Quân đội Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân đội Hoa Kỳ
Jointcolors.jpg

Đội cờ hỗn hợp đại diện các lực lượng đồng phục Hoa Kỳ
tại một buổi diễu hành ở trại Myer, quận Arlington, Virginia
Quân chủng Con dấu Lục quân Hoa Kỳ Lục quân Hoa Kỳ

Con dấu Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
Con dấu Hải quân Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Con dấu Không quân Hoa Kỳ Không quân Hoa Kỳ
Con dấu Tuần duyên Hoa Kỳ Tuần duyên Hoa Kỳ

Lãnh đạo
Tổng tư lệnh Barack Obama (Tổng thống)
Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel
Tổng tham mưu trưởng Đại tướng Martin E. Dempsey
Lực lượng
Hiện dịch 1.473.900[1] (xếp thứ 3)
Trừ bị 1.458.500[2]
Chi tiêu
Ngân sách 692 tỉ đô la Mỹ (năm 2010)[3]
(xếp hạng 1 về tổng chi tiêu, hạng 27 theo GDP)
 % GDP 4,7% (năm 2010)
Các bài có liên quan
Lịch sử Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Nội chiến Hoa Kỳ
Đệ nhất Thế chiến (1917–1918)
Đệ nhị Thế chiến (1941–1945)
Chiến tranh lạnh (1945–1991)
Chiến tranh Việt Nam (1959-1975)
Chiến tranh chống khủng bố (2001–nay)

Quân đội Hoa Kỳ hay Các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States Armed Forces) là tổng hợp các lực lượng quân sự thống nhất của Hoa Kỳ. Các lực lượng này gồm có Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, Không quân và Tuần duyên.

Hoa Kỳ có một truyền thống dân sự kiểm soát quân sự mạnh mẽ. Trong lúc Tổng thống Hoa Kỳ là người lãnh đạo tổng thể về quân sự thì Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, một bộ hành chính liên bang, đóng vai trò là cơ quan chính nơi mà các chính sách quân sự được thực hiện. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ do Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ lãnh đạo. Bộ trưởng là một người thuộc giới dân sự và là một thành viên trong Nội các Hoa Kỳ. Bộ trưởng cũng phục vụ trong vai trò tư lệnh quân sự đứng thứ hai sau Tổng thống Hoa Kỳ. Để điều phối hành động quân sự với ngoại giao, Tổng thống Hoa Kỳ có một Hội đồng An ninh Quốc gia với một vị cố vấn an ninh quốc gia lãnh đạo để hội ý. Cả Tổng thống Hoa Kỳ và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ được cố vấn bởi một Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ gồm sáu thành viên là lãnh đạo của các quân chủng. Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ do Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa KỳTổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ lãnh đạo.

Tất cả năm quân chủng được đặt dưới quyền hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, trừ Tuần duyên Hoa Kỳ được đặt dưới quyền của Bộ Nội an Hoa Kỳ vào năm 2003 sau khi có việc tái tổ chức chính phủ theo sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tuần duyên Hoa Kỳ có thể được thuyên chuyển sang Bộ Hải quân Hoa Kỳ theo lệnh của Tổng thống hay Quốc hội Hoa Kỳ trong thời chiến.[4] Tất cả năm lực lượng vũ trang là trong số 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ; hai lực lượng còn lại là Đoàn Ủy nhiệm Y tế Công cộng Hoa KỳĐoàn Ủy nhiệm Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia.

Từ lúc lập quốc, quân sự đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử Hoa Kỳ. Ý nghĩa mang tính định hình và sự thống nhất quốc gia đã được hình thành từ các chiến thắng như các cuộc chiến chống hải tặc Barbary cũng như Chiến tranh 1812. Mặc dù vậy, những người sáng lập ra Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ về một lực lượng quân sự thường trực (vì lo sợ một kẻ độc tài nào đó có thể dùng lực lượng quân sự để thao túng đất nước) cho đến khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ thì một quân đội hiện dịch lớn mạnh mới được chính thức thiết lập

Đạo luật An ninh Quốc gia Hoa Kỳ 1947, được thông qua sau Đệ nhị Thế chiến và trong thời gian bắt đầu xảy ra Chiến tranh lạnh, đã tạo nên khung sườn cho Quân đội Hoa Kỳ hiện đại. Đạo luật này đã sát nhập các bộ cấp nội cácBộ Chiến tranh Hoa KỳBộ Hải quân Hoa Kỳ thành Tổ chức Quân sự Quốc gia (sau đó đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vào năm 1949). Đạo luật này cũng lập ra Bộ Không quân Hoa Kỳ (đặt dưới quyền của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) và Hội đồng An ninh Quốc gia.

Quân đội Hoa Kỳ là một trong các quân đội lớn nhất tính theo quân số. Nguồn nhân lực của Quân đội Hoa Kỳ là từ con số lớn những người tự nguyện phục vụ mặc dù chính sách quân dịch cũng từng được sử dụng nhiều lần trong quá khứ cả thời chiến cũng như thời bình nhưng nó đã không được dùng kể từ năm 1972. Tính đến năm 2010, Hoa Kỳ chi tiêu khoảng 692 tỉ đô la Mỹ mỗi năm để tài trợ cho các lực lượng quân sự của mình,[3] chiếm khoảng 42 phần trăm chi tiêu quân sự thế giới.[5] Tính chung, các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ sở hữu số lượng lớn các trang bị mạnh và tiên tiến mà giúp cho họ khả năng lớn cả về phòng thủ và tấn công.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Lục địa Hoa Kỳ trong chiến tranh giành độc lập 3-1783

Lịch sử Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1775, thậm chí trước khi Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ ra đời để đánh dấu việc thiết lập nên quốc gia Hoa Kỳ. Lục quân Lục địa, Hải quân Lục địa, và Thủy quân lục chiến Lục địa đã được thành lập khi kết thúc thành công Đệ nhị Quốc hội Lục địa để bảo vệ quốc gia non trẻ chống Đế quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ.

Các lực lượng vũ trang này bị giải thể vào năm 1784 sau Hiệp định Paris (1783) kết thúc chiến tranh giành độc lập. Quốc hội Hợp bang thành lập Lục quân Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 6 năm 1784, tuy nhiên trong một thời gian dài Hoa Kỳ không có một quân đội thường trực sẵn sàng chiến đấu. Việc thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đã cho Quốc hội Hoa Kỳ quyền lực "xây dựng và hỗ trợ các lực lượng lục quân", "tạo ra và duy trì một lực lượng hải quân" và "tạo ra những luật lệ cho chính phủ và qui định đối với các lực lượng hải quân và bộ binh" cũng như quyền tuyên chiến và giao cho Tổng thống Hoa Kỳ trách nhiệm làm tổng tư lệnh quân đội.

Các vụ căng thẳng gia tăng vào nhiều thời điểm khác nhau với Đế quốc AnhPháp qua Chiến tranh QuasiChiến tranh 1812 đã làm cho Hải quân Hoa Kỳ (thành lập vào ngày 13 tháng 10 năm 1775) và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (thành lập 10 tháng 11 năm 1775) phát triển nhanh chóng. Tuần duyên Hoa Kỳ có nguồn gốc từ việc thành lập Sở Quan thế Biển Hoa Kỳ (Revenue Cutter Service) năm 1790; cơ quan này được nhập với Sở Cứu cấp Nhân mạng Hoa Kỳ (United States Life-Saving Service) năm 1915 để thành lập Tuần duyên Hoa Kỳ. Không quân Hoa Kỳ được thành lập như một quân chủng độc lập vào năm 1947; nó có nguồn gốc từ việc thành lập Sư đoàn Không gian thuộc Binh chủng Truyền tin năm 1907 và là một bộ phận thuộc Lục quân Hoa Kỳ trước khi nó trở thành một quân chủng độc lập.

Ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ từ năm 1910 đến năm 2007, số liệu được điều chỉnh vì lạm phát phù hợp với tiền đô la Mỹ năm 2003. Điểm đỉnh cao biểu thị cho chi tiêu thời Đệ nhị Thế chiến.
Chi tiêu quân sự Hoa Kỳ từ năm 1910 đến năm 2007 theo phần trăm GDP.
Quân số phục vụ thường trực của Quân đội Hoa Kỳ từ năm 1950 đến 2003. Hai đỉnh điểm quân số cao trùng hợp với Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam.

Hoa Kỳ có ngân sách quốc phòng lớn nhất trên thế giới.[5] Năm ngân sách 2010, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có ngân sách căn bản là 533,8 tỉ đô la Mỹ. Bộ quốc phòng xin thêm 130,0 tỉ đô la để dùng cho các hoạt động ở hải ngoại trong cuộc Chiến tranh chống khủng bố và xin thêm 33 tỉ đô la trọn năm để chi tiêu thêm cho việc tài trợ các hoạt động ở hải ngoại.[3][6][7] Ngoài chi tiêu trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Hoa Kỳ còn chi tiêu thêm từ 218–262 tỉ hàng năm cho các chương trình có liên quan đến quốc phòng khác như chương trình phúc lợi cho cựu chiến binh, an ninh nội địa, bảo trì vũ khí hạt nhân, và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Theo quân chủng, 225,2 tỉ dành cho Lục quân Hoa Kỳ, 171,7 tỉ cho Hải quân Hoa KỳThủy quân lục chiến Hoa Kỳ, 160,5 tỉ cho Không quân Hoa Kỳ và 106,4 tỉ chi tiêu tổng quát cho quốc phòng.[8] Theo bộ phận chức năng, 154,2 tỉ cho nhân sự, 283,3 tỉ cho hoạt động và bảo trì, 140,1 tỉ chi tiêu cho trang thiết bị vũ khí, 79,1 tỉ nghiên cứu và phát tiển, 23,9 tỉ chi tiêu cho xây cất quân sự và 3,1 tỉ chi tiêu cho gia cư.[9]

Năm ngân sách 2009, các chương trình quốc phòng chính cũng tiếp tục được tài trợ. 4,1 tỉ được dùng cho các phi cơ F-22 Raptor thế hệ mới với thêm 22 phi cơ xuất xưởng trong tài khóa 2009. 6,7 tỉ dùng cho phi cơ F-35 Lightning II vẫn đang được phát triển. 16 phi cơ sẽ được giao theo ngân sách này. Chương trình "hệ thống tác chiến tương lai" có thể tiêu tốn khoảng 3,6 tỉ dành cho phát triển nó. Tổng số 12,3 tỉ dùng cho phòng không chống tên lửa bao gồm các hệ thống phòng không "Patriot CAP", PAC-3 và SBIRS-High. 720 triệu cũng được chi tiêu để thiết lập một nơi phòng không chống tên lửa thứ ba ở châu Âu. 4,2 tỉ cũng được dùng để tiếp tục chương trình thay thế các hàng không mẫu hạm. Với sự thiết lập Bộ tư lệnh Hoa Kỳ ở châu Phi, 389 triệu được dùng để phát triển và duy trì bộ tư lệnh mới này.[10]

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 28 tháng 2 năm 2009 có đến 1.454.515 người đang phục vụ[11] trong Quân đội Hoa Kỳ và khoảng thêm 848.000 người đang trong 7 thành phần trừ bị.[2] Tuy nhiên tất cả đều là những người tình nguyện phục vụ quân sự. Chính sách quân dịch cưỡng bách có thể được thực hiện theo lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ và phải được sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ. Quân đội Hoa Kỳ có binh sĩ trú đóng khắp nơi trên thế giới, và đứng hạng 2 trên thế giới sau Quân đội Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc tính theo quân số.

Đầu năm 2007, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã đề nghị với Tổng thống Hoa Kỳ gia tăng quân số của Lục quân và Thủy quân lục chiến để đáp ứng nhu cầu Chiến tranh chống khủng bố.[12] Hiện tại các kế hoạch là gia tăng Lục quân lên đến 547.400 và Thủy quân lục chiến lên đến 202.000 vào năm 2012. Việc gia tăng quân số sẽ tiêu tốn tổng số tiền là 90,7 tỉ từ năm 2009 đến 2013 trong khi đó Hải quân và Không quân phải cắt giảm có giới hạn chế lực lượng của họ.[13]

Giống như đa số quân đội, các thành viên Quân đội Hoa Kỳ đều giữ một cấp bậc quân sự như sĩ quan, cấp chuẩn úy, hạ sĩ quan hay binh sĩ và có thể được thăng cấp.

Nhân sự theo quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 5 năm 2009[14] Thành viên nữ tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2008[15]

Thành phần Tổng số Binh sĩ và hạ sĩ quan Sĩ quan Nữ Dân sự
United States Department of the Army Seal.svg Lục quân 548.000 456.651 88.093 73.902 243.172
USMC logo.svg Thủy quân lục chiến[16] 203.095 182.147 20.639 12.290
US-DeptOfNavy-Seal.svg Hải quân 332.000 276.276 51.093 50.008 182.845
Seal of the US Air Force.svg Không quân 323.000 261.193 64.370 64.137 154.032
USCG S W.svg Tuần duyên 41.000 32.647 8.051 4.965 7.396
Tổng số hiện dịch 1.445.000 1.174.563 224.144 200.337 580.049
US Army National Guard Insignia.svg Lục quân Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ 353.000
United States AR seal.svg Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ 205.000
MarforresLogo.jpg Thủy quân lục chiến Trừ bị Hoa Kỳ 40.000
United States NR Seal.svg Hải quân Trừ bị Hoa Kỳ 67.000
Air national guard shield.svg Không quân Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ 107.000
Air Force Reserve Command.png Không quân Trừ bị Hoa Kỳ 67.000
United States Coast Guard Reserve emblem.png Tuần duyên Trừ bị Hoa Kỳ 11.000
Tổng số trừ bị 850.000
Các nhân sự khác của Bộ Quốc phòng 97.976

Đóng quân[sửa | sửa mã nguồn]

Hải ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:800px-US military bases in the world.svg.png
Bản đồ thể hiện sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trên thế giới, năm 2007

Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2008, Quân đội Hoa Kỳ đồn trú tại hơn 820 căn cứ và cơ sở ở ít nhất 135 quốc gia.[17] Một số nơi có quân số đông nhất là ở Iraq với 142.000 quân, Đức với 56.222 quân, Nhật Bản với 33.122 quân, Hàn Quốc với 28.500 quân, Afghanistan với 31.100 quân và tại ÝVương quốc Anh mỗi nơi có khoảng 9.700 quân. Các số liệu này thường thay đổi vì các đơn vị luôn được triển khai và rút đi thường xuyên.

Tổng cộng có chừng 84.488 quân nhân đóng quân tại châu Âu, 154 tại các quốc gia cựu Liên Xô, 70.719 tại Đông ÁThái Bình Dương, 7.850 tại Bắc Phi, Cận Đông, và Nam Á, 2.727 tại Hạ-Sahara châu Phi và 2.043 tại Tây Bán cầu trừ Hoa Kỳ.

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Bao gồm các vùng quốc hải Hoa Kỳ và các tàu nổi trong hải phận của Hoa Kỳ

Tổng số 1.118.027 quân nhân đang phục vụ tại Hoa Kỳ và các vùng lãnh thổ của mình (bao gồm các tàu nổi).[18] Phần lớn khoảng 883.430 quân nhân đóng quân tại nhiều căn cứ bên trong Hoa Kỳ Lục địa. Có thêm 36.827 tại Hawaii và 19.828 tại Alaska. Có khoảng 90.218 quân nhân trên các vùng biển trong khi đó có 2.970 quân nhận tại đảo Guam và 137 tại Puerto Rico.

Các cấp bậc nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú tiếng Anh:

  • Enlisted rank hay chính xác hơn enlisted rate: có nghĩa là bậc lương cho nhóm quân nhân có cấp bậc từ tân binh cho đến hạ sĩ quan cao cấp nhất. Trong thứ tự bậc lương bắt đầu từ bậc lương E-1 (tân binh) cho đến bậc lương cao nhất là E-9 (thượng sĩ cao cấp)
  • Enlisted: để chỉ riêng nhóm binh sĩ. Bậc lương của nhóm này có thể từ E-1 đến E-3 hoặc E-4
  • Non-commissioned officers (sát nghĩa là các viên chức không ủy nhiệm): để chỉ nhóm hạ sĩ quan. Bậc lương của nhóm này có thể từ E-4 đến E-9
  • Warrant officers: có thể nói tương đương chuẩn úy trong tiếng Việt vì trên hạ sĩ quan và dưới sĩ quan. Tuy nhiên có sự khác biệt với cấp bậc trong tiếng Việt là nhóm chuẩn úy này có một số cấp bậc phụ nữa, thí dụ như chuẩn úy 1, chuẩn úy 2,...
  • Commissioned officers (sát nghĩa là viên chức ủy nhiệm): để chỉ nhóm sĩ quan từ thiếu úy lên đến đại tướng (thống tướngđại thống tướng là 2 trường hợp đặc biệt)

Binh sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Các quân nhân Hoa Kỳ tại một buổi thi đấu bóng bầu dục Mỹ, từ trái sang phải: các quân nhân Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Không quân Hoa Kỳ, Hải quân Hoa KỳLục quân Hoa Kỳ.

Những binh sĩ phục vụ tương lai thường được tuyển mộ từ các trường trung học và đại học, tuổi tuyển mộ được nhắm vào là từ 18 đến 28. Những người nộp đơn xin có thể ghi danh lúc 17 tuổi nhưng với sự chấp thuận của một trong hai phụ huynh là cha mẹ hay người giám hộ và sau đó sẽ tham dự vào chương trình nhập ngũ trì hoãn. Trong chương trình này, những người nộp đơn được cho cơ hội tham dự vào các hoạt động có liên quan đến quân sự được bảo trợ tại địa phương mà có thể gồm có từ các môn thể thao đến tranh tài được hướng dẫn bởi các nhân viên tuyển mộ nhập ngũ hay những văn phòng liên lạc quân sự khác.

Sau khi nhập ngũ, những tân binh này trải qua sự huấn luyện cơ bản (còn được biết với tên gọi "boot camp" trong Hải quân, Tuần duyên và Thủy quân lục chiến), theo sau đó là học ngành chuyên nghiệp quân sự chính của mình tại một trong nhiều cơ sở huấn luyện trên khắp thế giới. Mỗi quân chủng tiến hành huấn luyện tân binh khác nhau.

Ban đầu, các tân binh không có trình độ giáo dục cao hay bậc đại học sẽ có bậc lương E-1, và thường sẽ được thăng bậc lên E-2 ngay sau khi hoàn thành xong huấn luyện cơ bản. Các quân chủng khác nhau có các chương trình khuyến khích khác nhau đối với các tân binh, thí dụ như cấp bậc ban đầu cao hơn nếu có học đại học và giới thiệu bạn bè đăng ký nhập ngũ. Tham dự vào chương trình nhập ngũ trì hoãn là 1 cách những người nhập ngũ có thể có được cấp bậc trước khi họ khởi sự đi huấn luyện cơ bản.

Có một số tiêu chuẩn bậc lương được cho phép khác nhau trong mỗi nhóm bậc lương binh sĩ (từ E-1 đến E-3) và mỗi quân chủng cũng khác nhau. Những người đầu quân trong Lục quân có thể được bậc lương ban đầu E-4 nếu có một bằng cấp bốn năm tuy nhiên bậc lương ban đầu cao nhất thường là E-3.

Hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Rất ít ngoại lệ, để trở thành một hạ sĩ quan trong Quân đội Hoa Kỳ các quân nhân phải thực hiện từ từ qua các cấp bậc từ binh sĩ. Tuy nhiên, không giống như thăng cấp trong nhóm binh sĩ, thăng cấp trong nhóm hạ sĩ quan thường là nhờ vào năng lực cạnh tranh với đồng đội. Các cấp bậc hạ sĩ quan bắt đầu từ bậc lương E-4 hay E-5, tùy thuộc quân chủng và thường đạt đến bậc lương này trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 năm tại ngũ. Các hạ sĩ quan cấp thấp đóng vai trò như những người quản lý cấp 1 đối với nhóm binh sĩ hay vai trò của tiểu đội trưởng, huấn luyện các binh sĩ về nhiệm vụ của họ và hướng dẫn họ thăng tiến.

Trong khi được xem là thuộc nhóm hạ sĩ quan theo luật, các hạ sĩ quan cao cấp trong tiếng Anh gọi là senior non-commissioned officer (SNCOs) hay Chief Petty Officer trong Hải quân Hoa Kỳ và Tuần duyên Hoa Kỳ và staff non-commissioned officers trong Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, thực hiện các nhiệm vụ thiên về lãnh đạo hơn là chuyên môn kỹ thuật. Thăng cấp lên đến hạ sĩ quan cao cấp có cấp bậc từ E-7 đến E-9 (E-6 đến E-9 trong Thủy quân lục chiến) là do phấn đấu cao của bản thân. Bậc lương từ E-8 và E-9 bị giới hạn theo luật liên bang là đến 2,5 phần trăm cho toàn quân đội và 1 phần trăm toàn lực lượng binh sĩ và hạ sĩ quan của một quân chủng. Các hạ sĩ quan cao cấp đóng vai trò lãnh đạo các đơn vị nhỏ và làm việc trong bộ tham mưu. Một số hạ sĩ quan cao cấp điều hành các chương trình có cấp bậc tổng hành dinh và một số ít được chọn nắm giữ các trách nhiệm ở cấp bậc cao nhất trong cơ cấu tổ chức quân đội. Đa số các tư lệnh đơn vị có một viên hạ sĩ quan cao cấp làm cố vấn. Tất cả các hạ sĩ quan cao cấp được trông mong là chỉ dẫn cho các hạ sĩ quan cấp thấp cũng như các binh sĩ trong bộ phận trách nhiệm của mình. Một tân binh thông thường phải mất 10 đến 16 năm quân ngũ để thăng chức đến cấp bậc hạ sĩ quan cao cấp.

Mỗi quân chủng trong năm quân chủng đều có một hạ sĩ quan cao cấp làm cố vấn ở cấp bậc bộ quân chủng. Người này là thành viên có cấp bậc hạ sĩ quan cao nhất trong quân chủng của mình và phục vụ trong vai trò cố vấn trưởng cho bộ trưởng, tham mưu trưởng quân chủng đó và Quốc hội Hoa Kỳ về các vấn đề có liên quan đến nhóm binh sĩ và hạ sĩ quan của quân chủng. Những hạ sĩ quan cao cấp này mang trọng trách và tính cách tương đương như các sĩ quan cấp tướng và sĩ quan mang quân kỳ. Họ là những người có cấp bậc như sau:

  • Sergeant Major of the Army: tạm dịch là "đại thượng sĩ Lục quân Hoa Kỳ"
  • Sergeant Major of the Marine Corps: tạm dịch là "đại thượng sĩ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ"
  • Master Chief Petty Officer of the Navy: tạm dịch là "thủy sư thượng sĩ Hải quân Hoa Kỳ"
  • Chief Master Sergeant of the Air Force: tạm dịch là "đại thượng sĩ Không quân Hoa Kỳ"
  • Master Chief Petty Officer of the Coast Guard: tạm dịch là "thủy sư thượng sĩ Tuần duyên Hoa Kỳ"

Cấp bậc chuẩn úy[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, tất cả các quân chủng trừ Không quân Hoa Kỳ có cấp bậc chuẩn úy đang sử dụng. Trên cấp bậc chuẩn úy 1 (warrant officer one) các quân nhân này có thể được xem là cấp sĩ quan, nhưng thường phục vụ trong một vai trò chuyên nghiệp và kỹ thuật của đơn vị mình. Tuy nhiên gần đây hơn, các quân nhân này cũng có thể phục vụ trong những vai trò lãnh đạo truyền thống hơn như các sĩ quan thông thường khác. Có một ngoại lệ đáng ghi nhận, thí dụ như các phi công trực thăng của Lục quân Hoa Kỳ, những quân nhân này thông thường đã có mặt trong quân đội và từng phục vụ trong vai trò các hạ sĩ quan cao cấp trong ngành mà mình sau đó sẽ phục vụ với cấp bậc chuẩn úy với tư cách là chuyên viên kỹ thuật. Đa số các phi công Lục quân Hoa Kỳ đã từng phục vụ một thời gian trong cấp bậc hạ sĩ quan. Cũng có thể họ đã từng đăng vào tân binh, hoàn thành khóa huấn luyện căn bản, rồi đi thẳng vào trường ứng viên chuần úy tại Trại Rucker, Alabama để sau đó tiếp tục học lái phi cơ.

Cấp bậc chuẩn úy trong Quân đội Hoa Kỳ có cùng tập tục và tác phong giống như cấp bậc sĩ quan. Họ có thể tham dự các câu lạc bộ sĩ quan, nhận vai trò chỉ huy, và được các quân nhân cấp chuẩn úy dưới bậc và toàn thể hạ sĩ quan binh sĩ chào khi gặp mặt.

Không quân Hoa Kỳ không còn sử dụng cấp bậc chuẩn úy từ năm 1959 khi bậc lương E-8 và E-9 ra đời. Đa số các nhiệm vụ không bay do các quân nhân cấp chuẩn úy đảm nhiệm trong các quân chủng khác được Không quân Hoa Kỳ thay thế bằng các quân nhân hạ sĩ quan cao cấp.

Sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Có năm cách thông thường để được ủy nhiệm thành một sĩ quan của một trong 5 quân chủng (mặc dù cũng có các con đường khác).

  • Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Trừ bị (Reserve Officers' Training Corps)
  • Trường Ứng viên Sĩ quan (OCS): là các học viện dành cho quân nhân đang tại ngũ, hay, trong trường hợp của Vệ binh Quốc gia thì do các học viện được tiểu bang tài trợ.
  • Các học viện quân chủng (Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở West Point, New York; Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland; Học viện Không quân Hoa Kỳ ở Colorado Springs, Colorado; Học viện Tuần duyên Hoa Kỳ ở New London, Connecticut; và Học viện Thương mại Biển Hoa Kỳ ở Kings Point, New York.)
  • Được ủy nhiệm trực tiếp - những người trong giới dân sự có các kỹ năng mà quân đội cần cho việc hoạt động và hỗ trợ binh sĩ có thể được ủy nhiệm trực tiếp thành sĩ quan. Các sĩ quan này giữ các chức vụ lãnh đạo trong ngành sau đây: luật, y tế, nha khoa, dược khoa, quân y, tình báo, vận tải-tiếp liệu, công binh, công cộng sự vụ, tuyên úy, đại dương học, và những ngành khác.
  • Ủy nhiệm tại mặt trận - dưới một số điều kiện nào đó, các hạ sĩ quan có kỹ năng hơn các đồng sự của họ có thể trở thành sĩ quan theo sự ủy nhiệm trực tiếp của một vị tư lệnh. Kiểu ủy nhiệm này hiếm khi xảy ra và chỉ dành riêng cho các cá nhân tài giỏi nhất và thông thường chỉ có vào thời chiến. Không có ủy nhiệm trực tiếp tại mặt trận kể từ Chiến tranh Việt Nam.
  • Sĩ quan công vụ hạn chế - vì lẽ tự nhiên thiếu một số sĩ quan có kỹ thuật cao nên Hải quân Hoa Kỳ có mở một hệ thống thăng chức dành cho các quân nhân hạ sĩ quan cao cấp có tài vào các chức vụ sĩ quan. Họ đáp ứng nhu cầu tương tự nhưng đặc biệt so với các nhu cầu mà quân nhân cấp chuẩn úy đảm nhiệm. Trong khi các quân nhân cấp chuẩn úy vẫn là các chuyên viên kỹ thuật thì các sĩ quan công vụ hạn chế đảm trách vai trò tổng thể hơn, giống như các sĩ quan.

Các quân nhân nhận ủy nhiệm từ Tổng thống Hoa Kỳ để trở thành sĩ quan (với sự ưng thuận của Thượng viện Hoa Kỳ). Để chấp nhận sự ủy nhiệm này, tất cả sĩ quan phải tuyên thệ nhận chức (từ commissioned officer có nghĩa là viên chức được ủy nhiệm tương đương nghĩa sĩ quan trong tiếng Việt).

Trong đời binh nghiệp, các sĩ quan sẽ phải trải qua các khóa huấn luyện cao hơn tại một hoặc nhiều trường đại học tham mưu.

Các sĩ quan cấp đại đội có bậc lương từ O-1 (thiếu úy) đến O-3 (đại úy) đảm nhận vai trò lãnh đạo các đơn vị nhỏ hoặc một bộ phận nào của một đơn vị, thông thường họ có một quân nhân hạ sĩ quan cao cấp có kinh nghiệm làm người hướng dẫn và trợ tá.

Các sĩ quan cấp bậc chiến trường có bậc lương từ O-4 (thiếu tá) đến O-6 (đại tá) chỉ huy các cuộc hành quân phức tạp hơn và lớn hơn. Các sĩ quan có bậc lương từ O-1 (thiếu úy) đến O-3 (đại úy) được xem không chính thức là các sĩ quan cấp thấp; những sĩ quan có bậc lương từ O-4 (thiếu tá) đến O-6 (đại tá) đôi khi được công nhận là sĩ quan cao cấp.

Các sĩ quan cấp tướng hay các sĩ quan mang quân kỳ phục vụ ở các cấp bậc chỉ huy cao nhất.

Cấp bậc 5-sao[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là các cấp bậc vinh dự và trách nhiệm cao nhất trong quân đội nhưng gần như không được cấp trong lúc phục vụ thời bình và chỉ được rất ít sĩ quan mang trong thời chiến:

Không có cấp bậc tương đương cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ hay Tuần duyên Hoa Kỳ. Giống như cấp bậc 3 và 4-sao, Quốc hội Hoa Kỳ là nơi có quyền chấp thuận xác nhận một cấp bậc 5-sao.

Cấp bậc đại thống tướng lục quân được xem là cao hơn thống tướng lục quân nhưng chưa có một vị sĩ quan nào giữ khi đang tại ngũ và có các sĩ quan khác giữ cấp bậc thống tướng. Có hai người được phong cấp bậc này là: John J. Pershing được phong cấp bậc này năm 1919 sau Đệ nhất Thế chiếnGeorge Washington được phong cấp bậc này sau khi mất vào năm 1976 đúng lúc kỷ niệm 200 năm lập quốc Hoa Kỳ. Pershing, được phong đại thống tướng lục quân khi còn sống vào thời gian có các sĩ quan được phong cấp thống tướng lục quân trong thời Đệ nhị Thế chiến. George Washington được phong đại thống tướng theo công luật 94-479 và theo văn bản thì "cấp bậc này cao hơn bất cứ cấp bậc nào khác của lục quân trong quá khứ cũng như hiện tại". Như vậy theo văn bản thì cấp bậc của Washington chẳng những cao hơn Pershing mà còn vĩnh viễn cao hơn bất cứ cấp bậc nào của Lục quân Hoa Kỳ.

Đối với Hải quân Hoa Kỳ, cấp bậc tương đương đại thống tướng lục quân theo lý thuyết là Admiral of the Navy hay đại thủy sư đô đốc. Cấp bậc này chưa từng có vị sĩ quan hải quân tại ngũ nào giữ trong lúc có các sĩ quan mang quân hàm fleet admiral hay thủy sư đô đốc. George Dewey là người duy nhất từng giữ cấp bậc này. Sau khi cấp bậc thủy sư đô đốc được thiết lập vào năm 1944, Bộ Hải quân Hoa Kỳ nói rõ rằng cấp bậc cấp bậc thủy sư đô đốc đứng sau cấp bậc đại thủy sư đô đốc. Tuy nhiên từ khi Dewey qua đời nằm 1917 trước khi cấp bậc thủy sư đô đốc được lập ra, tình trạng của cấp bậc 6-sao vẫn hoàn toàn chưa được xác nhận.

Tội ác[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Hoa Kỳ đôi khi cũng chịu những chỉ trích hay cáo buộc về các tội ác trong chiến tranh, các tội ác về vi phạm nhân quyền, có thể kể đến một số điển hình như: tàn sát thổ dân châu Mỹ; giết chóc và hủy diệt trong Chiến tranh thế giới thứ hai; thảm sát, dội bom và dùng vũ khí vi trùngTriều Tiên; thảm sát, dội bom và rải chất độc da camViệt Nam; bắn rơi máy bay chở khách trong chiến tranh Iran-Iraq, không kích ở Nam Tư; thảm sát dân thường ở Iraq, Afghanistan; tấn công tình dục; tra tấn tù nhân,...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://siadapp.dmdc.osd.mil/personnel/MILITARY/ms0.pdf
  2. ^ a ă http://frwebgate.access.gpo.gov/cgi-bin/getdoc.cgi?dbname=110_cong_bills&docid=f:s3001pcs.txt.pdf
  3. ^ a ă â Federal Government Outlays by Function and Subfunction: 1962–2015 Fiscal Year 2011 (Table 3.2)
  4. ^ The United States Coast Guard has both military and law enforcement functions. Title 14 of the United States Code provides that "The Coast Guard as established 28 January 1915, shall be a military service and a branch of the armed forces of the United States at all times." Coast Guard units, or ships of its predecessor service, the Revenue Cutter Service, have seen combat in every war and armed conflict of the United States since 1790, including the Iraq War.
  5. ^ a ă The Top 15 Military Spenders, 2008
  6. ^ Funding Levels for Appropriated ("Discretionary") Programs by Agency (Table S–11)
  7. ^ http://www.gpoaccess.gov/usbudget/fy09/pdf/budget/defense.pdf
  8. ^ Death and Taxes
  9. ^ Table 3.2—Outlays by Function and Subfunction: 1962–2014
  10. ^ http://www.ndia.org/Content/NavigationMenu/Advocacy/Action_Items/FY2009_Major_Weapons_Systems.pdf
  11. ^ http://siadapp.dmdc.osd.mil/personnel/MILITARY/rg0902.pdf
  12. ^ Bender, Bryan (12 tháng 1 năm 2007). “Gates calls for buildup in troops”. The Boston Globe. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2007. 
  13. ^ http://www.fas.org/sgp/crs/natsec/2009dodbud.pdf
  14. ^ http://www.airforce-magazine.com/MagazineArchive/Magazine%20Documents/2009/May%202009/0509facts_fig.pdf
  15. ^ http://siadapp.dmdc.osd.mil/personnel/MILITARY/rg0809f.pdf
  16. ^ Lamothe, Dan (16 tháng 10 năm 2009). “Corps ends year with 203,000 active Marines”. Marine Corps Times. Gannett Company. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2009. 
  17. ^ “Active duty military personnel strengths by regional area and by country” (PDF). U.S. Department of Defense. 2008. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2008. 
  18. ^ “U.S. Military Deployment” (PDF). United States Department of Defense. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]