năm.
Trong suốt cuộc chiến tranh Punic lần 2 năm 218 TCN, kiệt tướng thành Carthage là Hannibal đã vượt qua Alps cùng với 38.000 bộ binh, 8.000 kị binh, và 37 voi chiến.[1] Đây là một trong những thành tựu nổi bật nhất của quân đội trong chiến tranh thời cổ đại.[1]
Hầu hết các cùng của Alpine dần dần được các dân tộc German (Langobards, Alemanni, Bavarii) định cư từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 13, đợt mở rộng gần đây nhất là đến Walser.
[sửa] Khí hậu
Alps được chia thành 5 đới khí hậu, với các môi trường khác nhau. Khí hậu, đời sống thực vật và động vật cũng thay đổi theo các đới hoặc vùng khác nhau của dãy núi.
- Đới trên 3.000 m được gọi là đới névé. Khu vực này có khí hậu lạnh nhất, luôn bị tuyết phủ. Đó là lý do tại sao có ít thực vật sinh sống.
- Đới alpine từ độ cao 2.000 m đến 3.000 m. Đới này ít lạnh hơn đới névé. Các hoa dại và cỏ mọc ở đây.
- Đới cận alpine ở độ cao từ 1.500 đến 2.000 m, gồm các rừng cây linh sam và cây vân sam vì chúng có khí hậu ôn hòa hơn.
- Đới trồng trọt được phân bố ở độ cao khoảng 1.000 đến 1.500 m. Hàng triệu cây sồi mọc ở đây. Ở đới này có hoạt độ nông nghiệp phát triển.
- Đới thấp nằm dưới 1.000 m. Ở đây có sự đa dạng về thực vật. Bên cạnh đó là các làng mạc.
[sửa] Thực vật
Hạn chế về độ cao đối với thực vật tự nhiên làm xuất hiện một số loài cây rụng lá chủ yếu như oak, beech, ash và sycamore maple. Chúng không phân bố ở cùng một độ cao nhất định, cũng không phải lúc nào cùng tìm thấy chúng cùng nhau; nhưng giới hạn trên tương ứng chính xác đủ để chúng thay đổi từ khí hậu ôn hoàn sang lạnh làm thay đổi sự có mặt của các loài thực vật thân thảo hoang. Giới hạn này nằm ở độ cao khoảng 1.200 mét (3.940 ft) so với mực nước biển ở rìa phía bắc của Alps, nhưng sườn phía nam thì tương ứng với 1.500 mét (4.920 ft), thậm chí đôi khi đến 1.700 mét (5.580 ft).
Khu vực này không phải lúc nào cũng được đánh dấu bởi sự có mặt của một số loài đặc trưng. Con người đã tác động vào chúng ở một số khu vực, ngoại trừ các khu rừng beech của Austrian Alps, các rừng cây rụng lá hiếm gặp ở đây. Ở một vài khu vực nhỏ có các loài cây gỗ, chúng bị thay thế bởi Scots pine và Norway spruce, là các loài ít nhạy cảm đối với sự khai thác của con người.
Bên trên, thường có một dãy các cây thông thấp (Pinus mugo), chúng lần lượt được thay thế bằng các cây bụi, đặc trưng như Rhododendron ferrugineum (trên đấy axit) hay Rhododendron hirsutum (trên đất kiềm). Trên nữa là alpine meadow, và thậm chí ở cao hơn, thảm thực vật càng trở nên thưa thớt. Ở những độ cao cao hơn, thực vật có khuynh hướng hình thành những vùng cô lập. Ở Alps, một số loài thực vật có hoa đã được ghi nhận ở độ cao trên 4.000 mét (13.120 ft), như Ranunculus glacialis, Androsace alpina và Saxifraga biflora.
-
mountain pine
(Pinus mugo) -
rusty-leaved Alpenrose
(Rhododendron ferrugineum) -
Edelweiss
(Leontopodium alpinum) -
stemless gentian
(Gentiana acaulis) -
Alpine dwarf orchid
(Chamorchis alpina) -
Alpine pasque-flower
(Pulsatilla alpina) -
Alpine rock-jasmine (Androsace alpina)
-
glacier buttercup
(Ranunculus glacialis)
[sửa] Tham khảo
[sửa] Xem thêm
| Đây là một bài cơ bản còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |