Nhà nước Palestine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà nước Palestine[i]
دولة فلسطين
Dawlat Filasṭin
Flag of Palestine.svg Palestine COA (alternative).svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Palestine
Quốc ca

فدائي
Fida'i [cần dẫn nguồn]
My Redemption
Hành chính
Chính phủ De jure Dân chủ nghị viện[1] operating de facto as a semi-presidential system
Tổng thống Mahmoud Abbasb
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Thủ đô
MiddleEast.A2003031.0820.250m.jpg
BritishMandatePalestine1920.png
Flag of Palestine - long triangle.svg
Dome in Jerusalem The Capital City Of Palestine
1 Palestine Pound 1939 Obverse.jpg
عملة فلسطينية معدنية.jpg
British Mandate Palestinian passport.jpg
Palestine recognition only.svg
PALESTINE 1759
PALESTINE 1851
PALESTINE 1864
PALESTINE 1900
PALESTINE 1915
Palestine 1920
PALESTINE 1924
PALESTINE 1946
PALESTINE 1947
PALESTINE 2003
Thành phố lớn nhất Gazaa
Địa lý
Diện tích 6.220 km²
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2010 (tháng 7)) 4,260,636a người (hạng 124)
Dân số 7.428.260a[dubious ] người
Mật độ 707,7/km2 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) Tổng số: $11.95 billiona
HDI 0.731
Lái xe bên rightd

Nhà nước Palestine (tiếng Ả Rập: دولة فلسطين Dawlat Filasṭin)[2][3]nhà nước được Hội đồng quốc gia Palestine thuộc Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) công bố thành lập từ ngày 15 tháng 11 năm 1988[1] tại Alger. Theo đó, các vùng lãnh thổ Palestine[1] (được định nghĩa theo biên giới năm 1967[4]) và thủ đô dự kiến là Jerusalem.[ii][2][3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Palestinian Declaration of Independence (1988).
  2. ^ a ă â Baroud, Ramzy (2004). Trong Kogan Page. Middle East Review (ấn bản 27). London: Kogan Page. tr. 161. ISBN 978-0-7494-4066-4. 
  3. ^ a ă â Bissio, Robert Remo biên tập (1995). The World: A Third World Guide 1995–96. Montevideo: Instituto del Tercer Mundo. tr. 443. ISBN 978-0-85598-291-1. 
  4. ^ “Palestinian Authority applies for full UN membership”. United Nations Radio. 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011. : "...Tôi, với tư cách Tổng thống Nhà nước Palestine và Chủ tịch Hội đồng tối cao Tổ chức Giải phóng Palestine, đệ trình ngài Ban Ki-moon, Tổng thư kí Liên hiệp quốc, áp dụng quy chế thành viên đầy đủ của Liên hiệp quốc đối với Palestine dựa trên đường biên giới ngày 4 tháng 6 năm 1967, với thủ đô là Al-Kuds Al-Sharif."