Nhà Omeyyad

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
الخلافة الأموية
Al-Ḫilāfa al-ʾumawiyya (tiếng Ả Rập)

Nhà Omeyyad
Flag of Afghanistan (1880–1901).svg
 
Simple Labarum.svg
 
Blank.png
661 – 750 Black flag.svg
 
Coras del Emirato de Córdoba.png

Cờ của Umad

Cờ

Vị trí của Umad
Nhà Omeyyad vào thời điểm rộng nhất.
Thủ đô Damascus
Thủ đô lưu vong Córdoba
Ngôn ngữ Tiếng Ả Rập (chính thức) – Ba Tư (chính thức trong khu vực nhất định cho đến triều đại của Abd al-Malik) – Armenia, Tiếng Berber, Gruzia, Hy Lạp, Hebrew, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiếng Ba Tư, Kurdish
Tôn giáo Hồi giáo
Chính thể Caliphate
Khalip
 - 661–680 Muawiya I
 - 744–750 Marwan II
Lịch sử
 - Muawiya xưng Khalip 661
 - Nhà Abbas đánh bại và giết chết Marwan II 750
Diện tích
 - 750 SCN (132 Lịch Hồi giáo) 15.000.000 km²; (5.791.532 mi²)
Dân số
 - Thế kỷ thứ 7 ước tính 62.000.000 
Tiền tệ Dinar vàngdirham
Hiện nay là một phần của
 Syria
 Afghanistan
 Algeria
 Andorra
 Armenia
 Azerbaijan
 Bahrain
 China[1]
 Cyprus
 Egypt
 Eritrea[2]
 France
 Georgia
 Gibraltar(UK)
 Greece[3]
 India
 Iran
 Iraq
 Israel
</ref>
 Jordan
 Kazakhstan
 Kuwait
 Kyrgyzstan
 Lebanon
 Libya

 Mauritania
 Morocco
 Oman
 Pakistan
Cờ của Palestine Palestinian Authority
 Portugal
 Qatar
 Russia
 Saudi Arabia
 Somalia[4]
 Spain
 Tajikistan
 Tunisia
 Turkey
 Turkmenistan
 United Arab Emirates
 Uzbekistan
 Yemen
 Western Sahara

Nhà Omeyyad (cũng được viết là Nhà Umayyad) là một vương triều Hồi giáo Ả Rập (661 - 750) do các khalip (vua Hồi) cai trị. Năm 632, sau khi nhà tiên tri đạo Hồi Muhammad qua đời, Abu Bakar trở thành vị khalip chính thống đầu tiên, đóng đô ở Medinah. Chính quyền của các khalip chính thống sau đó đã được chuyển sang cho nhà Omeyyad năm 661. Nhà Omeyyad đóng đô ở Damascus. Triều đại mới này đã nhanh chóng bành trướng thế lực và lãnh thổ (trải dài từ Bắc Phi, Tây Ban Nha tới Trung Á và Tây Bắc Ấn). Đến năm 750, nhà Omeyyad ở châu Á bị nhà Abbas truất phế và thay thế. Vị khalip Omeyyad cuối cùng là Marwan II bị giết.

Năm 750, một hoàng tôn nhà Omeyyad là Abd-al-Rahman chạy trốn sang Tây Ban Nha. Tại đây, năm 756 ông thành lập một vương quốc và xưng là êmia, đóng đô ở Cordoba. Cho tới năm 929, Abd-al-Rahman III xưng làm khalip. Triều đại Omeyyad ở Cordoba tồn tại đến năm 1031.

Dưới thời nhà Omeyyad việc tuyển cử người nhận chức Khalip bị bãi bỏ, truyền ngôi theo phụ hệ, và dần dần biến quốc gia Hồi giáo thành đế quốc Ả Rập. Lãnh thổ tiếp tục bành trướng đến Trung Á, đồng bằng sông Ấn ở phía đông và Tây Ban Nha ở phía tây. Đó là triều đại khalip có lãnh thổ rộng lớn nhất.

Hệ phái Shia, của những người tuyệt đối trung thành với khalip Ali, tuy sống dưới sự cai trị của nhà Omeyyad, nhưng không coi nhà này là chính thống. Hệ phái Sunni, tuy rất quý mến khalip Ali, nhưng vẫn tạm công nhận nhà Omeyyad. Do sự công nhận của hệ phái Sunni, với khoảng 90% tín đồ, nhà Omeyyad được coi là có độ chính thống cao, và được xếp nối tiếp theo bốn vị khalip kể trên.

  • Mu'Awiya I (661-680), vị khalip thứ nhất của nhà Omeyyad, đã bỏ tuyển cử và chọn con trai là Yazid I làm người thừa kế.
  • Abd al-Malik ibn Marwan (685 - 705), vị khalip thứ năm của nhà Omeyyad, đã cho dịch sang tiếng Ả Rập nhiều tác phẩm giá trị, lập một hệ thống tiền tệ mới, chiến tranh với Đông La Mã, và cho xây thánh đường 'Masjid Qubbat As-Sakhrah' ở Jerusalem.
  • Omar bin Abd al-Aziz (717 - 720), cũng gọi là Umar II, là một vị khalip rất ngoan đạo, và được một số người của hệ phái Sunni coi là vị khalip chính thống thứ năm.

Nhà Omeyyad đóng đô ở Damascus, nay là thủ đô Syria. Từ thời nhà Omeyyad trở đi, do sự truyền ngôi theo phụ hệ, nhiều khalip chỉ là những ông vua thừa hưởng ngôi báu của cha ông, mà không có tác phong của một nhà lãnh đạo tinh thần. Chức khalip tuy có người xưng, và thường có tranh chấp, nhưng nhiệm vụ lãnh đạo giáo dân thì thực sự ít khi có ai làm.

Tham khảo[sửa]

Liên kết ngoài[sửa]