Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hoà Pháp
République française (tiếng Pháp)
Flag of France.svg Armoiries république française.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Pháp
Khẩu hiệu
Liberté, Égalité, Fraternité
Tiếng Pháp: "Tự do, Bình đẳng, Bác ái"
Quốc ca
"La Marseillaise"
Ngôn ngữ chính thức = Tiếng Pháp¹
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
François Hollande
Manuel Valls
Thủ đô Paris
48°51′B, 2°20′Đ
Thành phố lớn nhất Paris
Địa lý
Diện tích 674.843 km² (hạng 42)
Diện tích nước 0,26% %
Múi giờ UTC+1; mùa hè: UTC+2
Lịch sử
Ngày thành lập
843
14 tháng 7 năm 1789
5 tháng 10 năm 1958
Năm 843 Hiệp ước Verdun
Năm 1789 Cướp ngục Bastille
Năm 1958 Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hòa Pháp
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 65.630.692[1] người (hạng 21)
Dân số 63.044.000 người
Mật độ 111 người/km² (hạng 93)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 1.661 tỷ Mỹ kim
Đơn vị tiền tệ Euro, Franc CFP (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .fr
¹ Có nhiều ngôn ngữ địa phương
Fr-map.png

Pháp (tiếng Pháp: Français), quốc danh hiện tại là Cộng hòa Pháp (République française), là một quốc gia nằm tại Tây Âu, có một số đảo và lãnh thổ nằm rải rác trên nhiều lục địa khác. Pháp có biên giới với Bỉ, Luxembourg, Đức, Thuỵ Sĩ, Ý, Monaco, AndorraTây Ban Nha. Tại một số lãnh thổ hải ngoại của mình, Pháp có chung biên giới trên bộ với Brasil, SurinameSint Maarten (Hà Lan). Pháp còn được nối với Anh Quốc qua Đường hầm Eo biển Manche, chạy dưới eo biển Manche.

Pháp là nước lớn nhất Tây Âu và lớn thứ ba ở châu Âu và có vùng đặc quyền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Những giá trị quan trọng của thể chế này được thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 (Déclaration des Droits de l'Homme et du Citoyen). Trong hơn 500 năm qua, Pháp là một cường quốc có ảnh hưởng văn hóa, kinh tế, quân sự và chính trị mạnh mẽ ở châu Âu và trên toàn thế giới.[2] Từ thế kỷ 17 đến 20, Pháp lập nên đế quốc thực dân lớn thứ hai trên thế giới bao gồm những vùng đất rộng lớn ở Bắc, Tây và Trung Phi, Đông Nam Á và nhiều đảo ở Caribbe và Thái Bình Dương.

Pháp là một nước dân chủ theo thể chế cộng hòa bán tổng thống trung ương tập quyền (unitary semi-presidential republic). Quốc gia này là một nước công nghiệp và phát triển, có nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới tính theo GDP, thứ chín tính theo sức mua tương đương và lớn thứ hai ở châu Âu theo GDP danh nghĩa.[3] Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá là "nước chăm sóc sức khỏe toàn thể" ("best overall health care") tốt nhất thế giới[4] và là nước được nhiều người đến tham quan nhất thế giới với 79,5 triệu khách nước ngoài hằng năm.[5]

Pháp có ngân sách quốc phòng danh nghĩa lớn thứ năm trên thế giới[6] và ngân sách quốc phòng bình quân đầu người lớn nhất Liên minh châu Âu, lớn thứ ba trong NATO. Nước này sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới[7] với khoảng 300 đầu đạn hạt nhân hoạt động vào 25 tháng 5, 2010.

Là nước có mạng lưới quan hệ ngoại giao lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ),[8] Pháp là một trong những nước sáng lập Liên minh châu Âu, nằm trong khu vực đồng eurokhối Schengen. Pháp là một thành viên sáng lập các tổ chức NATOLiên Hiệp Quốc, và là một trong năm thành viên có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Ngoài ra Pháp được xem là nước đứng đầu danh sách những quốc gia ngủ nhiều nhất Thế giới. Trung bình một người ở Pháp ngủ 8,83 giờ một ngày, cao nhất trong các quốc gia phát triển, theo số liệu mới nhất từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)[9].

Nguồn gốc quốc hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh xưng "Pháp" trong tiếng Việt là giản xưng của Pháp Lan Tây (Trung văn phồn thể: 法蘭西; giản thể: 法兰西), tên dịch theo lối dịch âm trong Trung văn của quốc hiệu nước Pháp.

Trong thư tịch Hán văn cổ của Việt Nam quốc hiệu nước Pháp còn được phiên âm là Pha Lang Sa (Hán văn: "坡郎沙" hoặc "葩郎沙"), Phú Lang Sa ("富郎沙" hoặc "富浪沙". Do chữ "浪" còn có âm đọc khác là "lãng" nên một số người đọc "富浪沙" là "Phú Lãng Sa"), gọi tắt là Lang Sa.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Pháp

Lãnh thổ chính của Pháp nằm tại Tây Âu, nhưng nước Pháp còn bao gồm một số lãnh thổ ở Bắc Mỹ, Caribe, Nam Mỹ, Nam Ấn Độ Dương, Thái Bình DươngNam Cực[10] (chủ quyền tuyên bố tại Nam Cực tuân theo Hệ thống Hiệp ước Nam Cực). Các lãnh thổ này có nhiều hình thức chính phủ khác biệt từ Tỉnh hải ngoại tới "lãnh địa hải ngoại".

Lãnh thổ chính của Pháp gồm nhiều vùng đặc điểm địa lý khác nhau, từ các đồng bằng ven biển ở phía bắc và phía tây cho đến những dãy núi phía đông nam (dãy An-pơ) và tây nam (dãy Pi-rê-nê). Điểm cao nhất Tây Âu nằm ở dãy Alps thuộc Pháp: đỉnh Mont Blanc cao 4.810 mét (15.781 ft)[11] trên mực nước biển. Có nhiều vùng độ cao lớn khác như Massif Central, Jura, VosgesArdennes là những nơi có nhiều đá và rừng cây. Pháp cũng có những hệ thống sông lớn như sông Loire, Rhone, Garonnesông Seine.

Với diện tích 674.843 kilômét vuông (260.558 mi²) [12], Pháp là nước rộng nhất Tây Âu và là nước rộng thứ 40 trên thế giới. Lãnh thổ chính của Pháp có diện tích 551.695 kilômét vuông (213.010 mi²), hơi rộng hơn YemenThái Lan, hơi nhỏ hơn Kenya và tiểu bang Texas của Mỹ và chiếm 81,8% diện tích nước Cộng hoà Pháp.

Nhờ những khu vực và lãnh thổ hải ngoại nằm rải rác trên tất cả các đại dương của hành tinh, Pháp sở hữu Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng thứ hai trên thế giới với diện tích 11.035.000 kilômét vuông (4.260.000 mi²), chỉ đứng sau Hoa Kỳ (11.351.000 km² / 4.383.000 mi²), nhưng trước Úc (8.232.000 km² / 3.178.000 mi²).[13] Vùng đặc quyền kinh tế Pháp chiếm gần 8% tổng diện tích mọi vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, trong khi diện tích đất liền Cộng hòa Pháp chỉ chiếm 0.45% tổng bề mặt Trái Đất.

Tương phản và đa dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp nổi tiếng trên thế giới là quốc gia có sự đa dạng dân tộc, kiến trúc và phong cảnh. Khoảng 50% dân số Pháp có nguồn gốc nước ngoài[cần dẫn nguồn], biến Pháp trở thành một trong những nước đa dạng dân tộc nhất trên thế giới. Những người di cư tới Pháp trước kia và gần đây đến từ khắp năm châu (Châu Phi, Châu Á, Châu Úc, Châu Âu và Châu Mỹ). Trung QuốcAnh Quốc là những nước có số di dân tới Pháp lớn nhất trong năm 2005. Pháp cũng là nơi có điểm cao nhất Châu Âu (Mont-Blanc 4.810 m; 15.780 ft) và điểm thấp nhất Châu Âu, Đồng bằng Rhone, (-5 m; -15 ft). Pháp nhỏ hơn Brasil mười bốn lần và chỉ bằng một nửa Ontario.Tuy nhiên, phong cảnh Pháp rất đa dạng thay đổi theo từng vùng, từ Paris và những vùng ngoại ô của nó cho tới những vùng đất cao thuộc dãy Alps cùng các thị trấn du lịch biển.

Mặt khác, Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay Trung tâm Troyes. Luật Gia đình Pháp đã có 200 năm tuổi và được viết từ thời Napoléon. Pháp cũng là nước phát triển cao với mạng lưới đường cao tốc rộng lớn và dày đặc (ví dụ: Pháp hơi nhỏ hơn California nhưng mạng lưới đường cao tốc của nó có chiều dài gấp đôi bang này), 32.000 kilômét (20.000 mi) đường sắt (SNCF), cùng với các khu trượt tuyết hiện đại và các khu thương mại lớn. Pháp cũng là nước có mức tăng trưởng kết nối Internet nhanh chóng (ADSLcáp quang tại Paris), và vào năm 2004, lần thứ ba liên tiếp, hệ thống chăm sóc y tế Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng thứ nhất thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Pháp

La Mã tới Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu đài Chambord

Các biên giới nước Pháp hiện đại gần tương tự như những biên giới của nước Gaule cổ, từng là nơi sinh sống của người Gaule Celt. Gaule bị La Mã của Julius Caesar chinh phục vào thế kỷ thứ nhất TCN, và người Gaule sau này đã chấp nhận ngôn ngữ Rôma (La tinh, đã du nhập vào ngôn ngữ Pháp) và văn hóa Rôma. Đạo Công giáo bắt đầu bén rễ tại đây từ thế kỷ thứ 2 và thứ 3 Công Nguyên, và bắt đầu có cơ sở vững chắc từ thế kỷ thứ tư và thứ năm tới mức St. Jerome đã viết rằng Gaule là vùng duy nhất "không dị giáo". Ở Thời trung cổ, người Pháp đã chứng minh điều này khi tự gọi mình là "Vương quốc Pháp Công giáo nhất."

Ở thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, biên giới phía đông của Gaule dọc theo sông Rhine bị các bộ lạc Gécmanh, chủ yếu là người Frank, xâm chiếm, và đó chính là nguồn gốc cho chữ "Francie". Cái tên "France" xuất phát từ tên một vương quốc phong kiến của các vị vua nhà Capetian nước Pháp xung quanh Paris. Vương quốc này tồn tại như một thực thể riêng biệt từ Hiệp ước Verdun (843), sau khi Charlemagne phân chia đế chế Carolingien thành Đông Francia, Trung FranciaTây Francia. Tây Francia chiếm vùng gần tương đương lãnh thổ nước Pháp hiện đại ngày nay.

Vương triều Carolingien cai trị Pháp cho tới năm 987, khi Hugues Capet, Công tước Pháp và Bá tước Paris, lên ngôi Vua Pháp. Những thế hệ sau của ông, các triều đại Capetian, ValoisBourbon dần thống nhất đất nước thông qua hàng loạt các cuộc chiến tranh và những vụ thừa kế đất đai. Chế độ phong kiến phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ 17 thời vua Louis XIV. Ở giai đoạn này Pháp có dân số đông nhất Châu Âu (xem Nhân khẩu Pháp) và có ảnh hưởng to lớn tới chính trị, kinh tế và văn hóa Châu Âu. Trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm kinh hoàng (1756 - 1763), Pháp đánh nhau với nước Anh ở châu Âu và cả các thuộc địa tại Ấn Độchâu Mỹ để tranh giành bá quyền.[14] Vào năm 1759, quân Pháp đaị bại trong nhiều trận đánh ở Canada và mất thành phố Quebec về tay quân Anh.[15] Không những thế, vào năm 1757, bằng một đòn giáng sấm sét, những chiến binh tinh nhuệ Phổ, với tinh thần kỷ cương cao độ, đã đại phá tan nát liên quân Pháp - Áo trong trận huyết chiến tại Rossbach.[16][17] Tới cuối kỳ này, Pháp đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Mỹ khi cung cấp tiền và một số vũ khí cho những người khởi nghĩa chống Đế quốc Anh.

Từ quân chủ tới nước Pháp hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ quân chủ tồn tại cho tới khi cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789. Vua Louis XVI và Hoàng hậu Marie Antoinette, bị giết cùng hàng nghìn công dân Pháp khác. Sau thời gian của một loạt những chính phủ tồn tại ngắn ngủi, Napoléon Bonaparte nắm quyền kiểm soát nền Cộng hòa năm 1799, tự phong mình làm Tổng tài, và sau này là Hoàng đế của cái hiện được gọi là Đế chế Pháp thứ nhất (1804–1814). Trong thời của các cuộc chiến tranh, ông đã chinh phục hầu hết lục địa Châu Âu và các thành viên gia đình Bonaparte được chỉ định làm vua tại các vương quốc mới được thành lập. Vào năm 1813, quân đội tinh nhuệ của Napoléon bị liên quân Phổ - Nga - Áo - Thụy Điển đập cho tan nát trong trận đánh kịch liệt tại Leipzig.[18]

Sau khi Napoléon bị đánh bại năm 1815 tại Trận Waterloo, nền quân chủ cũ Pháp được tái lập. Năm 1830, một cuộc khởi nghĩa dân sự đã thành lập ra Quân chủ tháng 7 lập hiến, tồn tại tới năm 1848. Nền Cộng hòa thứ hai ngắn ngủi chấm dứt năm 1852 khi Louis-Napoléon Bonaparte tuyên bố thành lập Đế chế Pháp thứ hai. Louis-Napoléon bị hất cẳng sau khi đại bại trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 và bị thay thế bởi nền Cộng hòa thứ ba. Pháp phải cống cho nước Phổ thắng trận một khoảng chiến phí lớn, lại còn bị kiệt quệ và suy thoái nghiêm trọng. Vào năm 1873, người lính Phổ cuối cùng đã rút khỏi đất Pháp.[19]

Eugène Delacroix - La Liberté guidant le peuple ("Thần tự do dẫn dắt Nhân dân"), một biểu tượng của Cách mạng Pháp 1830

Pháp sở hữu các thuộc địa dưới nhiều hình thức từ đầu thế kỷ 17 cho tới tận thập kỷ 1960. Trong thế kỷ 19 và 20, đế chế thuộc địa toàn cầu của họ lớn thứ hai thế giới chỉ sau Đế chế Anh. Thời đỉnh điểm, giữa năm 1919 và 1939, đế chế thuộc địa Pháp thứ hai vượt quá 12.347.000 kilômét vuông (4.767.000 sq. mi) đất liền. Gồm cả Mẫu quốc Pháp, tổng diện tích đất liền thuộc chủ quyền Pháp đạt tới 12.898.000 kilômét vuông (4.980.000 dặm vuông) trong thập kỷ 1920 và 1930, chiếm 8.6% diện tích đất liền thế giới.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quân Đức tiêu diệt được biết bao lính Pháp, đến nỗi quân Pháp khó thể hồi phục phải dựa dẫm vào quân Anh.[20] Kết thúc Chiến tranh, Pháp giành chiến thắng kiểu Pyrros, phải chịu những tổn thất to lớn cả về con người và vật chất (nên chẳng khác gì chiến bại vậy[21]) khiến họ trở nên suy yếu trong những thập kỷ tiếp sau. Những năm 1930 được đánh dấu bởi nhiều cuộc cải cách xã hội do Chính phủ Mặt trận Bình dân đưa ra.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau một trận đánh ngắn, dữ dội và mang tính sai lầm chiến lược, Pháp đại bại[22] giới lãnh đạo Pháp đã quyết định đầu hàng người Đức vào năm 1940. Chính sách hợp tác với người Đức, một hành động khiến một số người phản đối, dẫn tới việc thành lập Các lực lượng Pháp Tự do bên ngoài nước Pháp và Kháng chiến Pháp ở bên trong. Pháp được quân Đồng Minh giải phóng năm 1944.

Nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và đấu tranh nhằm lấy lại vị thế kinh tế, chính trị của một cường quốc. Pháp đã nỗ lực giữ vững đế chế thuộc địa của mình nhưng nhanh chóng rơi vào khủng hoảng. Nỗ lực miễn cưỡng năm 1946 nhằm giành lại quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp dẫn tới cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, chấm dứt với thất bại và việc rút quân của họ năm 1954. Chỉ vài tháng sau, Pháp phải đối mặt với một cuộc xung đột mới và ác liệt hơn cuộc chiến tại nước thuộc địa chính và lâu đời nhất của họ, Algérie.

Cuộc tranh luận việc có nên giữ quyền kiểm soát Algeria hay không sau này đã khiến hơn 1 triệu người định cư Châu Âu tại đây trở về nước, gây ra sự bất đồng và hầu như đã dẫn tới nội chiến. Năm 1958, nền Đệ tứ Cộng hòa ốm yếu và bất ổn phải nhường chỗ cho nền Đệ Ngũ Cộng hoà, với việc mở rộng quyền lực tổng thống; trong vai trò này, Charles de Gaulle đã tìm cách củng cố đất nước và tiến hành những bước đi nhằm chấm dứt chiến tranh. Chiến tranh giành Độc lập Algeria chấm dứt với các cuộc đàm phán hòa bình năm 1962 với việc Algeria giành lại độc lập.

Trong những thập kỷ gần đây, sự hòa giải và hợp tác của Pháp với Đức đóng vai trò trung tâm của họ trong việc hội nhập chính trị và kinh tế của Liên minh Châu Âu, gồm việc phát hành đồng tiền chung Châu Âu euro tháng 1, 1999. Pháp luôn là nước đứng đầu trong số các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu tìm cách khai thác lợi thế của một đồng tiền chung nhằm tạo ra một Liên minh Châu Âu với quan điểm thống nhất, đồng nhất chính trị, quốc phòng và an ninh ở mức cao hơn. Tuy nhiên, cử tri Pháp bỏ phiếu phản đối Hiệp ước thành lập một Hiến pháp chung Châu Âu tháng 5 năm 2005.

Chính phủ và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Các nguyên tắc căn bản mà Cộng hòa Pháp phải tôn trọng được ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789.
Bài chính về chính trị và chính quyền của France có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của France.

Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hòa được thông qua sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 28 tháng 9, 1958. Hiến pháp mở rộng to lớn quyền lực hành pháp so với Nghị viện.

Theo hiến pháp, Tổng thống Cộng hòa Pháp được bầu cử theo quy tắc phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm (trước kia là 7 năm). Sự phân xử của Tổng thống đảm bảo hoạt động thường xuyên của các cơ cấu quyền lực công cộng và tính liên tục của quốc gia. Tổng thống đề cử Thủ tướng, là người cầm đầu nội các, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, và ký kết các hiệp ước.

Nghị viện Pháp (Parlement français) theo chế độ lưỡng viện gồm Quốc hội (Assemblée Nationale) và Thượng nghị viện (Sénat). Các nghị sĩ quốc hội được gọi là dân biểu (député) đại diện cho các khu vực bầu cử địa phương và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội Pháp có quyền bãi miễn chính phủ, vì thế phe chiếm đa số trong Quốc hội sẽ quyết định sự lựa chọn chính phủ. Các thượng nghị sĩ (sénateur) được lựa chọn theo bầu cử với nhiệm kỳ 6 năm (trước kia là 9 năm), và một nửa số ghế được bầu lại sau mỗi ba năm bắt đầu từ tháng 9, 2008.[23]

Quyền lực lập pháp của Thượng nghị viện bị giới hạn: trong trường hợp có sự bất đồng giữa lưỡng viện, Quốc hội sẽ là bên có tiếng nói cuối cùng[24]. Chính phủ có ảnh hưởng lớn trong việc đưa ra chương trình nghị sự của Quốc hội và Thượng nghị viện.

Trong ba mươi năm qua, chính trị Pháp có đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị giữa hai phe: cánh tả, tập trung quanh Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp (Parti socialiste), một đảng trung tảcánh hữu tập trung quanh Đảng Tập hợp vì nền Cộng hoà (RPR) và hậu duệ của nó là Union pour un Mouvement Populaire (UMP), một đảng trung hữu theo chủ nghĩa bảo thủ. Đảng Pháp cánh hữu đã có bước phát triển lớn đầu thập kỷ 1980 khi lợi dụng sự lo ngại của cử tri về sự thụt lùi của đất nước, sự 'tan rã quốc gia' kết quả của quá trình nhập cư và toàn cầu hóa hô hào ủng hộ những bộ luật nhập cư khắt khe hơn. Sau này số lượng cử tri ủng hộ họ dừng ở mức ổn định khoảng 16%.

Chính sách đối ngoại của Pháp được hình thành phần lớn với tư cách thành viên Liên minh Châu Âu. Ngày 29 tháng 5, 2005 cử tri Pháp đã bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý với khoảng 55% số phiếu phản đối phê chuẩn Hiệp ước thành lập Hiến pháp chung Châu Âu. Kết quả cuộc bầu cử được dư luận rộng rãi coi là mang tính quan trọng lớn với tương lai phát triển của Liên minh Châu Âu, cũng như khả năng giữ vai trò lãnh đạo của Pháp ở Châu Âu.

Pháp là thành viên của Văn phòng Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC), Hiệp hội Ấn Độ Dương (COI), là thành viên liên kết của Hiệp hội Quốc gia Caribe (ACS) và là thành viên đứng đầu Tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp (OIF) với 51 nước sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn hay một phần.

Pháp cũng là nơi đóng trụ sở của OECD, UNESCO, Interpol, và Văn phòng Trọng lượng và Đo lường Quốc tế chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn hệ mét.

Các khu vực hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp được chia thành 26 đại khu: 22 trong Pháp quốc bản thổ (21 ở bản thổ; 1 là "lãnh thổ tập thể" Corse, trên đảo Corse, thường được gọi là một "đại khu" theo cách nói thông thường), và 4 đại khu hải ngoại. Các vùng được chia tiếp thành 100 hành tỉnh. Các hành tỉnh được đánh số (chủ yếu theo bảng chữ cái) và số này được dùng làm mã bưu chính cũng như mã trên bảng số xe.

Các hành tỉnh lại được chia tiếp thành 341 chuyên khu, nhưng các chuyên khu không có hội đồng lập pháp theo bầu cử và chỉ là đơn vị hành chính của đất nước. Các chuyên khu được chia thành 4.032 hương, các hương này cũng chỉ có ý nghĩa hành chính. Cuối cùng, các hương được chia thành 36.682 công xã, đây là các chính quyền tự quản với hội đồng được bầu cử riêng biệt (hội đồng tự quản).

Đại khu, hành tỉnh và công xã đều là "lãnh thổ tập thể", có nghĩa họ có một cơ quan hành pháp và lập pháp riêng biệt, trong khi các chuyên khu và hương chỉ đơn giản là các đơn vị hành chính. Tới tận năm 1940, các chuyên khu vẫn là các lãnh thổ tập thể với một cơ quan lập pháp bầu cử riêng biệt (hội đồng chuyên khu), nhưng dưới thời Vichy Pháp cơ quan này đã bị ngừng hoạt động và chính thức bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp năm 1946. Theo lịch sử, các hương cũng từng là các lãnh thổ chung với cơ quan lập pháp riêng biệt. Bốn hành tỉnh hải ngoại (cũng tức là bốn đại khu hải ngoại) là một phần trong tổng thể nước Pháp (và Liên minh Châu Âu) và vì thế có quy chế tương tự như các hành tỉnh thuộc bản thổ.

Ngoài 26 đại khu và 100 hành tỉnh, Cộng hòa Pháp còn gồm sáu khu vực hải ngoại, một "thực thể địa phương có địa vị đặc thù"(New Caledonia), một lãnh địa hải ngoại và một hòn đảo ở Thái Bình Dương. Các khu vực hải ngoại và lãnh địa hải ngoại là một phần hình thành nên Cộng hòa Pháp nhưng không hình thành nên Liên minh Châu Âu hay vùng tài chính của nó. Các lãnh thổ Thái Bình Dương tiếp tục sử dụng đồng franc Thái Bình Dương có giá trị ổn định với đồng euro. Trái lại, bốn đại khu (hành tỉnh) hải ngoại sử dụng đồng franc Pháp và hiện dùng đồng euro.

Pháp cũng vẫn giữ quyền kiểm soát một số hòn đảo nhỏ không thường xuyên có người ở tại Ấn Độ DươngThái Bình Dương: Bassas da India, Đảo Clipperton, Đảo Europa, Quần đảo Glorioso, Đảo Juan de Nova, Đảo Tromelin. Xem Các hòn đảo thuộc quyền kiểm soát của Pháp tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vận tải Pháp

Hệ thống đường sắt của Pháp dài 31,840 kilometres (19,784 mi), là hệ thống đường sắt lớn và bao quát nhất trong các nước Tây Âu. Hệ thống này được điều hành bởi SNCF, các loại tàu cao tốc bao gồm Thalys, EurostarTGV, đặc biệt loại tàu TGV có thể đạt vận tốc 320 km/h khi sử dụng vào mục đích thương mại. Trong khi đó Eurostar, cùng với Eurotunnel Shuttle, kết nối với vương quốc Anh thông qua Đường hầm eo biển Manche. Hệ thống đường sắt của Pháp kết nối với tất cả các quốc gia châu Âu, trừ Andorra. Hệ thống giao thông đô thị tại quốc gia cũng rất phát triển với các loại hình giao thông ngầm, tàu điện, xe bus kết hợp.

Ở Pháp có khoảng 893,300 kilometres (555,071 mi) đường, trong đó Paris được bao phủ bởi một hệ thống đường và đường quốc lộ dày đặc nối liền với mọi miền của đất nước. Các tuyến đường của Pháp cũng nối tới các quốc gia châu Âu láng giềng như Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Monaco, Đức, ÝAndorra. Ở Pháp không có thuế đường hàng năm; tuy nhiên, việc sử dụng đường xa lộ đòi hỏi thu thuế đi đường trừ các khu vực lân cận của các xã lớn. Thị trường ô tô tại Pháp bị thống trị bởi các hãng xe nội địa như Renault (27% xe bán ra năm 2003), Peugeot (20.1%) và Citroën (13.5%). Hơn 70% xe bán ra năm 2004 sử dụng động cơ diesel, vượt xa các loại xe sử dụng động cơ xăng hay khí hóa lỏng. Pháp sở hữu cây cầu cao nhất thế giới: cầu cạn Millau và đã xây dựng nhiều cây cầu quan trọng như Pont de Normandie.

Ở Pháp có 478 sân bay, bao gồm cả các cánh đồng dành cho máy bay hạ cánh. Sân bay quốc tế Charles de Gaulle nằm ở ngoại ô Paris là sân bay lớn và nhộn nhịp nhất nước Pháp, chịu trách nhiệm cho phần lớn giao thương của quốc gia và kết nối Paris với các địa điểm trên thế giới. Air France là hãng hàng không quốc gia của Pháp, ngoài ra ở Pháp còn có rất nhiều hãng hàng không tư nhân cung cấp dịch vụ cho các chuyến bay quốc tế và nội địa. Tại Pháp có 10 cảng lớn, trong đó lớn nhất là cảng ở Marseille, đây cũng là cảng biển lớn nhất giáp Địa Trung Hải. 14,932 kilometres (9,278 mi) đường sông chảy qua Pháp bao gồm Canal du Midi kết nối Địa Trung Hải với Đại Tây Dương thông qua sông Garonne.

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quân đội Pháp

Các lực lượng vũ trang Pháp được chia thành bốn nhánh:

Độ tuổi quân sự là 17. Từ Chiến tranh giành độc lập Algeria, chế độ nghĩa vụ quân sự dần giảm bớt và chính phủ Jacques Chirac đã bãi bỏ nó năm 1996.

Trong số các nền kinh tế Liên minh Châu Âu, Pháp và Anh Quốc là những nước có tỷ lệ chi tiêu quân sự lớn: Pháp chiếm 2.6% GDP, Anh Quốc 2.4%, theo các con số năm 2003 của NATO. Hai nước này chiếm 40% chi tiêu quân sự của EU. Tại hầu hết các nước thuộc khối này, chi tiêu quân sự chỉ chưa tới 1.5% GDP. Khoảng 10% ngân sách quốc phòng Pháp chi cho force de frappe, hay vũ khí hạt nhân.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc Airbus A380 đầu tiên hoàn thành tại buổi lễ "Giới thiệu A380" ở Toulouse ngày 18 tháng 1, 2005.
Bài chi tiết: Kinh tế Pháp

Kinh tế Pháp bao gồm số lượng lớn doanh nghiệp tư nhân (gần 2.5 triệu công ty đã đăng ký) với sự can thiệp đáng kể (dù đang giảm bớt) từ phía chính phủ (xem chính sách kinh tế chỉ huy). Chính phủ giữ ảnh hưởng khá lớn trên những lĩnh vực cơ sở hạ tầng quan trọng, sở hữu đa số vốn trong các ngành đường sắt, điện, hàng không và các công ty viễn thông. Nước này đã dần nới lỏng kiểm soát từ đầu thập kỷ 1990. Chính phủ dần bán ra các cổ phần đang nắm giữ trong France Télécom, Air France, cũng như trong các ngành bảo hiểm, ngân hàng và công nghiệp quốc phòng.

Là một thành viên nhóm các nước công nghiệp phát triển nhất thế giới G8, kinh tế Pháp xếp hàng thứ năm thế giới năm 2012, sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung HoaAnh Quốc. Pháp là một trong 10 thành viên Liên minh Châu Âu đầu tiên sử dụng đồng Euro ngày 1 tháng 1, 1999, và các đồng tiền xu cũng như tiền giấy euro đã hoàn toàn thay thế đồng franc của Pháp đầu năm 2002.

Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), trong năm 2004 Pháp là nhà xuất khẩu hàng hóa sản xuất đứng hàng thứ năm thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đứng trước Anh Quốc. Nước này cũng đứng thứ tư thế giới về nhập khẩu hàng hóa sản xuất (sau Hoa Kỳ, Đức, và Trung Quốc, nhưng trước Anh Quốc và Nhật Bản). Năm 2003 Pháp là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng hàng thứ hai trong số các nước OECD ở mức 47 tỷ dollar, xếp sau Luxembourg (nơi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là sự chuyển tiền tới các ngân hàng đóng trụ sở tại đó) nhưng trước Hoa Kỳ (39.9 tỷ dollar), Anh Quốc (14.6 tỷ dollar), Đức (12.9 tỷ dollar), hay Nhật Bản (6.3 tỷ dollar). Cùng trong năm này, các công ty Pháp đã đầu tư 57.3 tỷ dollar ra ngoài đất nước khiến Pháp trở thành nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn thứ hai khối OECD, sau Hoa Kỳ (173.8 tỷ dollar), và trước Anh Quốc (55.3 tỷ dollar), Nhật Bản (28.8 tỷ dollar) và Đức (2.6 tỷ dollar).

Trong báo cáo OECD in Figures xuất bản năm 2005, OECD cũng ghi chú rằng Pháp hiện dẫn đầu các nước G7 về hiệu năng sản xuất (tính theo GDP trên giờ làm việc).[25] Năm 2004, GDP trên giờ lao động tại Pháp là $47.7, xếp hạng trên Hoa Kỳ ($46.3), Đức ($42.1), Anh Quốc ($39.6), hay Nhật Bản ($32.5).[26]

Dù có năng suất trên giờ làm việc cao hơn Hoa Kỳ, GDP trên đầu người của Pháp lại thấp hơn khá nhiều so với GDP trên đầu người Hoa Kỳ, trên thực tế chỉ tương đương mức GDP trên đầu người của các nước Châu Âu khác, trung bình thấp hơn 30% so với mức của Hoa Kỳ. Lý do giải thích vấn đề này là phần trăm dân số tham gia lao động của Pháp thấp hơn so với Mỹ, khiến GDP trên đầu người của Pháp ở mức thấp dù có năng suất lao động cao hơn. Trên thực tế, Pháp là một trong những nước có tỷ lệ người lao động trong độ tuổi 15-64 thấp nhất khối OECD. Năm 2004, 68.8% dân số Pháp trong độ tuổi 15-64 có việc làm, so với 80.0% tại Nhật Bản, 78.9% tại Anh Quốc, 77.2% tại Hoa Kỳ, và 71.0% tại Đức.[27] Hiện tượng này là kết quả của tình trạng thất nghiệp hầu như trong ba mươi năm liền tại Pháp, dẫn tới ba hậu quả làm giảm sút số lượng dân số lao động: khoảng 9% dân số ở độ tuổi lao động không có việc làm; sinh viên phải trì hoãn càng lâu càng tốt thời gian tham gia thị trường lao động của mình; và cuối cùng, chính phủ Pháp đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích người lao động nghỉ hưu sớm ngay từ độ tuổi 50, dù những biện pháp này đang được giảm bớt.

Như các nhà kinh tế đã từng nhắc đi nhắc lại trong những năm qua, vấn đề chính của nền kinh tế Pháp không phải là năng suất lao động. Theo họ, vấn đề chính là cải cách cơ cấu, nhằm tăng số lượng người lao động trên tổng dân số. Các nhà kinh tế theo lý thuyết Tự doKeynesian đưa ra những biện pháp khác nhau cho vấn đề này. Cánh hữu coi số giờ lao động thấp và việc miễn cưỡng cải cách thị trường lao động là những điểm yếu trong nền kinh tế Pháp, trong khi cánh tả coi việc thiếu những chính sách hỗ trợ công bằng xã hội của chính phủ là điều cần giải quyết. Những nỗ lực gần đây của chính phủ nhằm điều chỉnh thị trường lao động trẻ, chống thất nghiệp đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ.

Với hơn 75 triệu du khách nước ngoài năm 2003, Pháp được xếp hạng là điểm đến hàng đầu thế giới, trước Tây Ban Nha (52.5 triệu) và Hoa Kỳ (40.4 triệu). Khả năng thu hút du khách này nhờ có các thành phố với nhiều di sản văn hoá (đứng đầu là Paris), các bãi biển và các khu nghỉ dưỡng ven biển, các khu trượt tuyết, các vùng nông thôn đẹp và yên bình thích hợp với du lịch xanh.

Pháp sở hữu một ngành công nghiệp hàng không quan trọng đứng đầu là tổ hợp hàng không Châu Âu Airbus và là cường quốc Châu Âu duy nhất (ngoại trừ Nga) có sân bay vũ trụ (Centre Spatial Guyanais) riêng của mình. Pháp cũng là nước độc lập nhất về năng lượng ở phương Tây nhờ đã đầu tư lớn vào năng lượng nguyên tử, khiến nước này trở thành quốc gia gây phát sinh carbon dioxide thấp nhất trong số các nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Nhờ những khoản đầu tư lớn vào kỹ thuật nguyên tử, khoảng 77% nhu cầu năng lượng của Pháp được cung cấp từ các nhà máy điện nguyên tử.

Với những vùng đất rộng rãi và màu mỡ, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại cũng như các biện pháp hỗ trợ của EU khiến Pháp trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu Châu Âu. Lúa mì, gia cầm, sữa, thịt bò, thịt lợn cũng như các sản phẩm thức ăn và rượu vang Pháp nổi tiếng trên thế giới là các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu của nước này. Tổng các khoản trợ cấp nông nghiệp của EU dành cho Pháp lên tới 14 tỷ dollar.

Từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai chính phủ Pháp đã đưa ra những nỗ lực to lớn nhằm hợp tác ngày càng sâu với Đức, cả về mặt kinh tế và chính trị. Hiện nay, hai nước này thường được coi là những quốc gia "trung tâm" trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn nữa trong Liên minh Châu Âu.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Lyon
Bài chi tiết: Nhân khẩu Pháp

Từ thời tiền sử, Pháp đã là ngã tư đường của thương mại, di cư và các cuộc xâm chiếm. Bốn tộc người Châu Âu chính - tiền-Celtic, Celtic (Gallic và Breton), Latin, và Germanic (Franks, Visigoths, Burgundians, Vikings) - đã hòa trộn với nhau trong nhiều thế kỷ để tạo nên dân số hiện nay của Pháp. Bên cạnh các sắc tộc "lịch sử", những sắc dân mới đã di cư tới Pháp từ thế kỷ 19: người Bỉ, người Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Rumani, Armenia, người Do Thái từ Đông Âu và Maghreb, người Ả rập và Berber từ Maghreb, người da đen Châu Phi và Caribe, người Hán Trung Quốc, là những sắc dân đông đảo nhất. Theo ước tính, hiện nay 40% dân số Pháp là hậu duệ của những người di cư đến đây, khiến Pháp trở thành một trong những quốc gia đa dạng sắc tộc nhất thế giới, dù vẫn là một đất nước Gallic. Tuy nhiên, những người nhập cư từ các nước Châu Âu khác có thời gian hòa nhập ngắn, trong khi những nhóm người không Châu Âu thường hòa nhập chậm chạp vào xã hội mới vì các khác biệt văn hóa cũng như phân biệt xã hội lớn hơn.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ thế kỷ 19, lịch sử phát triển dân số Pháp bắt đầu trở nên khác biệt rõ nét so với Thế giới Phương Tây. Không như phần còn lại của Châu Âu, Pháp không trải qua thời kỳ phát triển dân số mạnh trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Trái lại, ở nửa sau thế kỷ 20 dân số nước này lại tăng nhanh hơn các nước Châu Âu khác và vì thế cũng ở mức cao hơn trong các thế kỷ trước.

Sau năm 1974, mức tăng dân số Pháp trở nên ổn định, và hạ xuống mức thấp nhất trong thập kỷ 1990 với mức tăng hàng năm 0.39%, tương tự với Châu Âu vốn đang ở giai đoạn giảm sút dân số. Tuy nhiên, những kết quả đầu tiên của cuộc điều tra dân số năm 2004 của Pháp đã làm các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên lớn. Cuộc điều tra cho thấy mức tăng dân số đã lại tăng mạnh sau cuộc điều tra năm 1999, một điều không ai từng nghĩ tới trước đó. Từ năm 1999 đến năm 2003, mức tăng dân số hàng năm là 0.58%. Năm 2004, tốc độ tăng dân số ở mức 0.68%, hầu như tương đương với Bắc Mỹ. Năm 2004 cũng là năm tốc độ tăng dân số Pháp đạt mức cao nhất kể từ năm 1974. Mức tăng dân số của Pháp vượt xa các nước Châu Âu (ngoại trừ Cộng hòa Ireland). Năm 2003, tăng trưởng dân số tự nhiên Pháp (trừ nhập cư) hầu như chiếm toàn bộ mức tăng trưởng dân số tự nhiên Châu Âu: dân số Liên minh Châu Âu tăng 216.000 người (không tính nhập cư), trong số đó 211.000 là từ riêng nước Pháp, và 5.000 từ toàn bộ các nước khác cộng lại. Năm 2004 tăng trưởng dân số tự nhiên đạt 256.000, nhưng hiện ta chưa có con số cụ thể của các thành viên Liên minh Châu Âu khác.

Những kết quả không ngờ đó đưa lại những hậu quả lớn cho tương lai. Hiện tại, Pháp là nước có dân số đông thứ ba Châu Âu, sau NgaĐức. Trước kia, các nhà nhân khẩu học cho rằng tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ đạt mức 64 triệu người, nhưng hiện nay họ cho rằng ước tính đó quá thấp khi so sánh với mức độ tăng trưởng dân số thập kỷ 1990. Hiện nay các nhà nhân khẩu học ước tính, tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ là 75 triệu người, và lúc đó Pháp sẽ là nước đông dân nhất Liên minh Châu Âu, trên Đức (71 triệu), Anh Quốc (59 triệu), và Ý (43 triệu).

Năm 2005, tỷ lệ sinh và khả năng sinh sản tiếp tục tăng. Tỷ lệ sinh tự nhiên trên tỷ lệ tử tăng tới 270.100. Tỷ lệ sinh sản trong suốt cuộc đời tăng tới mức 1,94 năm 2005, từ mức 1,92 năm 2004. Số lượng nhập cư thực hơi giảm xuống còn 97.500 năm 2005. Tại Pháp, nhập cư chiếm một phần tư tổng tăng dân số—mức trung bình của toàn Châu Âu là 80%. [28][29] Nếu những ước tính đó là chính xác, nó có thể làm thay đổi toàn bộ sự cân bằng quyền lực tại Brussels. Đây sẽ là lần đầu tiên từ những năm 1860 Pháp trở thành quốc gia có dân số lớn nhất tại Châu Âu (ngoại trừ Nga). Vào giữa năm 2004 EU có 460 triệu dân, 13,6% trong số đó sống tại Pháp (gồm cả những khu vực hải ngoại). Tới năm 2050 ước tính dân số Liên minh Châu Âu (của 25 nước thành viên hiện tại) sẽ giảm xuống còn 445 triệu người, trong số đó 17,5% sẽ sống tại Pháp.

Theo Cao ủy Liên hiệp quốc về Người tị nạn (UNHCR), số lượng người đang xin tị nạn chính trị tại Pháp đã tăng khoảng 3% trong giai đoạn 2003 và 2004, trong khi ở cùng thời kỳ đó, số đơn xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ giảm khoảng 29%. Vì thế, Pháp đã thay thế Hoa Kỳ trở thành điểm đến hàng đầu cho những người tị nạn chính trị năm 2004.

Một vấn đề lo ngại chính trị dai dẳng chính là sự giảm sút dân số nông thôn. Trong giai đoạn 1960-1999 mười lăm khu vực nông nghiệp đã gặp phải vấn đề giảm sút dân số. Trường hợp nặng nề nhất, dân số Creuse đã giảm 24%.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức duy nhất của Pháp là tiếng Pháp, theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, tại Mẫu quốc Pháp nhiều ngôn ngữ địa phương như: các biến thể tiếng Đức miền cao (được gọi là tiếng AlsaceĐức Lorraine), Occitan (gồm GasconProvençal), các thổ ngữ Oïl (như PicardPoitevin-Saintongeais), Basque, Breton, Catalan, CorseFranco-Provençal. Cũng có một số ngôn ngữ thỉnh thoảng được sử dụng hay được hiểu khác, đa số bởi những người có tuổi. Tương tự, có nhiều ngôn ngữ được dùng tại các lãnh thổ và khu vực hải ngoại Pháp: các ngôn ngữ Créole, các ngôn ngữ thổ dân Châu Mỹ, các ngôn ngữ Đa Đảo, các ngôn ngữ Tân Calédonie, Comoria. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và hệ thống trường công lập cho tới gần đây vẫn không khuyến khích sử dụng các ngôn ngữ đó. Hiện chúng được dạy tại một số trường, dù tiếng Pháp vần là ngôn ngữ chính thức duy nhất của chính phủ, địa phương hay quốc gia. Một số ngôn ngữ của những người nhập cư cũng được sử dụng tại Pháp, đặc biệt tại các thành phố lớn: tiếng Bồ Đào Nha, Ả rập Maghreb, nhiều ngôn ngữ Berber, nhiều loại ngôn ngữ Hạ Sahara Châu Phi, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, các biến thể nói tiếng Trung (nhiều nhất là Ngô ngữ, tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu, và Quan thoại), tiếng Việt, và tiếng Khmer cũng thường được sử dụng.

Nhiều người Pháp có thể sử dụng ít nhất một ngoại ngữ (45% có thể tham gia giao tiếp bằng một ngôn ngữ nước ngoài theo một nghiên cứu của Eurobarometer 62,4 [1] thực hiện năm 2005), đặc biệt tại các thành phố lớn và các vùng biên giới như Pyrénées, Alsace, hay Alps. Tiếng Anh (34%), tiếng Tây Ban Nha (10%), tiếng Đức (7%) và tiếng Ý được sử dụng theo nhiều mức độ thành thạo khác nhau và nhiều gia đình sống dọc biên giới sử dụng thành thạo cả hai thứ tiếng.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc điều tra dân số năm 1999, INSEE đã lựa chọn 380.000 người trưởng thành trên khắp Chính quốc Pháp và đặt các câu hỏi về tình trạng gia đình. Một trong những câu hỏi về ngôn ngữ mà cha mẹ họ sử dụng với họ trước khi lên 5 tuổi. Đây là lần đầu tiên những thống kê nghiêm túc về tỷ lệ ngôn ngữ mẹ đẻ được lưu trữ vào máy tính tại Pháp. Kết quả đã được công bố trong cuốn Enquête familiale, Insee, 1999.

Đây là danh sách 9 loại ngôn ngữ mẹ đẻ thông dụng nhất tại Pháp dựa trên Enquête familiale. Cần đọc phần các ghi chú tại phần Các ngôn ngữ trong bài viết về Pháp để hiểu chính xác nghĩa các con số.

Thứ tự Ngôn ngữ Số lượng người Tỷ lệ dân số trưởng thành Ghi chú
1 Tiếng Pháp 39.360.000 86% Con số thực sự đối với toàn bộ dân số xấp xỉ 90%, xem các ghi chú.
2 Tiếng Đứccác biến thể High German (Alsatian, Lorraine German...) 970.000 2.12% Alsatian (600.000; 1.44%), German chuẩn (210.000; 0.46%), Lorraine German (100.000; 0.22%)
3 Ả Rập (chủ yếu là Maghreb Ả Rập) 940.000 2.05%
4 các ngôn ngữ Oc (Languedocian, Gascon, Provençal...) 610.000 1.33% Khoảng 1.060.000 (2.32%) người khác cũng sử dụng ở một số mức độ.
5 Tiếng Bồ Đào Nha 580.000 1.27%
6 Các tiếng Oïl (Picard, Gallo, Poitevin-Saintongeais...) 570.000 1.25% Khoảng 850.000 (1.86%) cũng sử dụng ở một số mức độ
7 Tiếng Ý (và các thổ ngữ) 540.000 1.19%
8 Tiếng Armenia (và các thổ ngữ) 500.000 1.1%
9 Tiếng Tây Ban Nha 485.000 1.06%
10 Breton 280.000 0,61% Khoảng 405.000 (0,87%) người khác có sử dụng ở một số mức độ.
11 Khoảng 400 ngôn ngữ khác
(tiếng Ba Lan, các ngôn ngữ Berber, Đông Á, Catalan, Franco-Provençal, Corse, Basque...)
2.350.000 5,12% Trong số đó tiếng Anh: 115.000 (0,25% tổng dân số trưởng thành)
Tổng cộng 45.762.000 102% 46.680.000 gồm cả 2% số người có tiếng Pháp hay ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ được tính hai lần

Nếu thêm những người có tiếng mẹ đẻ và những người từng được sử dụng một ngôn ngữ trước 5 tuổi thì năm ngôn ngữ lớn nhất tại Chính quốc Pháp là (cần lưu ý phần trăm cộng vào lớn hơn 100%, bởi vì nhiều người được tính hai lần):

  • Pháp: 42.100.000 (92%)
  • Các ngôn ngữ Oc: 1.670.000 (3,65%)
  • Tiếng Đức và các phương ngữ Đức: 1.440.000 (3,15%)
  • Các ngôn ngữ Oïl: 1.420.000 (3,10%)
  • Ả Rập: 1.170.000 (2,55%)

Các thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng đô thị Mẫu quốc có hơn 100.000 dân

Các thành phố lớn theo số dân gồm (ngoại trừ các thành phố vùng Île-de-France):

Aix-en-Provence, Ajaccio, Albi, Amiens, Angers, Angoulême, Annecy, Antibes, Arles, Avignon, Bastia, Beauvais, Belfort, Besançon, Béziers, Blois, Cahors, Bordeaux, Bourges, Brest, Brive-la-Gaillarde, Caen, Calais, Cannes, Carcassonne, Chalon-sur-Saône, Châlons-en-Champagne, Chambéry, Charleville-Mézières, Châteauroux, Cholet, Clermont-Ferrand, Colmar, Dijon, Dunkerque, Évreux, Fréjus, Grenoble, Hyères, La Rochelle, La Roche-sur-Yon, Le Havre, Le Mans, Lille, Limoges, Lorient, Lourdes, Lyon, Marseille, Metz, Montauban, Montpellier, Mulhouse, Nancy, Nantes, Narbonne, Nice, Nîmes, Niort, Orléans, Paris, Pau, Perpignan, Poitiers, Quimper, Reims, Rennes, Roubaix, Rouen, Saint-Brieuc, Saint-Étienne, Saint-Malo, Saint-Nazaire, Saint-Quentin, Strasbourg, Tarbes, Toulon, Toulouse, Tourcoing, Tours, Troyes, Valence, Vannes, Villeneuve-d'Ascq, and Villeurbanne.

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Pháp

Giáo dục Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giáo dục ở Pháp

Năm 1802, Napoléon Bonapart thành lập ra lyceé [30] (tức chế độ cấp 2 ở Pháp), và tất cả các học sinh từ 13 tuổi[31] đến 16 tuổi [32] ở Pháp đều phải đi học cấp 2.

Hiện nay, học sinh Pháp phải học qua 3 giai đoạn: tiểu học, trung học cơ sởđại học (không có trung học phổ thông). Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế, phối hợp với OECD, cho thấy hệ thống giáo dục của Pháp hiện đứng thứ 25, không cao cũng không thấp so với mức đánh giá trung bình của OECD.[33] Điều đó chứng tỏ giáo dục Pháp rất phát triển.

Thể thao Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Pháp, những môn thể thao phổ biến gồm bóng đá, judo và tennis [34]. Đã có nhiều sự kiện thể thao lớn diễn ra ở nước Pháp như là World Cup 1938World Cup 1998.[35]

Hàn lâm viện Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn học Pháp

Nền văn học Pháp được nhiều người nhắc đến với những tên tuổi còn mãi với thời gian như Alexandre Dumas, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Jules Verne, Guy de Maupassant, Hector Malot.....

Nghệ thuật Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách nhân vật Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ẩm thực Pháp

Pháp là một đất nước có nghệ thuật ẩm thực tinh tế và phong phú. Người Pháp rất sành ăn và xem trọng chuyện ăn uống. Đặc biệt là thiên đường bánh như: bánh mì mang một vị và một ấn tượng đặc biệt cho người thưởng thức bánh crepe với 2 vị mặn ngọt flan (caramem) làm từ trứng, sữa,... văn hóa ẩm thực đa dạng đã tạo nên một dấu ấn khó quên cho những người du lịch ở pháp.

Điện ảnh Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Điện ảnh Pháp

Điện ảnh Pháp là nền điện ảnh lâu đời nhất thế giới.

Âm nhạc Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày lễ tại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu xã hội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Marianne[sửa | sửa mã nguồn]

Marianne và mũ Phrygian
Bài chi tiết: Marianne

Marianne là một biểu tượng của Cộng hòa Pháp. Cô là một hình ảnh biểu tượng của tự do và Cộng hòa từng xuất hiện lần đầu tiên ở thời Cách mạng Pháp. Ban đầu Marianne là hình ảnh một phụ nữ đội một chiếc mũ lưỡi trai Phrygian. Những nguồn gốc dẫn tới cái tên Marianne hiện vẫn chưa được biết, nhưng Marie-Anne từng là một cái tên rất thông dụng hồi thế kỷ 18. Những kẻ phản cách mạng thời ấy gọi hình tượng này một cách nhạo báng là La Gueuse (Người Bình Dân).

Mọi người đồng ý rằng những người cách mạng ở phía nam nước Pháp đã chấp nhận chiếc mũ lưỡi trai Phrygian làm biểu tượng tự do của họ, loại mũ này từng được các nô lệ tự do ở cả Hy Lạp và Roma đội. Những ngư dân Địa Trung Hải và những người bị kết án tù làm việc trên tàu buồm cũng thường đội loại mũ này.

Thời Đệ Tam Cộng hoà, các pho tượng, đặc biệt là tượng bán thân Marianne bắt đầu tăng nhanh về số lượng, đặc biệt tại các tòa thị sảnh. Marianne được thể hiện theo rất nhiều phong cách, tùy thuộc vào việc nhấn mạnh ý nghĩa cách mạng hay sự "sáng suốt" của bà. Cùng với thời gian, chiếc mũ Phrygian được coi là mang quá nhiều ý nghĩa nổi loạn và được thay thế bởi một mũ miện hay một vương miện. Ở thời hiện đại, những nữ diễn viên nổi tiếng ở Pháp cũng được trao danh hiệu Marianne. Những người được trao gần đây nhất gồm Sophie Marceau, và Laetitia Casta. Hình tượng này cũng được thể hiện trên các đồ vật hàng ngày như tem và tiền xu.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh đường Bayonne
Main article: Tôn giáo tại Pháp.

Là một quốc gia Công giáo truyền thống, Pháp từng được mệnh danh là "Trưởng nữ của Giáo hội Công giáo". Tuy nhiên cùng với những tư tưởng chống thuyết giáo quyền mới du nhập gần đây, từ thập kỷ 1970 Pháp đã trở thành một nước thế tục. Quyền tự do tôn giáo được được quy định trong hiến pháp, theo tư tưởng từ Tuyên bố Dân quyền và Nhân quyền. Khái niệm căn bản về mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo là khái niệm laïcité, quy định rằng chính phủ và các thể chế chính phủ (như trường học) không được có bất kỳ một đặc trưng tôn giáo nào hay can thiệp vào giáo điều tôn giáo, và rằng tôn giáo không được can thiệp vào việc đưa ra chính sách của chính phủ. Những căng thẳng thỉnh thoảng phát sinh về cái gọi là sự phân biệt chống lại các cộng đồng thiểu số; xem Hồi giáo tại Pháp.

Chính phủ không tiến hành thống kê tôn giáo của nhân dân. Các thống kê từ một nguồn không chính thức trong CIA World Factbook như sau: Công giáo Rôma 83 tới 88%, Hồi giáo 5 tới 10%, Tin Lành 2%, Do Thái 1%. Tuy nhiên, trong một cuộc điều tra dư luận năm 2003, 41% cho rằng Chúa "không hiện hữu" hay "có lẽ không hiện hữu".[36] 33% tuyên bố mình "vô thần" và cho rằng mình đảm bảo nghĩa vụ công dân, và 51% nói rằng họ là tín đồ "Công giáo". Khi được hỏi về tôn giáo của họ, 62% trả lời là tín đồ Công giáo Rôma, 6% Hồi giáo, 2% Tin lành, 1% Do Thái, 2% "tôn giáo khác" (trừ Chính thống giáo Đông phương hay Phật giáo, có số lượng không đáng kể), 26% "vô thần" và 1% từ chối trả lời. Một cuộc điều tra của viện Gallup cho thấy 15% dân Pháp có tới những nơi thờ tự.

Trong một cuộc điều tra gần đây hơn của Eurostat "Eurobarometer", năm 2005, 34% công dân Pháp trả lời "họ tin Chúa có hiện hữu", trong khi 27% trả lời "họ tin có một hình thức linh hồn hay năng lượng cuộc sống" và 33% cho rằng "họ không tin có một hình thức linh hồn, Chúa hay năng lượng cuộc sống". [37]

Y tế công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như tất cả các nước khác thuộc EU, Pháp tuân thủ một quy định của EU về việc giảm nước thải tại một số vùng nhạy cảm. Bởi hiện nay lượng nước thải của Pháp chỉ ở mức 40% so với chỉ thị đó nên họ là một trong những nước có thành tích cao nhất EU về tiêu chuẩn xử lý nước thải.[38]

Năm 2003 có khoảng 120.000 người dân Pháp chung sống với AIDS.[39]

Thư viện hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các chủ đề khác[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng của nước Pháp, Tháp Eiffel
Palais des papes (Cung các Cha), Avignon
  • Miêu tả quốc kỳ: ba dải màu dọc (chiều kéo cờ), xanh nước biển, trắng và đỏ đã trở thành quốc kỳ thời Cách mạng Pháp và trở nên phổ biến nhờ Marquis de Lafayette; được gọi là drapeau tricolore (Cờ tam tài). Theo truyền thống ba màu theo thứ tự là: xanh, trắng, đỏ. (bleu, blanc, rouge); xanh và đỏ là màu của Paris; trắng là màu của nhà vua.
  • Nước Pháp được thành lập với tư cách một vương quốc từ năm 496 (vua Clovis I được rửa tội) bởi vì sự kiện đó được liệt kê cùng ba tính chất cốt yếu khác của đất nước: việc định nghĩa giới hạn lãnh thổ (tuy nhiên nhỏ hơn ngày nay rất nhiều), định nghĩa một quyền lực cai trị (sự truyền ngôi từ vị vua thứ nhất cho con trai), và sự định nghĩa một hệ thống xã hội (3 đặc trưng của nhân dân: các chiến binh, các linh mục và những người công nhân). Hiệp ước Verdun năm 843, phân chia Đế chế Frankish và lập ra vương quốc Francia Occidentalis ("Tây Frankland"), và đây là tiền thân của nước Pháp, thể hiện sự thành lập hợp pháp duy nhất của đất nước. Nhà nước Pháp đã tồn tại liên tục từ năm 843, một trong những nhà nước tồn tại lâu nhất thế giới, dù hình thức chính phủ của nó đã thay đổi từ vương quốc sang cộng hoà.
  • Từ năm 1880 ngày quốc khánh của Pháp là Fête Nationale, thông thường được gọi là le 14 juillet, chính thức kỷ niệm Fête de la Fédération (14 tháng 7, 1790) chứ không phải cuộc tấn công ngục Bastille (14 tháng 7, 1789) như mọi người thường nghĩ, thậm chí đối với đa số người dân Pháp, và là lý do giải thích tại sao ngày này thường được gọi là Ngày Bastille trong tiếng Anh. Nhân dịp Fête de la Fédération, được tổ chức đúng một năm sau cuộc tấn công Bastille, tất cả đại diện từ các tỉnh Pháp đã tụ tập với nhau tại Champ de MarsParis với sự hiện diện của vua Louis XVI và tuyên bố sự thống nhất của nước Pháp. Họ thề nguyện trung thành với "Quốc gia, Luật Pháp, Nhà Vua".
  • Những người Cộng hòa Pháp coi đây là ngày sinh thật sự của nước Pháp: Pháp không còn là một đất nước được hình thành từ các tỉnh đã được nhà vua chinh phục, mà là một đất nước với các tỉnh và người dân tự nguyện hình thành nên một Nhà nước chung. Khái niệm Nhà nước này trái ngược với khái niệm Nhà nước dựa trên chủng tộc và dân tộc của Đức, và nó chính là nguyên nhân của đa số các cuộc xung đột giữa hai nước giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
  • Đức coi Alsace là một vùng đất của mình đã bị các vua Pháp chinh phục và sáp nhập, trong khi Pháp coi dù thực tế Alsce từng là một tỉnh bị chinh phục, nhưng họ đã tự nguyện và hợp pháp trở thành một phần của nước Pháp theo lời tuyên thệ ngày 14 tháng 7, 1790. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi ngày 14 tháng 7 được tuyên bố làm Quốc khánh Pháp năm 1880, 9 năm sau khi Đức đã tách Alsace-Lorraine khỏi Pháp. Dù được gắn liền với Fête de la Fédération, ngày 14 tháng 7 là một kỷ niệm khó quên đối với những người theo chủ nghĩa quân chủ Pháp, đối với họ nó gợi lại cuộc tấn công đẫm máu vào ngục Bastille. Họ thường đeo băng đen vào ngày 14 tháng 7 bất chấp đó là ngày Quốc khánh.

Xếp hạng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ “Great Powers – Encarta. MSN. 2008”. Webcitation.org. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ Field listing – GDP (official exchange rate), CIA World Factbook
  4. ^ “World Health Organization Assesses the World's Health Systems”. Who.int. 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011. 
  5. ^ “UNWTO Highlights” (PDF). United Nations World Tourism Organization. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ SIPRI Yearbook 2012 - 15 countries with the highest military expenditure in 2011
  7. ^ “Federation of American Scientists: Status of World Nuclear Forces”. Fas.org. 26 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ “France-Diplomatie”. Diplomatie.gouv.fr. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011. 
  9. ^ quốc gia ngủ nhiều nhất thế giới,Theo VnExress.
  10. ^ Sovereignty claims in Antarctica are governed by the Antarctic Treaty System
  11. ^ Mont Blanc shrinks by 45cm in two years
  12. ^ CIA - The World Factbook
  13. ^ Theo tính toán khác, trích dẫn bởi Trung tâm nghiên cứu Pew, vùng đặc quyền kinh tế của Pháp là 10.084.201 kilômét vuông (3.893.532 dặm vuông), vẫn sau Hoa Kỳ (12.174.629 km² / 4.700.651 mi²), và trước Úc (8.980.568 km² / 3.467.416 mi²) cùng Nga (7.566.673 km² / 2.921.508 mi²).
  14. ^ Nathan Ausubel, Voices of history, trang IX
  15. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 134
  16. ^ Nathan Ausubel, Superman: the life of Frederick the Great, trang 651
  17. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 146
  18. ^ Digby Smith, 1813 Leipzig: Napoleon and the Battle of the Nations, Giới thiệu mở đầu
  19. ^ Sir Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, trang 4
  20. ^ Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, trang 331
  21. ^ Benjamin F. Martin, France in 1938, trang 17
  22. ^ Benjamin F. Martin, France in 1938, trang 213
  23. ^ (tiếng Pháp) French Senate (2006). “Rôle et fonctionnement du Sénat”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. Page is in French without apparent English version available
  24. ^ “A quoi sert le Sénat ?”. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011. 
  25. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “Labour productivity 2003” (Microsoft Excel). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 
  26. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “Differentials in GDP per capita and their decomposition, 2004” (Microsoft Excel). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 
  27. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “OECD Employment Outlook 2005 - Statistical Annex” (PDF format). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2006. 
  28. ^ Pape, E. (2006). “Unexpected Baby Boom. What can Europe learn from the 'exception francaise'?”. Newsweek Inc. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 
  29. ^ (tiếng Pháp) Planchard, C. (2006). “Natalité: la nouvelle exception française ?”. L'Internaute. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 
  30. ^ lycee (education) - Britannica Online Encyclopedia
  31. ^ (French) 1881–1882: Lois Ferry Ecole publique gratuite, laïque et obligatoire. Assemblé Nationale
  32. ^ Obligation de scolarité et contrôle de l'obligation scolaire
  33. ^ http://www.oecd.org/dataoecd/42/8/39700724.pdf
  34. ^ (tiếng Pháp) Les licences sportives en France – Insee
  35. ^ “History of the World Cup Final Draw” (PDF). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  36. ^ (tiếng Pháp) Groupe CSA TMO (2003). “Les française et leurs croyances” (PDF format). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. Page is in French without apparent English version available
  37. ^ * Công giáo La Mã tại Pháp * Hồi giáo tại Pháp TNS Opinion & Social (2005). “Social values, Science and Technology” (PDF format). European Commission. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 
  38. ^ Link chết
  39. ^ France HIV/AIDS - people living with HIV/AIDS
  40. ^ French Ministry of Foreign Affairs. “The symbols of the Republic and Bastille Day”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch, Lịch sử, Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ, hướng dẫn du lịch[sửa | sửa mã nguồn]