Không hỏi, không nói

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Không hỏi, không nói là thuật ngữ thường được sử dụng cho chính sách hạn chế quân đội Mỹ không được dùng nỗ lực để khám phá hoặc tiết lộ giới tính của những quân nhân đồng tính kín hay lưỡng tính, trong khi ngăn cản những người công khai đồng tính nam, đồng tính nữ, hay lưỡng tính nhập ngũ. Các hạn chế này là quy định của luật liên bang (10 U.S.C. § 654).

Chính sách cấm những người "thể hiện một xu hướng hay ý định tham gia vào các hành vi đồng tính" không được phục vụ trong lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ, bởi vì sự hiện diện của họ "sẽ tạo ra một nguy cơ không thể chấp nhận để các tiêu chuẩn cao về tinh thần, trật tự tốt, kỷ luật, và đơn vị sự gắn kết đó là bản chất của năng lực quân sự."

Thượng viện Mỹ ngày 18/12 đã thông qua một dự luật với 65/31 phiếu cho phép binh sĩ công khai chuyện đồng tính mà không cần phải rời quân ngũ. Những người ủng hộ Dự luật so sánh nó với việc bãi bỏ phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ.

Đạo luật này cấm bất kỳ quân nhân (đang phục vụ cho Quân đội Hoa Kỳ) đồng tính hoặc lưỡng tính nào được tiết lộ xu hướng tình dục của mình hoặc từ nói về bất cứ mối quan hệ đồng tính, bao gồm cả cuộc hôn nhân hoặc các thuộc tính gia đình khác. Đạo luật này quy định rằng các quân nhân tiết lộ họ là đồng tính hay tham gia vào các hành vi đồng tính sẽ được cách ly (hay sa thải) trừ khi hành vi của quân nhân đó là "nhằm mục đích tránh hoặc chấm dứt nghĩa vụ quân sự" hoặc khi nó "không vì lợi ích tốt nhất của các lực lượng vũ trang".

Như nó tồn tại, đạo luật DADT định rằng "không hỏi"một phần của chính sách này cho thấy cấp trên không nên tiến hành điều tra các định hướng của quân nhân khi không có hành vi không được phép, mặc dù bằng chứng đáng tin cậy và rõ ràng về hành vi đồng tính có thể gây ra một cuộc điều tra. Vi phạm các khía cạnh này thông qua các điều tra trái phép và sách nhiễu đối với quân nhân bị nghi vấn mang đết kết quả trong quy định hiện hành của chính sách này là "không hỏi, không nói, không theo đuổi, không sách nhiễu."[1].

Những nỗ lực nhằm bãi bỏ chính sách này, có hiệu lực từ năm 1993, tăng lên sau cuộc bầu cử Tổng thống Barack Obama trong năm 2008, những người chủ trương bãi bỏ hoàn toàn (tức là phép các thành viên đồng tính và lưỡng tính được phục vụ một cách công khai) trong chiến dịch tranh cử của ông[2]. Năm 2010, Hạ viện đã thông qua một sửa đổi Đạo luật ủy quyền quốc phòng cho năm tài chính 2011 sẽ bãi bỏ các bộ phận liên quan của luật. Khi biện pháp này đã bị đình trệ tại Thượng viện, một đạo luật độc lập cho bãi bỏ được giới thiệu cho Thượng viện. Thượng viện đã thông qua một dự luật độc lập với ngôn ngữ giống hệt nhau vào ngày 15/12/2010. Sau một cuộc bỏ phiếu thành công tại Thượng viện ngày 18 tháng 12 năm 2010, dự luật được thông qua [3] và vào ngày 22 tháng 12, Tổng thống Obama đã ký thành luật[4]. Chính sách này vẫn tồn tại cho đến khi Tổng thống, Bộ trưởng Quốc phòng, và Tổng tham mưu trưởng xác nhận việc bãi bỏ sẽ không gây hại cho tính sẵn sàng của quân đội, tiếp theo là một thời gian chờ đợi 60 ngày[5].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “United States Coast Guard Ninth District Legal Office ''The Legal Brief'' "Don’t Ask, Don’t Tell, Don’t Pursue, Don’t Harass: Reference (a): Personnel Manual, COMDTINST M1000.6, Ch. 12.E.", May 2010” (PDF). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  2. ^ “Obama: Repeal of 'don't ask, don't tell' possible”. MSNBC. Associated Press. 10 tháng 4 năm 2008. 
  3. ^ Hulse, Carl (18 tháng 12 năm 2010). “Senate Repeals 'Don't Ask, Don't Tell'”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 
  4. ^ http://www.cnn.com/2010/POLITICS/12/22/dadt.repeal/index.html
  5. ^ Sheryl Gay Stolberg (22 tháng 12 năm 2010). “With Obama's Signature, 'Don't Ask' Is Repealed”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]