Carthago

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thành bang Carthage
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Ruines de Carthage.jpg
Quốc gia  Tunisia
Kiểu văn hoá
Hạng mục ii, iii, vi
Tham khảo 37
Vùng UNESCO các quốc gia Ả Rập
Lịch sử công nhận
Công nhận 1979 (kì thứ 3rd)
Đế quốc Carthaginia

Carthage (tiếng Ả Rập: قرطاج, tiếng Hy Lạp cổ: Καρχηδών Karkhēdōn, tiếng Berber: Kartajen, tiếng Latinh: Carthago hoặc Karthago, Qart-ḥadašt[1] từ tiếng Phoenicia Qart-ḥadašt có nghĩa là thị trấn mới) [2] là tên gọi của một thành phố cổ thuộc xứ Tunisia ngày nay và cũng để chỉ khu vực ngoại ô Tunis hiện nay. Thành phố này đã có một thời phát triển huy hoàng, trở thành nền văn minh rực rỡ, không chỉ vàng son trong phạm vi thành phố mà còn lan truyền ảnh hưởng rộng khắp, mở ra nền văn minh Punic, hay còn gọi là nền văn minh Carthage. Thành phố Carthage nằm về phía Đông hồ Tunis, ngang qua trung tâm thành phố Tunis. Theo sử cũ Hy Lạp, những người Phoenicia đi khai khẩn đất hoang, dưới sự lãnh đạo của Elissa (tức nữ hoàng Dido), gầy dựng thành Carthage vào năm 814 trước Công nguyên. Carthage nhanh chóng trở thành một thành phố nguy nga và phát triển hưng thịnh, hùng mạnh ở Địa Trung Hải. Do xung đột với xứ Syracuse và nước Cộng hòa La Mã, quân Carthage đã tiến hành chiến tranh xâm lược vào nhiều đất đai của các nước thù địch. Cuộc tấn công của danh tướng Hannibal vào bán đảo Ý trong cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai với đỉnh cao là chiến thắng lừng lẫy đập nát quân La Mã tại trận Cannae, đã đem lại hiểm họa nghiêm trọng cho nền thống trị của người La Mã tại Ý. Tuy nhiên, kết thúc cuộc chiến, người Carthage thất trận và bị suy yếu. Sau cuộc chiến tranh Punic lần thứ ba, quân La Mã thắng trận đã san bằng thành phố này vào năm 146 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, người La Mã đã tái lập thành phố và nó đã trở thành một trong ba trung tâm quan trọng nhất của Đế quốc La Mã, sau còn là kinh đô của Vương quốc Vandal trong một thời gian ngắn. Rốt cuộc, Carthage vẫn luôn là một trong những thành phố vững mạnh nhất của Đế quốc, cho đến những cuộc càn quét của người Hồi giáo, và sau đó thì Carthage bị hủy diệt thêm một lần nữa vào năm 698.

Địa thế[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Carthage nhìn từ vệ tinh Spot

Carthage đã được xây dựng trên một mũi đất cùng với một con lạch nhỏ hướng ra biển ở phía bắc và nam. Địa điểm của thành phố làm cho nó trở thành trung tâm của buôn bán đường biển của Địa Trung Hải. Tất cả các tàu thuyền qua biển đã phải vượt qua giữa Sicilia và bờ biển của Tunisia, nơi Carthage được xây dựng, tạo điều kiện cho nó trở thành thế lực hùng mạnh và quyền lực.

Hai hải cảng nhân tạo lớn được xây dựng trong phạm vi thành phố, một cảng là nơi trú ẩn của hạm đội tàu chiến gồm 220 tàu và một dành cho việc buôn bán. Một bức tường thành được xây dựng để bao bọc cả 2 cảng.

Thành phố được bao bọc bởi tường thành 23 dặm (37 km) chiều dài, dài hơn tường thành của các thành phố được so sánh khác. Hầu hết các bức tường được đặt trên bờ và vì vậy ít gây được chú trọng vì người Carthage kiểm soát biển, tiến hành các cuộc tấn công từ hướng đó là khó khăn. Khoảng 2,5 -3 dặm (4-4,8 km) của tường trên eo đất tới phía tây là thực sự lớn và trong thực tế đã không bao giờ bị xâm nhập.

Thành phố có một khu nghĩa trang rất lớn, khu vực tôn giáo, khu vực chợ, hội đồng thành phố, tháp canh và một nhà hát và được chia thành bốn khu vực dân cư với cùng một bố cục. Ở trung tâm thành phố là một pháo đài gọi là Byrsa. Nó là một trong những thành phố lớn nhất trong thời đại Hy lạp hóa (theo một số ước tính chỉ Alexandria là lớn hơn) và là một trong những thành phố lớn nhất trước thời kì công nghiệp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:Lịch sử của Carthage

Lịch sử thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tường thành của thành phố.

Nghiên cứu lịch sử của Carthage là một vấn đề do dấu tích văn hóa và các tài liệu cổ đã bị tiêu hủy bởi người La Mã ở cuối cuộc Chiến tranh Punic lần thứ ba, rất ít nguồn còn sót lại về lịch sử của người Carthage. Còn rất ít những bản dịch cổ về Punic bởi người Hy Lạp và La Mã và từ những chữ khắc trên đài kỷ niệm và các tòa nhà được phát hiện ở Bắc Phi.[3] Các nguồn khảo cổ học chính là sử học Hy Lạp và La Mã bao gồm Livy, Polybius, Appian, Cornelius Nepos,Silius italicus, Plutarch, Dio CassiusHerodotus. Những nhà văn, nhà sử học này thuộc các dân tộc thường cạnh tranh, và có những cuộc xung đột với Carthage.[4] Những thành phố Hy Lạp cạnh tranh với Carthage vì Sicilia,[5] và những người La Mã đã chiến đấu trong ba cuộc chiến tranh chống lại Carthage.[6] Không ngạc nhiên khi mà các tài liệu của họ chứa những thông tin thù địch trong khi lại có rất ít tác phẩm Hy Lạp phản bác. Hầu hết những tác phẩm dạng này thường đã biến mất.[7]

Nữ hoàng Elissa (Dido)[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng Elissa (còn được gọi là "Alissar", theo tiếng Ả Rập và tên [6] اليسار cũng اليسا và عليسا), sau này còn được gọi là Dido, là người khai quốc Carthage. Vào thời kì đỉnh cao, kinh đô của bà được gọi là "thành phố Mặt Trời" thống trị hơn 300 đô thị khác của miền tây Địa Trung Hải, và lãnh đạo thế giới Phoenici (hoặc Punic).

Theo Justinus, Elissa là một công chúa xứ Týros. Bà là con gái của vua Matten xứ Týros (còn được gọi là Muttoial hay Belus II). Khi ông mất, ngai vàng đã được truyền lại cho cả bà và em trai bà là vua Pygmalion. Bà đã lập gia đình với chú của mình là Acherbas (còn được gọi là Sychaeus), một giáo sĩ tối cao phụng sự tại miếu thờ thần Melqart, là người giàu có và nắm đại quyền trong tay. Điều này đã dẫn đến sự xung đột giữa nhà vua và tôn giáo. Pygmalion là một bạo chúa, ham thích vàng bạc và mưu mô, ông ta luôn luôn mong muốn chiếm đoạt tài sản và quyền lực của Acherbas. Pygmalion đã ám sát Acherbas trong miếu thờ và lừa dối về cái chết của người chồng của chị mình trong một thời gian dài.

Dưới ách thống trị hà khắc của Pygmalion, người dân Týros kêu la về sự độc đoán của vị bạo quân và gây nên mâu thuẫn trong nội bộ Hoàng tộc. Sau khi hiểu được rằng Pygmalion đàn áp nhân dân, muốn cô lập mình và thậm chí còn định sát hại mình để độc chiếm ngai vàng, Elissa chạy trốn khỏi Týros để thoát khỏi bàn tay tàn nhẫn của em trai mình. Cùng đi với bà có nhiều người dân Týros không muốn ở lại quê hương để mà tiếp tục bị bạo chúa đè đầu cưỡi cổ.

Dido qua sử thi Aeneid của Virgil[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ sử thi Aeneid của nhà thi hào La Mã Virgil, mở đầu với lời ca ngợi công đức cao cả của Nữ hoàng Dido (tên Hy Lạp của nữ hoàng Elissa). Chỉ trong vòng bảy năm, kể từ khi người Carthage di trú khỏi Týros, bà hoàn tất quá trình gầy dựng thành Carthage.

Virgil nhận xét bà là một Nữ hoàng có nhân cách cao quý, bà cho phép Hoàng tử Aeneas thành Troia tỵ nạn với những chiến binh của mình, sau khi Troia bị người Hy Lạp xâm chiến. Thấy Dido đem lòng yêu Aeneas, Thần vương Jupiter sai Mercury - vị sứ giả của Thần vương - đến khuyên can Aeneas rằng chàng không được ở lại Carthage mà phải từ bỏ tình yêu của mình, phải lên thuyền tới Ý để lập nên thành La Mã. Virgil kết thúc bộ sử thi này với đoạn Aeneas từ chối tình yêu của Dido, làm cho trái tim của bà bị tan vỡ. Bà đã ra lệnh cho xây dựng một giàn thiêu nơi bà ngã xuống thanh gươm của Aeneas.

Cộng hòa Carthage[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:Cộng hòa Carthage

Đế quốc Carthage vào thế kỉ thứ 3 TCN

Cộng hoà Carthage là một trong những quốc gia lâu đời nhất và hùng mạnh nhất trong thế giới Địa Trung Hải cổ đại. Các thư tịch cổ còn sót lại đến này kể về những cuộc chiến với xứ Syracuse và Cộng hòa La Mã, với kết quả là chiến bại kèm theo sự cáo chung của Nhà nước cổ đại Carthage trong cuộc chiến tranh Punic lần 3.

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết:Lực lượng quân đội Carthage

Theo Polybius, Carthage dựa rất nhiều, mặc dù không độc quyền, vào lính đánh thuê nước ngoài[8] đặc biệt là trong chiến tranh ở nước ngoài. Cốt lõi của quân đội của nó là từ bắc phi(dân tộc Libya và người Numidia, cũng như "Liby-Phoenicia" - Punics).Các binh sĩ đã được hỗ trợ bởi lính đánh thuê từ các nhóm dân tộc khác nhau, trải dài trên khắp Địa Trung Hải, những người đã chiến đấu tại các đơn vị của chính quốc gia của họ; người Celt, Balearic, và Iberia đặc biệt chiếm ưu thế hơn cả. Sau cuộc chinh phục của nhà Barca ở bán đảo Iberia, lính Iberia thậm chí còn đông hơn người Carthage. Carthage có trên chiến trường một lực lượng kị binh rất ghê gớm, đặc biệt là ở châu Phi, quê hương của nó;Một lực lượng quan trọng trong đó là kị binh nhẹ của Numidia. Một loại quân khác được sử dụng là những con voi chiến bắc Phi đã tuyệt chủng. Chúng được đào tạo cho chiến tranh, và được sử dụng để phổ biến cho các cuộc tấn công mặt trước hoặc như chống lại sự tấn công của kị binh. Một đội quân có thể được trang bị tới hàng trăm con voi hoang dã như vậy, nhưng trong các văn bản cổ xưa thì chỉ có ít hơn một trăm được triển khai. Những người quản tượng được trang bị giáo và búa để giết voi nếu chúng quay ngược trở lại về phía quân đội của mình.

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Roman trireme mosaic from Carthage, Bardo Museum, Tunis

Hải quân của Carthage là một trong những hạm đội lớn nhất tại Địa Trung Hải, sử dụng một quy trình đóng hàng loạt để duy trì số lượng lớn với chi phí vừa phải. Các thủy thủ và thủy quân lục chiến của hải quân Carthage được tuyển dụng chủ yếu từ các công dân Punic, không giống như nhiều quốc gia đồng minh và quân lính đánh thuê của quân đội Carthage. Hải quân cung cấp một nghề nghiệp ổn định và đảm bảo tiền lương cho các thủy thủ của nó.[9] Điều này đã giúp góp phần ổn định chính trị của thành phố, làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp.

Polybius đã viết trong cuốn sách thứ sáu của tác phẩm "Lịch sử" của mình rằng người Carthage "đã tham gia trong hải quân hiều hơn bất cứ dân tộc nào khác".[10] Hạm đội của họ có từ 300-350 tàu. Người La Mã, những người có ít kinh nghiệm trong chiến tranh hải quân trước khi Chiến tranh Punic lần thứ nhất nổ ra, cuối cùng đã cố gắng để đánh bại người Carthage bằng cách sử dụng nhiều mánh khóe để chiếm giữ tàu của họ: tuyển dụng của các thủy thủ Hy Lạp có kinh nghiệm từ thành phần các thành phố bị họ chinh phục.

Sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Carthage vào năm 146 trước Công Nguyên đã dứt điểm cuộc Chiến tranh Punic lần thứ ba và cũng kết liễu hoàn toàn sự tồn tại của Nhà nước cổ đại Carthage.[11] Trong ba cuộc Chiến tranh Punic, quân La Mã ban đầu chịu những thất bại trên biển, sau lại òn phải hồi phục cơ đồ quốc gia khỏi nỗi khiếp sợ về cuộc chiếm đóng phần lớn bán đảo Ý trong suốt 15 năm của Hannibal, tuy nhiên chuỗi chiến tranh này chấm dứt với sự sụp đổ hoàn toàn của Đế quốc Carthage và sự phá hủy tan nát cả thành phố Carthage theo lệnh của danh tướng La Mã là Scipio Aemilianus. Người La Mã kéo các tàu chiến của người Phoenician bên ngoài vào trong cảng và đốt chúng trước thành phố, và đi từ nhà này sang nhà khác, thu giữ, cưỡng bức và nô dịch của người dân. Năm mươi ngàn người Carthage đã bị bán làm nô lệ.[12] Thành phố đã bị đốt cháy, và san bằng mặt đất, để lại tàn tích chỉ và đống đổ nát. Sau sự sụp đổ của Carthage, nước Cộng hòa La Mã sáp nhập phần lớn các thuộc địa của Carthage, bao gồm cả các địa điểm khác ở Bắc Phi như là Volubilis, Lixus, Chellah, và Mogador.[13]

Thời kì La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Carthage sụp đổ, đối thủ gần đó của nó, thành Utica, một đồng minh của La Mã, đã được biến thành thủ phủ của khu vực này và thay thế Carthage trở thành trung tâm thương mại Punic và lãnh đạo chính. Nó có vị trí thuận lợi nằm bên hồ Tunis và cửa sông của sông Majardah, con sông duy nhất ở Tunisia mà nước chảy quanh năm. Tuy nhiên, việc trồng trọt lương thực ở vùng núi Tunisia khiến cho một lượng lớn phù sa xói mòn xuống sông. Lượng bùn này đã tích lũy ở trong bến cảng cho đến khi nó làm cho bến cảng dần trở nên vô dụng, và Roma đã buộc phải xây dựng lại Carthage.

Vào năm 122 TCN, Gaius Gracchus đã thành lập một thuộc địa mà bản thân nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nó được gọi là Colonia Iunonia, đặt theo tên Latin của nữ thần Punic, thần Tanit, Iuno caelestis. Mục đích là để có được đất canh tác dành cho những nông dân nghèo khó. Tuy vậy, viện nguyên lão bãi bỏ thuộc địa này một số thời gian sau đó, để làm suy yếu quyền lực của Gracchus.

Sau nỗ lực xấu số này một thành phố Carthage mới đã được xây dựng trên cùng vùng đất này bởi Julius Caesar trong thời gian giữa năm 49-44 trước Công nguyên, và vào thế kỷ 1 CN, nó đã phát triển trở thành thành phố lớn thứ hai ở nửa phía Tây của Đế chế La Mã, với một dân số ở lúc cao điểm lên đến 500.000 người [cần dẫn nguồn]. Nó trở thành thủ phủ của tỉnh châu Phi của La Mã, một trong những vựa lúa lớn của đế chế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Polybius[14]
  • Hannibal's Campaigns. Tony Bath. New York, NY: Barnes & Noble Books, 1981.
  • La vie quotidienne à Carthage au temps d'Hannibal. Gilbert et Colette Charles-Picard. Paris: Hachette, 1958.
  • La légende de Carthage. Azedine Beschaouch. Paris: Gallimard, 1993.
  • Carthage: Uncovering the Mysteries and Splendors of Ancient Tunisia. David Soren, Aicha Ben Abed Ben Kader, Heidi Slim. New York: Simon and Schuster, 1990.
  • The Phoenicians and the West: Politics, colonies and trade. Maria Eugenia Aubet. Cambridge: Cambridge University Press, 1987.
  • Itineraria Phoenicia.Edward Lipinski. Leuven: Uitgeverij Peeters en Department Oosterse Studies, 2004. "Aeneid" Virgil

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Annales, 1908. p.253.
  2. ^ Carthage: new excavations in Mediterranean capital
  3. ^ Jongeling, K. (2005). “The Neo-Punic Inscriptions and Coin Legends”. University of Leiden. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2006. 
  4. ^ Carthage by B. H. Warmington p11
  5. ^ Herodotus, V2. 165–7
  6. ^ Polybius, World History: 1.7–1.60
  7. ^ Warmington, B. H. Carthage, p.11.
  8. ^ Polybius, Book 6, 52. On the Perseus project

    The former (the Romans - editor's note) bestow their whole attention upon this department (upon military service on land - editor's note): whereas the Carthaginians wholly neglect their infantry, though they do take some slight interest in the cavalry. The reason of this is that they employ foreign mercenaries, the Romans native and citizen levies. It is in this point that the latter polity is preferable to the former. They have their hopes of freedom ever resting on the courage of mercenary troops: the Romans on the valour of their own citizens and the aid of their allies.

  9. ^ Adrian Goldsworthy - The Fall of Carthage
  10. ^ Polybius, History Book 6
  11. ^ Wine: The 8,000-Year-Old Story of the Wine Trade, Thomas Pellechia (2006)
  12. ^ Ancient History
  13. ^ C. Michael Hogan (2007) Volubilis, The Megalithic Portal, ed. by A. Burnham
  14. ^ LacusCurtius • Polybius' Histories