Tôn giáo và đồng tính luyến ái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Những người Ki-tô giáo phản đối lễ hội đồng tính 2006 ở San Francisco.

Mối quan hệ giữa tôn giáođồng tính luyến ái khác nhau ở các nơi, hay giữa các tôn giáo, giáo phái khác nhau và thay đổi theo thời gian. Các tổ chức có thẩm quyền và học thuyết hiện nay của những tôn giáo lớn nhất thế giới thường có cái nhìn tiêu cực về đồng tính. Những quan niệm này thay đổi từ kín đáo không khuyến khích đồng tính hoặc thẳng thừng cấm đoán quan hệ đồng tính giữa những người theo đạo, tích cực phản đối sự chấp nhận của xã hội đối với đồng tính cho đến hành hình. Hầu hết những người phản đối đồng tính cho rằng đồng tính là tội lỗi chứ không phải là một thiên hướng tình dục. Nhiều tổ chức Do Thái giáo,[1] Ma Môn giáoKi-tô giáo tuyên bố giúp giảm sự hấp dẫn đồng giới và "tránh hành vi đồng tính",[1] hoặc giúp "con người tìm tự do ngoài đồng tính".[2] Những tiếng nói tự do trong các tôn giáo này có xu hướng nhìn đồng tính một cách tích cực hơn và vài tôn giáo tự do có thể tổ chức đám cưới đồng tính. Trong lịch sử, vài nền văn hóa và tôn giáo giúp đỡ, hoặc tôn sùng, tình yêu và tình dục đồng giới,[3][4] những truyện thần thoại và truyền thống như vậy có ở khắp nơi trên thế giới.[5] Năm 2009, Hội đồng Ấn Độ giáo Vương Quốc Anh tuyên bố "Ấn Độ giáo không lên án đồng tính".[6]

Dù ở phía nào, nhiều người thường dựa vào sách kinh và truyền thống để xem xét vấn đề này. Tuy nhiên, thẩm quyền của các truyền thống và đoạn kinh như vậy cũng như sự giải thích và dịch đang được tranh cãi sôi nổi.

Tôn giáo khởi nguồn từ Abraham[sửa | sửa mã nguồn]

Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham như Do Thái giáo, Ki-tô giáoHồi giáo, theo thông lệ là cấm kê gian, cho rằng và dạy rằng hanh vi đó là tội lỗi. Ngày nay vài giáo phái của những tôn giáo này chấp nhận đồng tính và nhận người đồng tính như Do Thái giáo Cải cách (Reform Judaism), Giáo hội Ki-tô giáo Thống nhất (United Church of Christ) và Tổng Giáo hội Cộng đồng (Metropolitan Community Church). Giáo hội Trưởng lão và Anh giáo ngày nay chào đón các thành viên dù cho là đồng tính và vài tỉnh phong chức cho giám mục đồng tính và công nhận kết hợp đồng giới. Do Thái giáo Cải cách cho phép giáo sĩ đồng tính và nghi thức đám cưới đồng giới, Do Thái giáo Tái xây dựng (Reconstructionist Judaism) và Do Thái giáo Bảo thủ (Conservative Judaism) ở Hoa Kỳ cho phép giáo sĩ đồng tính và kết hợp đồng giới.

Tôn giáo khởi nguồn từ Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những tôn giáo khởi nguồn từ Ấn Độ, bao gồm Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kì-na giáoTích-khắc giáo, dạy về vấn đề đồng tính không rõ rang như các tôn giáo Abraham. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức thẩm quyền tôn giáo hiện nay trong các truyền thống pháp khác nhau nhìn đồng tính một cách tiêu cực và khi được bàn luận, nó không được khuyến khích hoặc cấm đoán. Sách kinh cổ xưa như kinh Vệ đà thường xem những người như vậy là giới tính như ba, không phải nam cũng không phải nữ. Có một số văn bản tôn giáo cấm đồng tính luyến ái.[7][8][9][10]

Tôn giáo khởi nguồn từ Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những tôn giáo ở Đông Á, Đạo giáo không khuyến khích đồng tính vì cho rằng nó làm cho người ta không hoàn thành nhiệm vụ, và các tài liệu của một số trường học cấm điều đó[11][12]. Khổng Tử hay các truyền thống Khổng giáo không đề cập vấn đề đồng tính.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă JONAH's Mission Statement, jonahweb.org, accessed 4 July 2009
  2. ^ EXODUS International exodus-international.org, accessed 4 July 2009
  3. ^ Boswell, John (2005), University Of Chicago Press  Đã bỏ qua văn bản “ Christianity, social tolerance, and homosexuality ” (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ Dynes, Wayne; Donaldson first2= Stephen (1992), Asian homosexuality, Routledge 
  5. ^ Carpenter, Edward (1914), Intermediate Types among Primitive Types: A Study in Social Evolution, New York: Mitchell Kennerley 
  6. ^ http://news.rediff.com/report/2009/jul/03/hinduism-does-not-condemn-homosexuality.htm
  7. ^ Abhidharmakośa
  8. ^ harvey, peter (2000). An Introduction to Buddhist Ethics. Cambridge University Press. tr. 421–. ISBN 9780511800801. 
  9. ^ Lotus Sutra: Leon Hurvitz, trans., Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma (New York: Columbia University Press, 1976), p. 209
  10. ^ Vanita & Kidwai 2001, tr. 25
  11. ^ The Ultra Supreme Elder Lord's Scripture of Precepts(太上老君戒經), in "The Orthodox Tao Store"(正統道藏)
  12. ^ The Great Dictionary of Taoism"(道教大辭典), by Chinese Taoism Association, published in China in 1994, ISBN 7-5080-0112-5/B.054