Dụ ngôn Người Samaria nhân lành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Người Sa-ma-ri nhân lành hay Người Samari nhân đức là một dụ ngôn được Lu-ca ghi lại trong sách Phúc âm mang tên ông. Nhiều người tin rằng đây là dụ ngôn của Chúa Giê-xu được thuật lại nhằm chuyển tải thông điệp khuyến khích lòng nhân ái dành cho mọi người, và tinh thần của Luật pháp là quan trọng hơn văn tự. Trong dụ ngôn này, Chúa Giê-xu mở rộng định nghĩa về người lân cận vượt quá quan niệm thông thường.[1]

Dụ ngôn[sửa | sửa mã nguồn]

Phúc âm Lu-ca 10: 25-37:

Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Chúa Giê-xu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Ngài đáp: “Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc và hiểu thế nào?” Người ấy thưa: “Ngươi phải hết lòng, hết sức lực, hết tâm trí mà kính yêu Chúa là Thiên Chúa ngươi; và yêu thương người lân cận như chính mình.” Chúa Giê-xu phán: “Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống.”

Nhưng người ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Chúa Giê-xu: "Ai là người lân cận tôi?” Chúa Giê-xu đáp: “Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống dở chết. Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc. Ngày hôm sau, ông lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán và nói: 'Hãy săn sóc người này, nếu tốn hơn nữa, khi trở về tôi sẽ hoàn lại.'
Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp?" Luật gia thưa: "Ấy là người đã bày tỏ lòng thương đối với nạn nhân." Chúa Giê-xu phán: "Hãy đi, làm theo như vậy."

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

"Người Sa-ma-ri nhân lành",
tranh Pelegrín Clavé y Roqué (1838), Reial Acadèmia Catalana de Belles Arts de Sant Jordi, Barcelona

Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là người dân xứ Sa-ma-ri vào thời ấy bị đố kỵ và khinh miệt như là dân bội giáo trong mắt của người Do Thái, là những người đang quây quần lắng nghe Chúa Giê-xu kể câu chuyện này. Như thế, qua dụ ngôn, Chúa Giê-xu chọn cho mình chủ đề chống phân biệt chủng tộc và đề cao tinh thần hoà hợp giữa các dân tộc. Lúc ấy, cộng đồng người Sa-ma-ri đang bị thu hẹp dần đến mức gần như tuyệt chủng, dẫn đến hệ quả ngày càng ít người gặp gỡ hay tiếp xúc với người Samaria, hoặc ngay cả nghe nói về họ. Hầu như không còn ai lưu ý đến sự tồn tại của họ.

Suốt trong những ngày sống trên đất, Chúa Giê-xu luôn bị những thầy thông giáo và người Pharisee theo đuổi để cáo buộc ngài là gần gũi với những kẻ thâu thuế và phường tội lỗi, "Các người Pharisee và các thầy thông giáo phàn nàn với môn đồ Ngài rằng: Sao các ông lại ăn uống với phường thu thuế và bọn người tội lỗi?".[2] Do đó, trong dụ ngôn này, Chúa Giê-xu khẳng định những lý lẽ khiến ngài hành động như thế, như được thuật lại trong Phúc âm Lu-ca, "Chúa Giê-xu đáp: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không đến để gọi người công chính, song gọi kẻ có tội ăn năn".[3] Người bị kẻ cướp trấn lột trong dụ ngôn là hình ảnh của những người đau ốm, thương tật trong tâm linh. Những người đầu tiên gặp kẻ khốn khổ đang nằm bên đường là thầy tư tế và người Lê-vi - những người có nhiệm vụ chăm sóc và giúp đỡ người khác - lại là những kẻ vội vàng tránh đi: một nghịch lý diễn ra trong dụ ngôn này, những người được xã hội xem là đạo cao đức trọng lại là những kẻ vô trách nhiệm, trong khi một kẻ bị xã hội khinh miệt, là người chịu đưa lưng gánh vác. Có lẽ thầy tư tế tự biện minh rằng nếu cứu giúp người mắc nạn thì buộc phải chạm tay vào thân thể một kẻ bội giáo, như thế, theo cách luận giải luật pháp của họ, sẽ trở nên bất khiết và phải thực hiện nghi lễ thanh tẩy theo đòi hỏi của lề luật Moses. Thầy tư tế thà bỏ đi để giữ mình tinh sạch theo qui định dành cho giới tư tế hơn là cứu một mạng người. Người Lê-vi (chức sắc phụng sự trong đền thờ) cũng hành động tương tự. Một thách thức ẩn giấu trong dụ ngôn này, nếu lời biện minh là đúng: Chúng ta chỉ nên thể hiện lòng nhân ái khi thuận tiện, hay cần phải đi ra để tích cực giúp đỡ người khác?" Gia-cơ 4: 17 bình luận: "Cho nên, kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội."

Ẩn dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩn dụ về lòng nhân ái[sửa | sửa mã nguồn]

Phúc âm Mátthêu kể rằng, khi được một người hỏi: "trong sách Luật Môisê, điều răn nào là điều răn lớn nhất?" thì Giê-xu đã trả lời: "Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi"; và ông nói thêm: "ngươi phải yêu người lân cận như chính mình" (Ma-thi-ơ 22: 34-40).

Thế nào là người lân cận (có bản dịch khác là người láng giềng), trong Dụ ngôn Người Samaria nhân lành này, có thể hiểu Giê-xu giải thích đó là bất cứ người nào mà ta gặp, người lân cận ở đây bao gồm tất cả những người đang cần giúp đỡ, và như thế phải tỏ sự nhân ái, biết quan tâm người khác.

Trong bài giảng trên núi, Giê-xu cũng nhắc nhở "Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!" (Ma-thi-ơ 5 :7) và "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu cả kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi" (Ma-thi-ơ 5:44)

Ẩn dụ về sự Sa ngã của Loài người và về sự Cứu rỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo luận giải của John W. Welch:[4]

“Nội dung của dụ ngôn này là rất thú vị và có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Nhưng sâu xa hơn nữa, truyền thống lâu đời của Cơ Đốc giáo xem dụ ngôn này là ẩn dụ về sự sa ngã của loài người và ân sủng cứu rỗi Thiên Chúa dành cho họ. Sự thông hiểu ý nghĩa câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành của hội thánh sơ khai được thể hiện trên những tác phẩm nghệ thuật ở một giáo đường danh tiếng xây dựng từ thế kỷ 11 tại thành phố Chartres ở nước Pháp. Trên một trong những cửa sổ của nhà thờ, phần trên vẽ tranh AdamEva lúc bị đuổi khỏi vườn Eden do phạm tội, và ngay bên dưới là tranh vẽ về câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành.” Cách luận giải theo biểu tượng này là phổ biến trong thời kỳ Trung Cổ[5]... Từ thế kỷ thứ 2, Irenaeus ở Pháp và Clement thành Alexandria đã nhận ra rằng người Samaria nhân lành là biểu tượng cho Chúa Giê-xu đang cứu rỗi loài người sa ngã mang đầy thương tích của tội lỗi. Origin, một môn đệ của Clement, giải thích rằng cách luận giải theo phép ẩn dụ này lưu truyền từ các tín hữu Cơ Đốc thời kỳ hội thánh tiên khởi:

Người đàn ông đang trên đường đi xuống biểu trưng cho Adam. Jerusalemthiên đàng, Jericho là thế gian. Kẻ cướp là quyền lực thù địch. Thầy tư tế là Luật pháp, người Lê-vi là các tiên tri, người Sa-ma-ri là Chúa Giê-xu. Các vết thương là lòng bội nghịch của con người đối với Thiên Chúa, con lừa là thân thể Chúa, quán trọ, nơi đón tiếp mọi người muốn vào, là hội thánh... Người chủ quán trọ là đầu của hội thánh, là người chăm sóc nạn nhân. Và lời hứa của người Samaria sẽ trở lại biểu trưng cho sự tái lâm của Chúa Giê-xu.[6]

Cách giải thích theo phép ẩn dụ này không chỉ được loan truyền bởi các môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-xu, mà còn được lưu truyền suốt thời kỳ sơ khai của Cơ Đốc giáo bởi các giáo phụ như Irenaeus, Clement, và Origen. Trong thế kỷ thứ tư và thứ năm có Chrysostom thành Constantinopolis, Ambrose thành Milan, và Augustine ở Bắc Phi”.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dụ ngôn này là một trong những chuyện kể nổi tiếng nhất trong Kinh Thánh và ảnh hưởng của nó sâu rộng đến nỗi trong văn hoá phương Tây ngày nay, thuật ngữ "Người Sa-ma-ri" được dùng để chỉ người rộng lòng nhân ái, sẵn sàng ra tay giúp đỡ những người khốn khó mà không chút ngại ngần. Tại nhiều quốc gia nói tiếng Anh, luật "người Sa-ma-ri nhân lành" ra đời nhằm miễn thuế tính trên khoản tiền một công dân đóng góp cho các quỹ từ thiện.

Ngày nay câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành được kể lại hầu như khắp nơi trên thế giới, thường được cải biên để thích ứng với những dị biệt về văn hoá và điều kiện xã hội tại nơi chốn mà nó được truyền đến.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kilgallen 122
  2. ^ Phúc âm Lu-ca 5: 30
  3. ^ Phúc âm Lu-ca 5: 31-32
  4. ^ http://byustudies.byu.edu/Shop/PDFSRC/38.2Welch.pdf
  5. ^ Malcolm Miller, Chartres Cathedral (1985), 68.
  6. ^ Origen, Homily 34.3, Joseph T. Lienhard, trans., Origen: Homilies on Luke, Fragments on Luke (1996), 138.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, Raymond E. An Introduction to the New Testament Doubleday 1997 ISBN 0-385-24767-2
  • Brown, Raymond E. et al. The New Jerome Biblical Commentary Prentice Hall 1990 ISBN 0-13-614934-0
  • Kilgallen, John J. A Brief Commentary on the Gospel of Luke Paulist Press 1988 ISBN 0-8091-2928-0
  • Miller, Robert J. The Complete Gospels Polebridge Press 1994 ISBN 0-06-065587-9
  • Welch, John W. The Good Samaritan: The Forgotten Symbols. Ensign, tháng 2 năm 2007. p. 40-47.
  • Welch, John W. The Good Samaritan: A Type and Shadow of the Plan of Salvation. Brigham Young University Studies, spring 1999, 51–115.