Công khai thiên hướng tình dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Việc Ellen DeGeneres công khai trên thông tin đại chúng lẫn trong chương trình hài kịch tình huống của cô đã làm thay đổi hình tượng của người đồng tính nữ trong văn hóa phương Tây.[1]

Công khai thiên hướng tình dục hay gọi ngắn là công khai (tiếng Anh: coming out, nghĩa đen: đi ra ngoài) chỉ việc một người đồng tính, song tính hoặc hoán tính tự nguyện tiết lộ thiên hướng tình dục và/hoặc bản dạng giới của mình. Công khai thiên hướng tình dục được mô tả và trải nghiệm như: một quá trình hay hành trình tâm lý;[2] quyết định hay việc mạo hiểm; kế hoạch hay chiến lược; sự kiện thông tin đại chúng; hành động cá nhân; nghi thức; sự giải phóng khỏi áp bức; phương tiện đi đến cảm thấy tự hào đồng tính thay vì hổ thẹn.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bối cảnh lịch sử người đồng tính, song tính hoặc hoán tính bị cách ly thành nhóm tình dục thiểu số, công khai thiên hướng tình dục còn là một thử thách đối với đa số những cộng đồng đồng tính, song tính hoặc hoán tính trên thế giới và có thể dẫn đến một sự chống đối của những người kỳ thị và bị bạo hành đồng tính. Do đó, nhiều người đồng tính, song tính hoặc hoán tính cảm thấy cần thiết phải che giấu những khía cạnh nào đó về tình dục của họ: thiên hướng tình dục, hành vi tình dục và bản dạng giới. Những cá nhân này có thể thực hiện hôn nhân màu tím hoặc tránh những công việc hoặc tình huống nào đó nhằm tránh sự nghi ngờ và sự lộ diện. Tác động của việc không công khai thiên hướng tình dục là đề tài của nhiều nghiên cứu. Ví dụ, người ta phát hiện ra rằng những cặp đôi đồng giới không công khai thì không cảm thấy hài lòng về mối quan hệ của họ bằng những cặp đôi đồng giới công khai.[3] Những phát hiện trong một nghiên cứu khác cho thấy rằng khi có ít người hơn biết về thiên hướng tình dục của một người đồng tính nữ thì cô này có nhiều lo lắng, ít cảm xúc tính cực và ít đánh giá cao mình hơn.[4] Gay.com khẳng định rằng những người không công khai thì tăng nguy cơ tự tử.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1906 trong tác phẩm Das Sexualleben unserer Zeit in seinen Beziehungen zur modernen Kultur (Cuộc sống tình dục đương thời trong quan hệ với nền văn minh hiện đại), Iwan Bloch, một bác sĩ người Đức-Do Thái, đã van xin những người đồng tính lớn tuổi hãy công khai với gia đình và người quen.[6]

Magnus Hirschfeld nhắc lại vấn đề trong tác phẩm Đồng tính luyến ái ở nam giới và phụ nữ (1914), bàn về những khả năng tiến triển trong luật pháp và xã hội nếu hàng ngàn người đồng tính nam và nữ công khai với cảnh sát để gây sức ép lên hệ thống lập pháp và dư luận.[7]

Năm 1951, Donald Webster tạo bước ngoặt khi xuất bản cuốn Đồng tính ái ở Mỹ. Ông đã viết rằng:[8][9] "Xã hội đã phát cho tôi một cái mặt nạ để đeo… Đi bất cứ đâu vào bất kỳ lúc nào, tôi đều giả vờ" Những mô tả thẳng thắn và công khai của ông đã thúc đẩy sự nhận thức về chính mình ở những người đồng tính và quan điểm đồng tính bẩm sinh.

Vào thập niên 1960, nhà thiên văn học Frank Kameny sau khi bị sa thải vì hành vi đồng tính đã đấu tranh chống lại việc này. Ông đã đưa vụ việc đến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông cho rằng "Chúng ta phải truyền bá cho cộng đồng đồng tính rằng việc là một người đồng tính là xứng đáng" và tư tưởng đó chỉ có thể được thực hiện được bằng các chiến dịch công khai được lãnh đạo bởi chính những người đồng tính.

Ngày quốc gia công khai thiên hướng tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Logo do nghệ sĩ Keith Harring thiết kế.

Những người đồng tính, song tính hoặc hoán tính cùng với những người dị tính luyến ái liên kết với họ xem ngày 11 tháng 10[10] hằng năm là Ngày quốc gia công khai thiên hướng tình dục (National Coming Out Day) nhằm mang lại hiểu biết về công khai và bàn luận các vấn đề đồng tính, song tính và hoán tính. Ngày này do Robert Eichberg, William Gamble, và Jean O'Leary sáng lập để kỷ niệm cuộc Diễu hành thứ hai ở Washington của người đồng tính một năm trước đó khi 500.000 người diễu hành ở Washington DC, Hoa Kỳ, vì sự bình đẳng cho người đồng tính.

Quá trình công khai[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân có thể thông báo bất ngờ trên thông tin đại chúng về thiên hướng tình dục của mình hoặc việc công khai này trải qua từng giai đoạn như ban đầu tiết lộ với những người xung quanh rồi dần dần mở rộng. Thường thấy người ta tiết lộ với một người bạn thân hoặc một thành viên trong gia đình, sau một thời gian mới tiết lộ cho những người khác.

Công khai với chính mình là tự xác nhận mình là người đồng tính hoặc song tính luyến ái hoặc transgender. Đây chính là bước đầu tiên trong quá trình công khai. Những người trải quá bước này trước khi công khai là lúc họ nghĩ rằng xu hướng tình dục hoặc tính cách hoặc cảm giác đó chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời, dễ thay đổi hoặc khi họ không chấp nhận vì các lý do tôn giáo hoặc đạo đức. Xác nhận với chính mình cũng là lúc bắt đầu quá trình chấp nhận bản thân.

Không phải tất cả người LGBT đều công khai theo cách giống nhau. Trong xã hội Tây phương, người ta ngày càng chấp nhận người đồng tính nên LGBT vị thành niên công khai ở tuổi trẻ hơn nhiều. Những người khác thì không cần phải tiết lộ bí mật vì họ chẳng bao giờ che giấu điều này. Khi họ bước vào tuổi dậy thì và có những ham muốn tình dục thì họ chấp nhận nó ngay lập tức giống như những trẻ dị tính luyến ái khác. Tuy các trường hợp này vẫn còn hiếm nhưng ngày càng trở nên phổ biến.

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chưa từng có nhiều người đồng tính, song tính và chuyển đổi giới tính công khai như hiện nay. Cộng đồng người đồng tính coi việc công khai là tốt về mặt xã hội. Họ cho rằng khi có càng nhiều người đồng tính công khai, thì người ta khó có thành kiến về họ, khó phân biệt đối xử và đàn áp họ. Một tạp chí dành cho người đồng tính có tên là Out. Một thuật ngữ khác với coming outcoming home có nghĩa là công khai với gia đình. Đây là quá trình giới thiệu người yêu của mình với gia đình trước và nói là bạn thân và ngầm chỉ mối quan hệ luyến ái nhưng không nói ra. Tuy nhiên, người ta lo sợ rằng với cách này, những gia đình ghê sợ đồng tính luyến ái sẽ cho rằng chính người bạn thân đó đã làm cho con/người thân mình trở nên đồng tính.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Streitmatter, Rodger (2009). From 'Perverts' to 'Fab Five': The Media's Changing Depiction of Gay Men and Lesbians, Routledge. ISBN 0789036704; p. 104.
  2. ^ “Coming Out: A Journey”. Utahpridecenter.org. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ Passing: impact on the quality of same-sex couple relationships. Berger (1990)
  4. ^ Coming out for lesbian women: its relation to anxiety, positive affectivity, self-esteem, and social support Jordan and Deluty (1998)
  5. ^ Gay.com News, Study: Closeted men at suicide risk Cath Pope, Gay.com Australia, 4 tháng 5 năm 2007.
  6. ^ Bloch, Ivan. Das Sexualleben unserer Zeit in seinen Beziehungen zur modernen Kultur, 1906. English translation: The Sexual Life of Our Time in Its Relations to Modern Civilization, 1910.
  7. ^ Johansson&Percy, p.24
  8. ^ Donald Webster Cory on glbtq.com
  9. ^ Sagarin bio
  10. ^ “History of National Coming Out Day”. Human Rights Campaign. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2008.