Dụ ngôn Vị mục tử nhân lành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dụ ngôn Người Chăn Nhân lành được ký thuật trong Phúc âm John (Gioan hoặc Giăng): 10. 1- 21, miêu tả Chúa Giê-xu là Người Chăn Nhân lành đến để phó mạng sống mình cho bầy chiên. Theo các sách phúc âm, Chúa Giê-xu đến thế gian, nhưng thế gian không chịu nhận biết Chúa, dù ngài là đấng tạo dựng thế gian. Song hễ ai tiếp nhận ngài, thì người ấy sẽ trở nên con dân của Thiên Chúa[1]. Dụ ngôn này được nhắc đến trong bốn sách phúc âm qua nhiều trích dẫn liên quan đến sự kiện Chúa Giê-xu không hề để chiên lạc mất.

Qua những diễn biến xoay quanh dụ ngôn Người Chăn Nhân lành (Phúc âm Giăng 9. 24 – 41"%2041;&version=19;, và 10. 22-30[1]) Chúa Giê-xu khẳng định ngài là Thiên Chúa. Phản ứng của người Do Thái (ném đá Chúa Giê-xu,...) là những chỉ dẫn cho thấy họ hiểu rõ điều Chúa Giê-xu đã khẳng định. Song họ cần phải hiểu và tin rằng Chúa Giê-xu là một thân vị trong Ba Ngôi, là lời chứng mà Giăng Báp-tít (Gioan Tẩy giả) đã xác quyết về Chúa.

Dụ ngôn[sửa | sửa mã nguồn]

Bản dịch của Tin Lành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phúc âm Giăng 10. 11-18:

Ta là người chăn nhân lành; người chăn nhân lành vì chiên mình mà phó sự sống mình. Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không thuộc về nó, nếu thấy muông sói đến, thì nó bỏ chiên chạy trốn; muông sói cướp lấy chiên và làm cho tản lạc. Ấy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến chiên. Ta là người chăn nhân lành, ta quen chiên ta và chiên ta quen ta, cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình. Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn chúng về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có môt bầy, và một người chăn mà thôi. Này, tại sao cha yêu ta: ấy vì ta phó sự sống mình, để được lấy lại. Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng ta tự phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh này nơi Cha ta.

  • Luca 15. 1-7

Hết thảy các người thu thuế và người có tội đến gần Chúa Giê-xu đặng nghe Ngài giảng. Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người này tiếp những kẻ tội lỗi, và cùng ăn với họ!

Ngài bèn phán với họ lời thí dụ này: Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu lạc mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao? Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai; đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng; Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.

Bản dịch của Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phúc âm Gioan 10: 11-18

Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.

  • Phúc âm Luca 15: 1-7

Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng." Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này: "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó. Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Ngôi Lời (Chúa Giê-xu) ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài. Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Thiên Chúa, là ban cho những kẻ tin danh Ngài" - Giăng 1. 10-12