Không quân Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Không quân Hoa Kỳ
Seal of the US Air Force.svg

Con dấu Bộ Không quân Hoa Kỳ
Hoạt động 19/8/1947[1] đến nay
Quốc gia Hoa Kỳ
Quân chủng Không quân
Vai trò "Bay, chiến đấu và chiến thắng
... trên bầu trời, không gian
và không gian thông tin."[1]
Lực lượng 327.452 hiện dịch
5.573 phi cơ (2.132 khu trục cơ)
450 tên lửa đạn đạo liên lục địa
32 vệ tinh nhân tạo
Bộ phận thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Bộ Không quân Hoa Kỳ
Tổng hành dinh Ngũ Giác Đài
Khẩu hiệu "Above All" (trên tất cả)
Màu sắc           
Hành khúc Không quân Hoa Kỳ
Tham chiến Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh vùng vịnh
NATO oanh tạc Nam Tư
Chiến tranh Afghanistan
Chiến tranh Iraq
Các tư lệnh
Tham mưu trưởng Đại tướng Norton A. Schwartz
Tham mưu phó Đại tướng Philip M. Breedlove
Quân hiệu
Phù hiệu USAF logo.png
Dấu hiệu Roundel of the USAF.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kích A-10, AC-130
Ném bom B-52H, B-1B, B-2
Điện tử E-3, E-8, EC-130, EC-135
Khu trục F-15C, F-15E, F-16, F-22
Trực thăng UH-1N, HH-60
Thám thính U-2, RC-135, RQ-4, RQ-1
Huấn luyện T-6, T-38, T-43, T-1, TG-10
Vận tải C-130, C-135, KC-135, C-5, C-9, KC-10, C-17, VC-25, C-32, CV-22, C-37, C-21, C-12, C-40,

Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force hay USAF) là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ và là một trong số các lực lượng đồng phục Hoa Kỳ. Từng trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ, Không quân Hoa Kỳ được thành lập với vai trò là một quân chủng riêng biệt vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 dưới Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947.[1] Không quân là một quân chủng mới nhất được thành lập của Quân đội Hoa Kỳ. Trong lời mở đầu về vị thế của mình, Không quân Hoa Kỳ nêu rõ các mục tiêu chính của mình như sau: "Cảnh giác toàn cầu, vươn tới toàn cầu, và sức mạnh toàn cầu".[2]

Tính đến năm 2009, Không quân Hoa Kỳ đang sử dụng khoảng 5.573 phi cơ có người lái (3.990 chiếc hiện dịch; 1.213 chiếc thuộc các lực lượng Không quân Vệ binh quốc gia (Air National Guard); và 370 chiếc thuộc Lực lượng Không quân Trừ bị);[3] khoảng 180 phi cơ chiến đấu không người lái, 2.130 tên lửa hành trình phóng từ phi cơ,[4] và 450 tên lửa đạn đạo liên lục địa. Không quân Hoa Kỳ có khoảng 327.452 binh sĩ và nhân viên hiện dịch, 115.299 trong các lực lượng trừ bị sẵn sàng chiến đấu, và 106.700 thuộc lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia tính đến tháng 9 năm 2008. Ngoài ra, Không quân Hoa Kỳ thuê mướn khoảng 171.313 nhân viên dân sự,[5] và có khoảng 57.000 thành viên hỗ trợ trong lực lượng tuần tra hàng không dân sự.[6]

Bộ Không quân được một bộ trưởng dân sự lãnh đạo. Bộ trưởng này trông coi tất cả các công việc về chính sách cũng như hành chính. Bộ Không quân Hoa Kỳ là một bộ phận trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Sĩ quan cao cấp nhất Bộ Không quân Hoa Kỳ là Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Không quân Hoa Kỳ vào năm 1907. Sau một loạt các thay đổi về cách tổ chức, tên gọi và hoàn thành các nhiệm vụ trong suốt khoảng thời gian 40 năm sau đó, Không quân Hoa Kỳ được tách ra thành một quân chủng riêng biệt. Trong chiến tranh thế giới thứ II, gần 68.000 phi công Mỹ đã hy sinh góp phần giành lấy chiến thắng cho quân Đồng minh, chỉ lực lượng bộ binh có số lượng thương vong nhiều hơn số lượng nhập ngũ.[7] Trong thực tế, USFFA hầu như hoạt động độc lập trong Quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ II, nhưng các quan chức muốn có một sự độc lập chính thức. Không quân Hoa Kỳ trở thành một quân chủng riêng biệt vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 bằng việc thông qua Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947.[8] Đạo luật dùng để thành lập Quân Đội Quốc Gia Hoa Kỳ (sau này được đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ năm 1949), bao gồm ba bộ trực thuộc là Bộ Lục quân Hoa Kỳ, Bộ Hải quân Hoa Kỳ và bộ mới là Bộ Không quân Hoa Kỳ.[9] Trước năm 1947, trách nhiệm về không quân được chia sẻ giữa Lục quân Hoa Kỳ (cho các chiến dịch trên bộ), Hải quân Hoa Kỳ (cho các chiến dịch trên biển từ các hàng không mẫu hạm và các thủy phi cơ), và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (để hỗ trợ không yểm các chiến dịch trên bộ). Nhưng thập niên 40 đã chứng kiến sự thay đổi vượt bậc và là sự bắt đầu cho một kỷ nguyên mới của ngành hàng không, tiêu biểu là phi công Chuck Yeager - người đã vượt qua tốc độ âm thanh bằng chiếc phi cơ X-1 năm 1947.[10]

Các phù hiệu hình tròn mà từng xuất hiện trên các phi cơ quân sự của Hoa Kỳ
1. 5/1917-2/1918 2. 2/1918-8/1919 3. 8/1919-5/1942
4. 5/1942-6/1943 5. 6/1943-9/1943 6. 9/1943-1/1947
7. 1/1947-nay

Các tên gọi trước kia của Không quân Hoa Kỳ là:

  • Bộ phận không gian thuộc Quân đoàn Thông tin Hoa Kỳ (Aeronautical Division, U.S. Signal Corps) (1 tháng 8 năm 1907 đến 18 tháng 7 năm 1914)
  • Bộ phận hàng không thuộc Quân đoàn Thông tin Hoa Kỳ (Aviation Section, U.S. Signal Corps) (18 tháng 7 năm 1914 đến 20 tháng 5 năm 1918)
  • Bộ phận hàng không quân sự (Division of Military Aeronautics) (20 tháng 5 năm 1918 đến 24 tháng 5 năm 1918)
  • Bộ phận Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Service) (24 tháng 5 năm 1918 đến 2 tháng 7 năm 1926)
  • Quân đoàn Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Corps) (2 tháng 7 năm 1926 đến 20 tháng 6 năm 1941) và
  • Các lực lượng Không lực Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Forces) (20 tháng 6 năm 1941 đến 17 tháng 9 năm 1947)

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 2005, Không quân Hoa Kỳ đã đặt tập trung mạnh vào việc cải thiện đào tạo quân sự cơ bản (BMT). Các khóa luyện tập đã trở nên dài hơn, cùng với đó là sự xuất hiện của giai đoạn thực nghiệm mô phỏng. Giai đoạn này được gọi là BEAST, là nơi các học viên được thực hành trong một môi trường siêu thực mà họ có thể tích lũy kinh nghiệm như khi được lái một chiếc phi cơ thực sự. Trong khóa huấn luyện này, các giảng viên (MTI) đảm nhiệm vai trò như các cố vấn hoặc lực lượng của đối phương trong các bài huấn luyện. Năm 2007, Không quân Hoa Kỳ gặp phải sự cắt giảm lực lượng vì ngân sách và có kế hoạch giảm lực lượng từ 360.000 quân nhân hiện dịch xuống còn 316.000.[11] Con số lực lượng hiện dịch vào năm 2007 chỉ bằng khoảng 64% lực lượng khi kết thúc Chiến tranh vùng vịnh năm 1991.[12] Tuy nhiên, sự cắt giảm chấm dứt khi quân số giảm đến khoảng 330.000 người vào năm 2008 để đáp ứng nhu cầu cho sứ mệnh.[11] Sự thắt lưng buộc bụng này đã khiến cho số giờ bay huấn luyện cho phi công giảm xuống rất nhiều từ năm 2005[13] và phó tham mưu trưởng đặc trách nhân sự phải điều hành việc kiểm tra đánh giá bay cho các phi công[14].

Ngày 5 tháng 6 năm 2008, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates chấp thuận đơn từ chức của cả hai Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ Michael W. Wynne và Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, tướng T. Michael Moseley. Bộ trưởng Quốc phòng Gates thật sự bải nhiệm cả hai người này vì "những vấn đề có liên quan đến các công tác tiến hành thực thi và tập trung sứ mệnh hạt nhân của Không quân Hoa Kỳ đang bị giảm sút một cách có hệ thống". Việc này theo sau một vụ điều tra về hai sự kiện đáng xấu hổ có liên quan đến việc xử lý bất cẩn vũ khí hạt nhân, và cũng là điểm đỉnh tranh cãi giữa ban lãnh đạo không quân và Gates.[15] Để tập trung hơn vào việc quản lý vũ khí hạt nhân, Không quân Hoa Kỳ đã thiết lập ra bộ tư lệnh hạt nhân chiến đấu toàn cầu của Không quân Hoa Kỳ vào ngày 24 tháng 19 năm 2008.[16]

Ngày 26 tháng 6 năm 2009, không quân đưa ra một chương trình tái tổ chức lực lượng nhằm cắt giảm các phi cơ chiến đấu và chuyển nguồn tài lực sang cho chiến tranh thông tin, bất qui ước và hạt nhân.[17] Ngày 23 tháng 7 năm 2009, Không quân Hoa Kỳ đưa ra chương trình bay của hệ thống phi cơ không người lái trong đó nêu ra chi tiết về các kế hoạch dành cho phi cơ không người lái đến năm 2047.[18] Một phần ba số phi cơ mà Không quân Hoa Kỳ dự định mua trong tương lại là phi cơ không người lái.[19]

Các cuộc xung đột[sửa | sửa mã nguồn]

SR-71 Blackbird là một phi cơ thám thính trong Chiến tranh lạnh.
F-117 Nighthawkphi cơ cường kích tàng hình (không còn phục vụ kể từ này 22 tháng 4 năm 2008).

Hoa Kỳ đã tham dự nhiều cuộc chiến tranh, xung đột và chiến dịch trong đó đã thực hiện các chiến dịch quân sự từ trên không bao gồm:

Các chiến dịch nhân đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Hoa Kỳ cũng tham gia vào nhiều chiến dịch nhân đạo. Một trong số các chiến dịch chính là:[21]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Hoa Kỳ là một trong ba bộ quân chủng nằm trong Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và bộ quân chủng này nằm dưới quyền chỉ đạo của một vị bộ trưởng dân sự với sự giúp đỡ của một ban nhân sự và cố vấn. Giới lãnh đạo quân sự của bộ là Bộ tham mưu Không quân Hoa Kỳ do Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ lãnh đạo.

Các bộ tư lệnh và đơn vị trực thuộc Không quân Hoa Kỳ là các cơ quan điều hợp tại chỗ (field operating agency), đơn vị báo cáo trực tiếp (direct reporting unit), và cơ quan điều hợp riêng biệt (separate operating agency) hiện chưa dùng đến.

Bộ tư lệnh chủ lực (major command hay viết tắt là MAJCOM) là cấp bậc tư lệnh tối cao. Tính luôn Bộ tư lệnh Không quân Trừ bị (air force reserve command) thì Không quân Hoa Kỳ có đến 9 bộ tư lệnh chủ lực tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2006. Các không lực mang số (numbered air force) là cấp bậc bộ tư lệnh trực thuộc dưới quyền của các Bộ tư lệnh chủ lực, theo sau là Bộ tư lệnh hành quân (operational command hiện tại không còn sử dụng), rồi đến sư đoàn không quân (hiện nay cũng không còn dùng), không đoàn (wing), liên đoàn (group), phi đoàn (squadron), và phi đội (flight).

Cơ cấu lực lượng (các bộ tư lệnh chủ lực)[sửa | sửa mã nguồn]

Seal of the US Air Force.svg Tổng hành dinh, Không quân Hoa Kỳ, Lầu Năm Góc, Arlington, Virginia

  • Air Combat Command.png Bộ tư lệnh không quân chiến đấu (Air Combat Command), tổng hành dinh đặt ở Căn cứ không quân Langley, Virginia
    • 1st Air Force.png Không lực 1, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Tyndall, Florida
    • Ninth Air Force - Emblem (Cold War).png Không lực 9, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Shaw, Nam Carolina
    • Twelfth Air Force - Emblem.png Không lực 12, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Davis-Monthan, Arizona
    • Usaf-warfare-center-emblem.jpg Trung tâm Chiến tranh thuộc Không quân Hoa Kỳ, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Nellis, Nevada
  • Air Education and Training Command.png Bộ tư lệnh đào tạo và giáo dục không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas
    • Second Air Force - Emblem (USAF).png Không lực 2, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Keesler, Mississippi
    • Nineteenth Air Force - Emblem.png Không lực 19, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas
    • Bộ tuyển mộ không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Randolph, Texas
    • Air University.png Đại học không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Maxwell, Alabama
    • Trung tâm y tế Wilford Hall, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Lackland, Texas
  • Air Force Global Strike Command.png Bộ tư lệnh không quân tấn công toàn cầu (AFGSC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana
    • Eighth Air Force - Emblem.png Không lực 8, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana
    • Twentieth Air Force - Emblem.png Không lực 20, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân F. E. Warren, Wyoming
  • Air Force Materiel Command.png Bộ tư lệnh vật liệu không quân (AFMC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio
    • Trung tâm đặc trách hệ thống không gia, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio
    • Air Force Flight Test Center.png Trung tâm thử nghiệm bay không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Edwards, California
    • Air Force Global Logistics Support Center.jpg Trung tâm không quân hỗ trợ tiếp vận toàn cầu, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois
    • Nuclear Weapons Center.png Trung tâm vũ khí hạt nhân không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Kirtland, New Mexico
    • Air Force Research Laboratory.svg Trung tâm thí nghiệm nghiên cứu không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio
    • Trung tâm hỗ trợ an ninh không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio
    • Air Armament Center.jpg Trung tâm vũ khí không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Eglin, Florida
    • Arnold Engineering Development Center.png Trung tâm phát triển kỹ thuật Arnold, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Arnold, Tennessee
    • Trung tâm hệ thống điện tử, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hanscom, Massachusetts
  • Air Force Reserve Command.png Bộ tư lệnh không quân trừ bị, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Robins, Georgia
    • Fourth Air Force - Emblem.png Không lực 4, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Trừ bị March, California
    • Tenth Air Force - Emblem.png Không lực 10, tổng hành dinh ở Căn cứ trừ bị hỗn hợp không lực hải quân Fort Worth, Texas
    • Twenty-Second Air Force - Emblem.png Không lực 22, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Trừ bị Dobbins, Georgia
    • Trung tâm nhân sự trừ bị không quân, đặt tại Denver, Colorado
  • Air Force Space Command.png Bộ tư lệnh không gian không quân, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Peterson, Colorado
    • Fourteenth Air Force - Emblem.png Không lực 14, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Vandenberg, California
    • Twenty-Fourth Air Force - Emblem.png Không lực 22, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Lackland, Texas
    • Space and Missile Systems Center.png Trung tâm hệ thống tên lửa và không gian, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Los Angeles, California
    • Space Innovation and Development Center.png Trung tâm phát triển và áp dụng không gian, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Schriever, Colorado
Một số phi cơ của một phi đoàn ở Sân bay quân sự Hurlburt
  • Shield of the United States Air Force Special Operations Command.svg Bộ tư lệnh không quân hành quân đặc biệt]] (AFSOC), có tổng hành dinh tại sân bay Hurlburt, Florida
    • Twenty-Third Air Force - Emblem.png Không lực 23, có tổng hành dinh ở sân bay Hurlburt, Florida
    • Trung tâm huấn luyện hành quân đặc biệt, có tổng hành dinh tại sân bay Hurlburt, Florida
  • Air Mobility Command.svg Bộ tư lệnh không quân linh động (AMC), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois
    • Eighteenth Air Force - Emblem.png Không lực 18, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Scott, Illinois
    • United States Air Force Expeditionary Center.png Trung tâm Không quân viễn chinh Hoa Kỳ, có tổng hành dinh ở Binh trại Dix, New Jersey
  • United States Air Forces in Europe.png Các lực lượng không quân Hoa Kỳ tại châu Âu (USAFE), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức
    • Third Air Force - Emblem.png Không lực 3, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức
    • Seventeenth Air Force - Emblem.png Không lực 17, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Ramstein, Đức
  • Pacific Air Forces.png Các lực lượng không quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (PACAF), tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hickam, Hawaii
    • Fifth Air Force - Emblem.png Không lực 5, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản
    • Seventh Air Force - Emblem.png Không lực 7, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Osan, Hàn Quốc
    • Eleventh Air Force - Emblem.png Không lực 11, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Elmendorf, Alaska
    • Thirteenth Air Force - Emblem.png Không lực 13, tổng hành dinh ở Căn cứ Không quân Hickam, Hawaii

Lực lượng thường trực của Không quân Hoa Kỳ, tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2006,[22] gồm có:

  • Các lực lượng không quân hiện dịch:
    • 57 không đoàn bay, 8 không đoàn không gian, và 55 không đoàn mặt đất (không có phi cơ)
    • 9 liên đoàn bay, 8 liên đoàn mặt đất
      • 134 phi đoàn bay, 43 phi đoàn không gian
  • Các lực lượng không quân trừ bị
    • 35 không đoàn bay, 1 không đoàn không gian
    • 4 liên đoàn bay
      • 67 phi đoàn bay, 6 phi đoàn không gian
  • Không quân Vệ binh Quốc gia
    • 87 không đoàn bay
      • 101 phi đoàn bay, 4 phi đoàn không gian

Không quân Hoa Kỳ, bao gồm các bộ phận không quân trừ bị, có tổng cộng 302 phi đoàn bay.[23]

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp loại công việc trong Không quân Hoa Kỳ được dựa theo Bộ mã chuyên môn không quân (Air Force Specialty Code). Các công việc này có phạm vi từ các hoạt động chiến đấu trên không, thí dụ như xạ thủ trên phi cơ, cho đến các công việc lo ăn uống cho các thành viên. Có nhiều công việc khác nhau tại chỗ như chuyên viên vi tính, chuyên viên cơ khí, quân nhân phi hành, hệ thống thông tin, chuyên viên phi hành, chuyên viên y tế, kỹ sư công chính, pháp lý, cố vấn đặc trách chống ma tuý, các hoạt động thư tín, lực lượng an ninh không quân, tìm kiếm và cứu nạn.[24]

Có lẽ công việc nguy hiểm nhất là công việc tháo gỡ chất cháy nổ, giải cứu lúc chiến đấu, an ninh không quân, điều hợp chiến đấu (Combat Control Team), chuyên viên thời tiết đặc trách các chiến dịch đặc biệt của không quân (Air Force Special Operations Weather Technician). Các nhân sự này thường đi cùng với bộ binh và các đơn vị hành quân đặc biệt để tháo gỡ bom mìn, giải cứu các phi công bị bắn rơi hay các binh sĩ bị bao vây, gọi phi cơ đến không kích, và lập các khu vực đổ quân tại những vị trí tiền phương. Đa số các công việc này là thuộc nhóm binh sĩ không quân chuyên môn.

Gần như các công việc của binh sĩ chuyên môn là bậc mới vào nghề. Có nghĩa là Không quân Hoa Kỳ phải cung cấp sự huấn luyện cho các binh sĩ chuyên môn. Một số binh sĩ chuyên môn có thể chọn công việc nào đó hay một lĩnh vực nào đó trước khi gia nhập trong khi cũng có các binh sĩ khác được giao nhiệm vụ vào lúc bắt đầu được huấn luyện căn bản. Sau khi hoàn thành khoá huấn luyện cơ bản, các binh sĩ mới sẽ tham dự khoá huấn luyện kỹ thuật để học ngành chuyên môn của mình. Không lực số 2 (Second Air Force), một bộ phận của Bộ tư lệnh Huấn luyện và Giáo dục Không quân, đặc trách nhiệm vụ huấn luyện kỹ thuật cho gần như tất cả các binh sĩ không quân.

Các chương trình huấn luyện dài ngắn tuỳ theo; thí dụ, 3M0X1 (dịch vụ) có thời gian huấn luyện là 31 ngày trong khi 3E8X1 (tháo gỡ chất cháy nổ) có thời gian huấn luyện là 1 năm căn bản rồi sau đó học tiếp một trong 10 chuyên ngành khác. Đôi khi một học viên phải mất đến 2 năm để hoàn tất việc huấn luyện.

Các cấp bậc của không quân được chia thành các binh sĩ không quân, hạ sĩ quan không quân và sĩ quan không quân.

Sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Các cấp bậc sĩ quan của Không quân Hoa Kỳ được chia thành ba cấp: cấp uý, cấp tá và cấp tướng. Cấp uý là các sĩ quan nằm trong biên chế tính lương bậc O-1 đến O-3, cấp tá từ O-4 đến O-6, và cấp tướng từ O-7 trở lên.

Hiện tại việc thăng chức từ thiếu uý lên trung uý gần như được bảo đảm sau thời gian hai năm phục vụ tốt. Từ bậc trung uý lên đại uý cần phải phấn đấu mang tính cạnh tranh sau khi phục vụ thành công thêm hai năm nữa. Từ thiếu tá trở lên cần phải có sự duyệt xét của ban cứu xét thăng cấp. Hồ sơ của một sĩ quan sẽ được một hội đồng tuyển chọn xem xét tại Trung tâm Nhân sự Không quân Hoa Kỳ ở Căn cứ Không quân Randolph nằm ở thành phố San Antonio, Texas. Việc xét thăng cấp này xảy ra khoảng thời điểm giữa từ 7 đến 10 năm phục vụ và chỉ có một vài phần trăm đại uý không quân được xét thăng cấp lên thiếu tá. Việc xét thăng cấp lập lại ở thời điểm giữa từ 11 đến 14 năm để thăng cấp lên bậc trung tá, và rồi khoảng thời điểm 18 năm để xét thăng bậc lên đại tá.

Bậc lương O-1 O-2 O-3 O-4 O-5 O-6 O-7 O-8 O-9 O-10 Đặc biệt1
Quân hàm US-O1 insignia.svg US-O2 insignia.svg US-O3 insignia.svg US-O4 insignia.svg US-O5 insignia.svg US-O6 insignia.svg US-O7 insignia.svg US-O8 insignia.svg US-O9 insignia.svg US-O10 insignia.svg US-O11 insignia.svg
Cấp bậc Thiếu úy Trung úy Đại úy Thiếu tá Trung tá Đại tá Chuẩn tướng Thiếu tướng Trung tướng Đại tướng Thống tướng
Tiếng Anh Second
Lieutenant
First
Lieutenant
Captain Major Lieutenant
Colonel
Colonel Brigadier
General
Major
General
Lieutenant
General
General General
of the Airforce
Viết tắt2 2d Lt 1st Lt Capt Maj Lt Col Col Brig Gen Maj Gen Lt Gen Gen GOAF
Mã số NATO OF-1 OF-2 OF-3 OF-4 OF-5 OF-6 OF-7 OF-8 OF-9 OF-10

1 Được trao như cấp bậc vinh dự hoặc trong lúc tuyên chiến.
2 Dấu chấm thực sự không được dùng đối với các chữ viết tắt này.

Chuẩn uý[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù theo luật định thì có nhưng Không quân Hoa Kỳ hiện nay không sử dụng cấp bậc chuẩn uý. Cấp bậc này thấy lần cuối cùng trong không quân là chuẩn uý James H. Long, về hưu năm 1980, và lần cuối cùng trong Không quân trừ bị là chuẩn uý Bob Barrow năm 1992.[25]

Binh sĩ và hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên binh sĩ và hạ sĩ quan (được gọi chung trong tiếng Anh là enlisted airmen) trong Không quân Hoa Kỳ có bậc lương từ E-1 (entry level: mới gia nhập) đến E-9 (senior enlisted: binh sĩ thâm niên). Trong khi tất cả các nhân sự của Không quân Hoa Kỳ được gọi là Airmen, thuật từ này cũng dành để gọi các bậc lương từ E-1 đến E-4. Các bậc lương này nằm dưới bậc của các hạ sĩ quan. Trên bậc lương E-4 (từ E-5 đến E-9 chẳng hạn), các cấp bậc này rơi vào nhóm gọi là hạ sĩ quan và nhóm hạ sĩ quan này được chia thành hai nhóm nhỏ là hạ sĩ quan (bậc lương E-5 và E-6) và Hạ sĩ quan cao cấp (bậc lương từ E-7 đến E-9); thuật từ Junior NCO có nghĩa là hạ sĩ quan cấp thấp đôi khi được dùng để chỉ bậc lương từ E-5 và E-6).[26]

Không quân Hoa Kỳ là quân chủng duy nhất trong năm quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ mà bậc hạ sĩ quan không được công nhận cho đến khi một binh sĩ không quân được thăng bậc lương lên đến E-5. Trong tất cả các quân chủng khác thì hạ sĩ quan được công nhận khi đến bậc lương E-4 (thí dụ như hạ sĩ trong Lục quân Hoa KỳThuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ). Tuy nhiên bậc lương E-4 trong Lục quân Hoa Kỳ với cấp bậc chuyên viên (Specialist) thì không được công nhận là hạ sĩ quan.

Bậc lương E-1 E-2 E-3 E-4 E-5 E-6 E-7 E-8 E-9
Quân hàm Không có E2 USAF AM.svg E3 USAF AM1.svg E4 USAF SAM.svg E5 USAF SSGT.svg E6 USAF TSGT.svg E7a USAF MSGT.svg E7b USAF 1STSGT1.svg E8a USAF SMSGT.svg E8b USAF 1STSGT2.svg E9a USAF CMSGT.svg E9b USAF 1STSGT3.svg E9c USAF CCMS.svg E9d USAF CMSAF.svg
Cấp bậc Học viên Binh nhì Binh nhất Hạ sĩ Trung sĩ
tham mưu
Trung sĩ
kỹ thuật
Trung sĩ
trung cấp¹
Trung sĩ
cao cấp¹
Thượng sĩ¹ Thượng sĩ Cố vấn
Chỉ huy trưởng
Thượng sĩ Cố vấn
Không quân
Tiếng Anh Airman
Basic
Airman Airman First
Class
Senior
Airman
Staff
Sergeant
Technical
Sergeant
Master
Sergeant
Senior Master
Sergeant¹
Chief Master
Sergeant¹
Command Chief
Master Sergeant
Chief Master Sergeant
of the Air Force
Viết tắt AB Amn A1C SrA SSgt TSgt MSgt SMSgt CMSgt CCM CMSAF
Mã số NATO OR-1 OR-2 OR-3 OR-4 OR-5 OR-6 OR-7 OR-8 OR-9 OR-9 OR-9

¹ Không quân Hoa Kỳ không có các cấp bậc riêng cho trung sĩ nhất hay thượng sĩ nhất; thay vào đó cấp bậc này được ám chỉ bởi một hình caro nằm trên nền phía trên quân hàm.

Các loại phi cơ được sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2004, Không quân Hoa Kỳ có trên 5.778 phi cơ đang được sử dụng. Cho đến năm 1962, Lục quân và Không quân Hoa Kỳ đã duy trì một hệ thống gọi tên phi cơ trong khi Hải quân Hoa Kỳ có một hệ thống gọi tên riêng biệt. Năm 1962, các cách gọi tên phi cơ đã được thống nhất thành một hệ thống duy nhất phản ánh phương pháp của Lục quân và Không quân. Để biết thêm chi tiết về sự hữu hiệu của hệ thống này xin xem United States Department of Defense aerospace vehicle designation. Các loại phi cơ của Không quân gồm có:

A - Cường kích[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ cường kích của Không quân Hoa Kỳ được chế tạo cho mục đích tấn công các cứ điểm trên mặt đất. Chúng thường được sử dụng để hỗ trợ bộ binh Hoa Kỳ. Vì phải thực hiện tấn công mục tiêu gần vị trí của các lực lượng bạn nên việc sử dụng chúng là điều cần thiết khi mà các loại phi cơ ném bom không thể nào được sử dụng. Chính vì là loại phi cơ hỗ trợ gần cho bộ binh nên vai trò của chúng có tính cách chiến thuật hơn là chiến lược. Chúng hoạt động ngay tại mặt trận hơn là tấn công sâu bên trong hậu tuyến của quân địch.

B - Máy bay ném bom[sửa | sửa mã nguồn]

Oanh tạc cơ chiến lược tàng hình B-2 Spirit.
Oanh tạc cơ chiến lược siêu âm B-1 Lancer.

Trong Không quân Hoa Kỳ, thật là mơ hồ để phân biệt giữa oanh tạc cơ (bomber), oanh tạc-khu trục cơ (fighter-bombers), và khu trục cơ. Nhiều phi cơ cường kích, thậm chí có cả những chiếc trông giống khu trục cơ được sử dụng để thả bom với rất ít khả năng chiến đấu trên không. Có nhiều khu trục cơ như F-16 được dùng như các "xe tải bom" mặc dù chúng được thiết kế chỉ để tham chiến trên không chống phi cơ khác. Có lẽ sự khác biệt mang tính ý nghĩa nhất là vấn đề tầm bay của chúng: oanh tạc cơ thường là loại phi cơ có tầm bay xa, có khả năng đánh vào các mục tiêu sâu trong lãnh thổ của quân địch trong khi các oanh tac-khu trục cơ và phi cơ cường kích chỉ có giới hạn thực hiện nhiệm vụ của mình tại mặt trận và xung quanh khu vực mặt trận. Tuy nhiên sự khác biệt này cũng gặp bế tắc vì sự hiện diện của các phi cơ tiếp nhiên liệu trên không làm tăng thêm bán kính chiến đấu của các loại phi cơ này. Cùng với Nga, Hoa Kỳ là quốc gia có oanh tạc cơ chiến lược.

Phần lớn các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ trở nên già cỗi nhanh chóng. Loại phi cơ chính yếu B-52 Stratofortress đã có tuổi đời trên 50 năm, và chúng vẫn được lên kế hoạch để phục vụ thêm 30 năm nữa. Như vậy thời gian sử dụng loại oanh tạc cơ chính yếu này kéo dài tổng cộng trên 80 năm. Đây là thời gian phục vụ chưa từng có đối với một loại phi cơ. Các kế hoạch để thay thế lực lượng oanh tạc cơ chiến lược vẫn chỉ nằm trên giấy mực.

C - Vận tải cơ[sửa | sửa mã nguồn]

C-17 Globemaster III, vận tải cơ linh hoạt nhất và mới nhất của Không quân Hoa Kỳ.
Vận tải cơ hạng nặng C-5 Galaxy.

Không quân Hoa Kỳ có thể cung cấp sự vận chuyển toàn cầu nhanh chóng. Khi mà lực lượng Hoa Kỳ đóng quân ở ngoại quốc tiếp tục giảm nhưng sự quan tâm của Hoa Kỳ trên thế giới vẫn như vậy thì vai trò chuyển vận của Không quân Hoa Kỳ lại cần thiết hơn. Sự chuyển vận bằng hàng không là tài sản quí giá của quốc gia để đối phó với những tình hình khẩn cấp và bảo vệ ích lợi của Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới.

Các loại vận tải cơ đặc biệt được sử dụng để vận chuyển binh sĩ, vũ khí và các quân dụng khác bằng nhiều cách khác nhau để đến bất cứ khu vực nào trên thế giới có sự hoạt động quân sự của Hoa Kỳ, thường thường là nằm ngoài các đường bay thương mại trong các vùng không gian không có kiểm soát không lưu. Các cỗ máy chính của Bộ tư lệnh vận chuyển hàng không của Không quân Hoa Kỳ là các vận tải cơ C-130 Hercules, C-17 Globemaster III, và C-5 Galaxy. Các phi cơ này được xếp loại phần lớn bằng khả năng bay xa của chúng, thí dụ như vận tải chiến thuật (C-5), chiến lược/chiến thuật(C-17), và chiến thuật (C-130) để phản ánh nhu cầu của các lực lượng mặt đất mà chúng thường hỗ trợ nhất. Phi cơ CV-22 được Không quân Hoa Kỳ sử dụng cho Bộ tư lệnh hành quân đặc biệt (U.S. Special Operations Command). Nó thực hiện các nhiệm vụ tầm xa và đặc biệt và được trang bị với các bình xăng phụ và hệ thống rada dò đường.

E - Sứ mệnh điện tử đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

E-3 Sentry, hệ thống điều khiển và cảnh báo trên không.

Mục đích của chiến tranh điện tử là không cho phép kẻ thù có lợi thế về hệ thống điện từ và bảo đảm cho phép lực lượng bạn tiếp cận được môi trường thông tin điện từ. Các phi cơ đặc trách chiến tranh điện tử có nhiệm vụ là tạo ra không gian thân thiện và gởi các tín hiệu thông tin mật cho lực lượng bạn khi cần đến. Chúng thường được mệnh danh là "mắt trên bầu trời."

F - Khu trục cơ (Tiêm kích)[sửa | sửa mã nguồn]

Khu trục cơ siêu đẳng tàng hình F-22 Raptor.
Oanh tạc-khu trục cơ F-15 Strike Eagle.

Các khu trục cơ của Không quân Hoa Kỳ là các phi cơ quân sự nhỏ, nhanh, chuyển động linh hoạt, chủ yếu được sử dụng cho chiến đấu không đối không. Nhiều loại phi cơ này có khả năng thứ hai là tấn công mặt đất. Một số có hai tính năng được gọi là oanh tạc-khu trục cơ (thí dụ như F-16 Fighting Falcon). Các nhiệm vụ khác còn có đánh chặn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của địch, thám thính, và tuần tra. Trong số 5.778 phi cơ có người lái đang phục vụ có 2.162 chiếc là khu trục cơ trong số đó có 1.280 chiếc F-16 Fighting Falcon với nhiều chủng loại khác nhau.

Từ năm 2006 đến 2025, Không quân Hoa Kỳ có kế hoạch giảm 28% số phi cơ chiến thuật.[27]

H - Tìm kiếm và giải cứu, tải thương[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ được dùng cho mục đích tìm kiếm và giải cứu trên bộ.

K - Tiếp liệu trên không[sửa | sửa mã nguồn]

KC-10 Extender, phi cơ ba động cơ tiếp nhiên liệu trên không.

Các phi cơ tiếp nhiên liệu trên không của Không quân Hoa Kỳ là các kiểu phi cơ phản lực dân sự được sửa đổi lại để phục vụ quân đội. Thường thường các phi cơ tiếp nhiên liệu đều được thiết kế đặc biệt cho mục đích này nếu như hệ thống "probe and drogue" được sử dụng mặc dù các bình tiếp liệu vẫn có thể lắp đặt vào trong các kiểu phi cơ sẵn có. Hoạt động tiếp nhiên liệu cho phi cơ dân sự chưa từng nghe nói đến. Trong những chiến dịch rộng lớn hay thậm chí là các hoạt động bay hàng ngày, việc tiếp nhiên liệu trên không thường được thực hiện rộng rãi; các khu trục cơ, oanh tạc cơ và vận tải cơ phụ thuộc nhiều vào các phi cơ "tiếp nhiên liệu" ít được người ta biết đến. Điều này làm cho các phi cơ tiếp nhiên liệu này trở thành một phần thiết yếu của Không quân Hoa Kỳ về mặt linh động toàn cầu.

L - Trang bị tia laser[sửa | sửa mã nguồn]

Boeing YAL-1, phi cơ trang bị tia laser.

Hệ thống vũ khí trên không sử dụng tia laser (gọi tắt tiếng Anh là ABL) được đặt bên trong một phi cơ Boeing 747-400F được sửa đổi lại cho phù hợp với mục đích của nó. Đây là một hệ thống phòng thủ chống tên lửa nhằm phá hủy các tên lửa đạn đạo chiến thuật đang trong giai đoạn chưa tách ra khỏi phần đẩy.

M - Đa mục đích[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ đa mục đích đặc biệt cung ứng sự hỗ trợ cho các sứ mệnh đặc biệt toàn cầu. Các phi cơ này tiến hành thâm nhập, thoát ra, tiếp vật liệu, nhiên liệu cho các toán biệt động từ các đường băng ngắn hoặc đường băng ngẫu nhiên.

MC-12: 37 chiếc

Phi cơ không người lái đa dụng[sửa | sửa mã nguồn]

MQ-9, phi cơ không người lái.

Các thế hệ đầu tiên của loại phi cơ không người lái chủ yếu là loại phi cơ trinh sát, nhưng cũng có một số được trang bị với vũ khí (thí dụ như MQ-1 Predator có trang bị tên lửa không đối đất AGM-114 Hellfire).

  • MQ-1 Predator: 138 chiếc
  • MQ-9 Reaper : 48 chiếc
  • RQ-4 Global Hawk: 7 RQ-4A Global Hawk, 3 RQ-4B Global Hawk
  • RQ-170 SENTINEL
  • SCAN EAGLE: 1 chiếc
  • RQ-11B RAVEN
  • WASP III
  • X-47

O - Quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ này được sửa đổi để quan sát (bằng mắt thường hay phương tiện khác) và báo cáo thông tin chiến thuật có liên quan đến sự tập kết và sự phân tán các lực lượng địch.

R - Thám thính[sửa | sửa mã nguồn]

Lockheed U-2, phi cơ gián điệp.

Phi cơ thám thính của Không quân Hoa Kỳ được sử dụng để theo dõi hoạt động của quân địch, ban đầu chúng không có trang bị vũ khí. Một số phi cơ điều khiển từ xa, không người lái được phát triển và triển khai. Hiện tại, các phi cơ không người lái được nhìn nhận là phương tiện vũ khí ít tốn kém và có khả năng chiến đấu mà không lo sợ phải mất phi công.

Ghi chú: Mặc dù U-2 được xếp vào loại phi cơ "tiện ích" nhưng nó thực sự thuộc loại phi cơ thám thính.

T - Huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ huấn luyện của Không quân Hoa Kỳ được sử dụng để huấn luyện các phi công và các thành viên phi hành khác.

U - Tiện ích[sửa | sửa mã nguồn]

Phi cơ tiện ích chủ yếu được sử dụng vào lúc cần thiết cho một việc gì đó. Thí dụ, trực thăng Huey có thể được sử dụng để chuyên chở nhân sự quanh một căn cứ quân sự lớn hay một chỗ tập kết trong khi nó cũng có thể được sử dụng để di tản. Các phi cơ này là các phi cơ thường hay được sử dụng quanh năm.

V - Chuyên chở nhân vật quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ này được dùng để chuyên chở các nhân vật quan trọng trong đó phải kể đến những nhân vật nổi bật là Tổng thống Hoa Kỳ, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, các bộ trưởng, quan chức chính phủ (thí dụ như các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ), Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ và các nhân vật quan trọng khác.

W - Quan sát khí tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi cơ này được sử dụng để nghiên cứu các sự kiện về khí tượng như bão.

Các loại phi cơ ngoại quốc được các phi đoàn đặc biệt sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  • An-26 Curl (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 6)
  • CN-235-100[28] (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 427)
  • Mi-8 (Phi đoàn hành quân đặc biệt số 6)

Hệ thống vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  • AGM-129A (tên lửa hành trình tàng hình hạt nhân): 460 quả
  • AGM-130 MISSILE (tên lủa không đối đất có điều khiển)
  • AGM-65 MAVERICK (tên lủa không đối đất có điều khiển)
  • AGM-86B/C/D MISSILES (tên lửa hành trình không đối đất): AGM-86B: 1,142 quả, AGM-86C: 239 quả, bao gồm Block 0: 41 quả; Block I: 198 quả; AGM-86D: 50 quả
  • AGM-88 HARM (tên lủa diệt rada):
  • AIM-120 AMRAAM (tên lửa không đối không tầm trung tân tiến)
  • AIM-7 SPARROW (tên lửa không đối không có điều khiển)
  • AIM-9 SIDEWINDER (tên lửa không đối không tầm nhiệt)
  • GBU-15 (Bom lượn có điều khiển)
  • GBU-39B (Bom điều khiển): 24,000 quả
  • JDAM GBU- 31/32/38 (Bom chùm có điều khiển): 149,237 quả
  • MASSIVE ORDNANCE PENETRATOR (MOP): Bom khoan
  • LGM-30G MINUTEMAN III (tên lửa hạt nhân đạn đạo liên lục địa): 450 quả

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â United States Air Force (September năm 2009). “The U.S. Air Force”. United States Air Force website. Washington, DC: self-published. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ UNITED STATES AIR FORCE POSTURE STATEMENT 2009
  3. ^ "2009 Air Force Almanac", AIR FORCE Magazine, May 2009, p. 48.
  4. ^ "Gallery of USAF Weapons, 2009 Air Force Almanac". AIR FORCE Magazine, May 2009, pp. 137-138. USAF plans to retire all 460 AGM-129, and all but 528 ALCM by 2012.
  5. ^ "2009 Air Force Almanac - Facts and Figures". AIR FORCE Magazine, May 2009, p. 34. The foreign hire figure is 6,595 persons.
  6. ^ CAP Fact Sheet at August 2009
  7. ^ US Army Air Force
  8. ^ U.S. Intelligence Community (October 2004). National Security Act of 1947. Retrieved 14 April 2006.
  9. ^ U.S. Department of State(2006). National Security Act of 1947. Retrieved 14 April 2006.
  10. ^ Wildsmith, Snow (2012). Joining the United States Air Force. US: McFarland. tr. 56. ISBN 978-0-7864-4758-9. 
  11. ^ a ă Needed: 200 New Aircraft a Year, Air Force Magazine, October 2008.
  12. ^ “2008 USAF Almanac: People” (pdf). AIR FORCE Magazine.  1991: 510,000; 2007: 328,600
  13. ^ 2008/0108scarce.aspx Scarce Flying Hours
  14. ^ Airmen's time tour makes follow-up visits
  15. ^ "Washington watch", AIR FORCE Magazine, July 2008, Vol. 91 No. 7, pp. 8.
  16. ^ Chavanne, Bettina H. "USAF Creates Global Strike Command". Aviation Week, 24 October 2008.
  17. ^ Plan reshapes U.S. air power
  18. ^ Unmanned aircraft take on increased importance
  19. ^ http://www.brookings.edu/opinions/2009/1007_defense_prioirties_chat.aspx
  20. ^ a ă "Air Force Pamphlet 36-2241". USAF, 1 July 2007.
  21. ^ The primary source for the humanitarian operations of the USAF is the United States Air Force Supervisory Examination Study Guide (2005)
  22. ^ “2007 USAF Almanac: Major Commands” (PDF). AIR FORCE Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2008. 
  23. ^ “2007 USAF Almanac: USAF Squadrons By Mission Type” (PDF). AIR FORCE Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2008. 
  24. ^ [1] Air Force Specialty Code Information, United States Air Force, July 2008.
  25. ^ http://www.militaryranks.us/us-military-warrant-officer.htm
  26. ^ http://www.defenselink.mil/specials/insignias/enlisted.html
  27. ^ GAO: April 2007: Tactical Aircraft: DOD Needs a Joint and Integrated Investment Strategy
  28. ^ Photos: Airtech CN-235 Aircraft Pictures | Airliners.net