Hôn nhân đồng giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Công nhận
quan hệ đồng giới
Hôn nhân

Argentina
Bỉ
Brazil
Canada
Pháp
Iceland
Na Uy
Bồ Đào Nha
Nam Phi
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Uruguay

Vương quốc Anh:
Anh & xứ Wales
Vương quốc Đan Mạch:
Đan Mạch
Mexico:1
Thành phố Mexico, Quintana Roo
Vương quốc Hà Lan:
Hà Lan
Vương quốc New Zealand:
New Zealand
Hoa Kỳ:
CA, CT, DC, DE, IA,
MA, MD, ME, MN, NH,
NM (8 quận),2
NY, RI, VT, WA, 6 bộ tộc

Công nhận

Vương quốc Hà Lan:3
Aruba, Curaçao,
. Sint Maarten

† Chưa có hiệu lực
  1. Hợp pháp ở tất cả 31 bang
  2. Không có luật toàn quốc cho hôn nhân đồng giới; mỗi quận đưa ra biểu quyết hoặc phán quyết của tòa án.
  3. Nếu đăng ký kết hôn ở Hà Lan
Chủ đề LGBT

Hôn nhân đồng giớihôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học và/hoặc nhận thực giới tính. Sự hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới hoặc khả năng thực hiện hôn nhân đồng giới được những người ủng hộ xem là quyền bình đẳng hôn nhân hoặc hôn nhân bình đẳng.[1][2][3][4] Những người khác phản đối hôn nhân đồng giới, đa số hoặc một phần, vì trong nội tâm họ không chấp nhận đồng tính luyến ái[5] hoặc vì họ cho là kiểu gia đình này có những khiếm khuyết, và theo họ, "nếu chấp thuận và để nó nhân rộng thì sẽ gây hại cho xã hộitrẻ em."[6]

Những điều luật đầu tiên trong thời kỳ hiện đại cho phép hôn nhân đồng giới được thông qua vào thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Cho đến đầu năm 2014, trên thế giới có các nước gồm[7]: Luxembourg[8], Pháp, Đan Mạch[nb 1], Hà Lan, Bỉ, Iceland, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, New Zealand,[nb 2], Nam Phi, Argentina, Uruguay, Brazil, Canada, nhiều bang ở Hoa KỳMexico đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và luật hóa các quyền của người đồng tính. Một số quốc gia khác hiện đã thông qua luật công nhận quyền của người đồng tính nhưng chưa cho phép kết hôn đồng tính như: Đức (năm 2001), Phần Lan (năm 2002), Cộng hòa Czech (năm 2006), Thụy Sĩ (năm 2007), Colombia và Ireland (năm 2011)[7]. Một điều luật đã được Vương quốc Anh thông qua, có hiệu lực ở Anh và xứ Wales, sẽ có hiệu lực vào năm 2014[9]. Luxembourg (đất nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới) là quốc gia mới nhất công nhận hôn nhân đồng tính. Vào ngày 19/06/2014, Luxembourg đã chính thức thông qua đạo luật thừa nhận hôn nhân đồng giới và đạo luật này sẽ bắt đầu có hiệu lực vào năm 2015, đặc biệt bản thân Thủ tướng và Phó Thủ tướng Luxembourg đều công khai là những người đồng tính[8]. Thăm dò ở nhiều quốc gia khác nhau cho thấy sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở các chủng tộc, dân tộc, độ tuổi, tôn giáo, tổ chức chính trị và điều kiện kinh tế đã tăng lên.[10] Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở những nền luật pháp khác nhau trải qua các quá trình khác nhau, một tòa án quyết định dựa trên những đảm bảo hiến pháp về mặt bình đẳng, hoặc tổ chức bỏ phiếu trực tiếp hoặc trưng cầu dân ý.

Công nhận hôn nhân đồng giới là một vấn đề chính trị, xã hội, nhân quyềnquyền công dân, cũng như vấn đề tôn giáo ở nhiều quốc gia và trên thế giới. Những tranh cãi tiếp tục diễn ra rằng hai người đồng giới có nên được kết hôn, được công nhận một mối quan hệ khác (kết hợp dân sự) hoặc từ chối công nhận những quyền đó.[11][12]Những lợi ích hoặc tác hại của việc công nhận hôn nhân đồng tính là chủ đề tranh luận của nhiều tổ chức khoa học. Nhiều nhà phân tích khẳng định rằng tình trạng tài chính, tâm lý và thể chất sẽ được cải thiện và con cái của các cặp đồng giới được hưởng lợi từ việc được nuôi dưỡng một cách hợp pháp được hỗ trợ bởi các tổ chức xã hội.[13][14][15] Mặt khác, nhiều tổ chức như Hội đồng nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ dẫn chứng nhiều nghiên cứu về những rủi ro mà hôn nhân đồng tính tác động lên trẻ nhỏ và xã hội (trẻ em thiếu cha hoặc mẹ dẫn tới tăng khả năng lệch lạc hành vi, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân...).[16]

Hôn nhân đồng giới có thể được thực hiện một cách truyền thống hoặc theo nghi thức tôn giáo. Nhiều cộng đồng tín ngưỡng trên khắp thế giới ủng hộ cho phép hai người cùng giới kết hôn hoặc thực hiện hôn lễ cùng giới, ví dụ như: Phật giáo ở Úc, Nhà thờ ở Thụy Điển, Do Thái giáo bảo thủ…

Lịch sử

Cổ đại

Viện thực hiện hôn nhân đồng giới sớm nhất trong lịch sử từng được đề cập tới là vào thời kỳ đầu Đế quốc La Mã, theo nhà sử học John Boswell gây tranh cãi. Việc kết hôn được thực hiện một cách châm biếm. Hoàng đế trẻ Elagabalus coi người kéo xe của mình, một nô lệ tóc vàng đến từ Caria tên là Hierocles, là chồng. Hoàng đế cũng kết hôn với một vận động viên tên là Zoticus trong một buổi lễ công khai rộng rãi với sự vui mừng của những người dân.[17][18]

Hoàng đế La Mã đầu tiên kết hôn với một người đàn ông là Nero. Hoàng đế Nero cũng được cho rằng là đã kết hôn với hai người đàn ông khác trong những dịp khác nhau. Hôn nhân đầu tiên của ông là với một người nô lệ đã được tự do tên là Pythagoras. Nero đóng vai trò là cô dâu. Sau đó, với vai trò là chú rễ Nero kết hôn với Sporus, một nam thiếu niên để thay thế một nàng hầu mà Nero đã giết. Đám cưới diễn ra trong một buổi lễ công khai với tất cả sự trịnh trọng của hôn nhân. Sau đó Sporus bị buộc phải giả làm nàng hầu mà Nero đã giết và đóng vai vợ chồng với hoàng đế. Cuộc hôn nhân được chào mừng ở cả Hy Lạp lẫn La Mã trong những buổi lễ rất công khai.[19]

Nghiên cứu

   Hôn nhân cho các cặp đồng giới (vòng tròn = những trường hợp riêng lẻ)

   Công nhận hôn nhân đồng giới ở nền luật pháp khác

   Toàn án cấp cao đã quyết định cho phép, nhưng chưa được thực hiện

   Chính phủ có ý định và có khả năng hợp pháp hóa

   Cho phép kết hợp dân sự và có hầu hết quyền như hôn nhân

   Cho phép đăng ký chung sống và có một số quyền như hôn nhân

   Chung sống không đăng ký

   Hôn nhân đồng giới không hợp pháp

(Màu nằm cao hơn trong danh sách vô hiệu hóa màu thấp hơn. Những vòng tròn thể hiện những trường hợp rải rác; ở châu Phi, đây là hôn nhân đồng giới truyền thống (một dạng nghi lễ) chứ không phải đồng tính luyến ái.)

Tổ chức ủng hộ

Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA) khẳng định vào năm 2004:[13]

APA tin rằng từ chối những cặp đồng giới sự tiếp cận hợp pháp tới hôn nhân dân sự và tất cả những quyền, lợi và đặc quyền kèm theo là bất công và mang tính phân biệt.

Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ khẳng định vào năm 2004:[14]

chúng tôi tin rằng sự sửa đổi chính thức hiến pháp dựa trên định kiến hơn là nghiên cứu thực tiễn… Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ mạnh mẽ chống lại sự sửa đổi hiến pháp trong đó định nghĩa hôn nhân là giữa một nam và một nữ.

Hiệp hội Tâm lý Canada (CPA) khẳng định vào năm 2004:[20]

Tài liệu (bao gồm tài liệu về những yếu tố cơ sở của hôn nhân đồng giới) chỉ ra rằng tình trạng tài chính, tâm lý và thể chất của được cải thiện và con cái của họ được hưởng lợi ích từ việc được nuôi dạy bởi một cặp được công nhận hợp pháp... CPA công nhận và đánh giá cao rằng nhiều người và tổ chức được cấp quyền đối với quan niệm và vị trí của họ trong vấn đề này. Tuy nhiên, CPA cũng quan ngại rằng nhiều người hiểu sai những kết quả của nghiên cứu tâm lý để ủng hộ vị trí của họ khi vị trí của họ thì chính xác là có được là dựa trên vào những hệ thống niềm tin và giá trị khác. CPA quả quyết rằng được hưởng lợi khi mối quan hệ của hai người nuôi dạy chúng được công nhận và ủng hộ bởi những tổ chức xã hội.

Hiệp hội Nhân loại học Hoa Kỳ tuyên bố vào năm 2005:[21]

Những kết quả trong hơn một thế kỷ của những nghiên cứu nhân loại học về quan hệ họ hàng và gia đình trong những nền văn hóa khác nhau và thời điểm khac nhau, không đưa ra sự ủng hộ nào cho quan điểm sự văn minh hóa và những trật tự xã hội vững vàng phụ thuộc vào việc hôn nhân là chỉ dành cho quan hệ khác giới. Hơn nữa, nghiên cứu nhân loại học ủng hộ kết luận rằng nhiều kiểu gia định bao gồm gia đình xây dựng dựa trên quan hệ đồng giới, có thể đóng góp xây dựng xã hội vững mạnh và nhân bản.

Biểu tình quy mô lớn chống hôn nhân đồng tính tại Pháp năm 2013. Người biểu tình vẽ giọt nước mắt lên khuôn mặt để biểu thị sự đau lòng bởi họ cho rằng hôn nhân đồng tính là sự suy đồi của luân lý gia đình

Viện Nhi khoa Hoa Kỳ kết luận vào năm 2006, trong một bản phân tích công bố trên tạp chí Nhi khoa:[22][23]

Có nhiều bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với các yếu tố tình cảm, tâm lý và cách cư xử của một đứa trẻ... chứng tỏ không có rủi ro đối với trẻ em lớn lên trong một gia đình với cha/mẹ là đồng tính. Những người lớn tận tâm và biết cách nuôi dạy, cho dù họ là nam hay nữ, đồng tính hay dị tính, đều có thể là những bậc cha mẹ tốt. Quyền lợi và sự bảo vệ của hôn nhân dân sự có thể làm cho những gia đình như vậy thêm vững mạnh.

Đại học Tâm thần Hoàng gia Vương quốc Anh tuyên bố:[24]

… người đồng tính là và nên được xem là những thành viên giá trị của xã hội mà họ có những quyền và nghĩa vụ hoàn toàn tương tự như tất cả những công dân khác. Nó bao gồm … những quyền và nghĩa vụ liên quan tới kết hợp dân sự…

Tổ chức phản đối

Nhiều tổ chức khác thì có quan điểm phản đối hôn nhân đồng tính do e ngại các hệ lụy xã hội mà nó gây ra. Ví dụ như Hiệp hội nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ:[25]

Hiệp hội nghiên cứu gia đình tin rằng hành vi tình dục đồng giới là có hại cho những người tham gia vào nó và cho xã hội nói chung, và không bao giờ nên công nhận, bởi nó có liên quan đến tác động tiêu cực tới sức khỏe thể chất và tâm lý... Trong khi nguyên nhân của hấp dẫn đồng tính là rất phức tạp, hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng đồng tính chỉ là do di truyền hay bẩm sinh, mà nó còn xuất phát từ ảnh hưởng của văn hóa và cách nuôi dạy... chấp nhận "hôn nhân" giữa 2 người cùng giới tính sẽ tạo nên một định nghĩa cực đoan và giả tạo...

Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, một tổ chức chuyên nghiên cứu các chính sách gia đình, tuyên bố[26]:

Quyết định năm 1973 của APA (rằng đồng tính không phải là bệnh) đã không dựa trên bằng chứng khoa học, mà là do ảnh hưởng chính trị... Về vấn đề này, phong trào đồng tính chỉ là biểu hiện mới nhất và cơ bản nhất của cuộc cách mạng tình dục trong 40 năm qua. Đó là hoạt động mang tính cá nhân và phong trào, nhằm tách hôn nhân ra khỏi mục đích tối cao của nó là sinh sản và nuôi dưỡng trẻ em. Nếu tất cả các loại hình quan hệ tình dục chỉ đơn thuần là sự đồng thuận, xã hội sẽ không còn luân lý... Các chương trình đồng tính làm nảy sinh hàng loạt các hệ lụy. Ví dụ, các nhà hoạt động cho rằng, bởi vì đồng tính luyến ái là bình thường, trẻ em cần được dạy điều đó này trong các trường học, và kể từ đó, trẻ em sẽ không còn e dè hoặc sẽ bị lôi cuốn vào việc thực hiện các hành vi đồng tính...

Hội liên hiệp phụ nữ Hoa Kỳ tuyên bố rằng:[27]

Hôn nhân có tầm quan trọng tối thượng, nó được bảo vệ trong cả pháp luật và văn hóa. Nó diễn ra trước khi pháp luậtHiến pháp ra đời, nó chủ yếu là phạm trù nhân loại học và xã hội học, không phải là một quy phạm pháp luật. Không có nền văn minh nào có thể tồn tại mà không có nó, và những xã hội coi thường nó đều đã bị lịch sử xóa sổ... Hôn nhân không chỉ sự kết hợp của hai người bất kỳ. Nó là sự kết hợp của hai gia tộc, là nền tảng cho việc thiết lập quan hệ họ hàng và cung cấp môi trường tối ưu cho việc nuôi con... Trẻ em cần có cả cha và mẹ, trẻ em học hỏi những điều quan trọng qua các mối quan hệ gia đình: sự tiếp xúc giữa những đàn ông và phụ nữ, vợ và chồng, cha và mẹ, và cha mẹ cung cấp cho con cái các bài học giới tính... Gán ghép quan hệ đồng tính trở thành hôn nhân sẽ phá hủy vai trò của nó. Hôn nhân đồng tính được thúc đẩy bởi mong muốn ích kỷ của người lớn mà không đếm xỉa tới nhu cầu của trẻ em... Hôn nhân đồng tính được quảng cáo là lòng khoan dung, bình đẳng và các quyền dân sự. Nhưng tất cả các lý luận này sẽ lật đổ luân lý tính dục truyền thống và khuyến khích các hành vi có hại cho những người tham gia và cho xã hội, và nó vẫn được xem như sai về mặt đạo đức với đa số công chúng Mỹ.

Tổ chức quốc gia về hôn nhân (Hoa Kỳ) đã trợ giúp các căn cứ khoa học để giúp chính phủ Nga thông qua Đạo luật chống tuyên truyền đồng tính năm 2013, theo đó cấm mọi cá nhân và các phương tiện truyền thông tuyên truyền về hôn nhân đồng tính cho trẻ vị thành niên. Chủ tịch tổ chức coi Nga là một ví dụ tiên phong cho thế giới, ông phát biểu trước Quốc hội Nga:[28]

Ngay bây giờ các bạn đang có cuộc chiến về nhận con nuôi, nhưng vấn đề nhận con nuôi không thể tách rời từ các vấn đề hôn nhân. Nếu các bạn không bảo vệ các giá trị văn hóa của đất nước mình, tôi e rằng chúng ta sẽ nhìn thấy sự phát triển rất tiêu cực trên toàn thế giới. Trong một số trường học Hoa Kỳ, trẻ em đang nói chuyện với nhau về tình dục đồng tính, nhưng trong thực tế, các em không nên tìm hiểu về điều đó cho đến một độ tuổi nhất định. Chúng ta cần đoàn kết với nhau, chúng ta cần bảo vệ con em chúng ta. Mọi trẻ em đều có quyền có cha mẹ bình thường: Một người cha và một người mẹ đúng nghĩa

Những ý kiến khác

Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng giữa con người, rằng pháp luật không nên ngăn cản việc kết hôn của con người nếu họ thực sự muốn vậy. Ngược lại, nhiều người phản đối hôn nhân đồng tính bởi lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội.

Tiến sĩ David Blankenhorn cho biết: ông phản đối việc dùng bạo lực chống lại người đồng tính, nhưng ông mạnh mẽ chống lại hôn nhân đồng tính. Trong cuốn sách "Tương lai của hôn nhân", ông viết:

Xuyên suốt lịch sử và mọi nền văn hóa... ý tưởng cơ bản nhất của hôn nhân là mọi trẻ em đều cần một người mẹ và một người cha. Thay đổi luật để chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ phá vỡ nguyên tắc này trong nền văn hóa và pháp luật... Luật pháp là một giáo viên tuyệt vời, và nếu những người ủng hộ hôn nhân đồng tính thành công, trẻ em sẽ bị trục xuất khỏi bài học về hôn nhân. Chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến cho các thế hệ tương lai nghĩ rằng hôn nhân không phải là vì trẻ em mà chỉ vì sự gắn kết quan hệ. Khi hôn nhân không còn gì nhiều hơn sự gắn kết quan hệ, ít người sẽ kết hôn để có con... Người dân vẫn sẽ sinh con, tất nhiên, nhưng rất nhiều trong số trẻ em là con ngoài giá thú. Đó là một thảm họa cho tất cả mọi người. Trẻ em bị tổn thương vì thiếu sự nuôi nấng của cha hoặc mẹ. Xã hội bị tổn thương vì sẽ bắt đầu một chuỗi các tác động tiêu cực dẫn đến nghèo đói, tội phạm, các chi phí phúc lợi cao hơn dẫn đến bộ máy nhà nước phình to hơn, thuế cao hơn, và một nền kinh tế trì trệ hơn.[29]

Tiến sĩ Richard Kay dẫn số liệu tại Bắc Âu cho biết:

Chúng ta có thể thấy hệ quả của hôn nhân đồng tính ở các nước Bắc Âu. Ở Na Uy, đã hợp pháp hôn nhân đồng tính kể từ đầu thập niên 1990. Thống kê năm 2000 tại Nordland, quận tự do nhất của Na Uy cho thấy: tỷ lệ con ngoài giá thú (không rõ tên cha) đã tăng vọt tới 80% trong số những phụ nữ sinh con lần đầu tiên, tổng cộng khoảng 70% trẻ em là con ngoài giá thú! Trên toàn Na Uy, số trẻ em ngoài giá thú đã tăng khoảng 50% trong thập kỷ đầu tiên của hôn nhân đồng tính.[30]

Nhà nhân chủng học Stanley Kurtz viết:

Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân ở Bắc Âu. Nếu như ở Na Uy, hôn nhân đồng tính đã được áp đặt bởi một văn hóa xã hội tự do, nó sẽ có khả năng tăng tốc độ của chúng ta trên con đường hướng tới tình hình tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa.
Khi chúng ta nhìn vào Nordland và Nord-Troendelag, Vermont tại Na Uy - chúng ta có thể đang nhìn vào tương lai của hôn nhân trong một thế giới mà hôn nhân đồng tính được chấp nhận gần như hoàn toàn. Những gì chúng ta thấy là một nơi mà hôn nhân đã gần như hoàn toàn biến mất. Hôn nhân đồng tính ở Bắc Âu đã thúc đẩy ý nghĩ rằng hôn nhân là một hình thức lỗi thời, và rằng mọi hình thức gia đình, bao gồm cả cha mẹ ngoài giá thú, là có thể chấp nhận được. Không chỉ Na Uy, Blankenhorn báo cáo xu hướng này tương tự ở các nước khác. Các cuộc điều tra quốc tế cho thấy rằng chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống có xu hướng song hành với nhau. Truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp.
Người ta có thể tin tưởng vào hôn nhân đồng tính. Người ta có thể tin rằng mọi trẻ em đều xứng đáng có một người mẹ và một người cha. Nhưng người ta không thể tin vào cả hai. Vâng, nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.[31]

Nhà nghiên cứu Dana Mack cho rằng: "Hôn nhân không nên được mở rộng cho các cặp đồng tính bởi quan hệ đồng tính không thể giúp sinh sản. Hôn nhân là cách thức của nhân loại mà mục đích cốt lõi là để đoàn kết các thành phần sinh học, xã hội và pháp lý của cha mẹ vào cam kết lâu dài. Hôn nhân nói với một đứa trẻ rằng: một người đàn ông và một người phụ nữ sẽ ở đó để yêu thương và dạy dỗ bạn. Trong ý nghĩa này, hôn nhân là một món quà mà xã hội ban cho đứa trẻ. Cho phép hôn nhân đồng tính sẽ làm chuyển đổi mục đích của hôn nhân: từ nghĩa vụ sinh đẻ và nuôi dưỡng trẻ em trở thành ham muốn ích kỷ của người lớn."[32]

Thomas Peters, giám đốc văn hóa tại Cơ Quan Hôn Nhân Quốc Gia Hoa Kỳ, cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm hôn nhân suy yếu. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Tây Ban Nha năm 2005, tỷ lệ hôn nhân giảm sút thê thảm. Điều này cũng xảy ra cho Hà Lan. Tái định nghĩa hôn nhân sẽ làm lu mờ ý nghĩa và mục đích cơ bản của nó, do đó, khuyến khích mọi người coi thường nó. Thứ hai, điều ấy cũng ảnh hưởng tới việc giáo dục và bổn phận làm cha mẹ. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Canada, Hội Đồng Học Đường Toronto đã cho thi hành một học trình để cổ vũ đồng tính luyến ái và xuất bản các bích chương tuyên truyền rằng đồng tính và dị tính đều như nhau. Bất chấp các chống đối của phụ huynh, Hội Đồng vẫn qui định rằng họ không có quyền di chuyển con em họ ra khỏi các lớp dạy những chuyện vừa kể. Sự kiện đó và các sự kiện tương tự cho thấy điều này: khi hôn nhân bị tái định nghĩa, định nghĩa mới sẽ được áp đặt lên trẻ em, bất chấp ý muốn của phụ huynh các em:

"Một khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó, thì chẳng còn bao nhiêu lý lẽ để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Đó không phải chỉ là chuyện doạ nạt mơ hồ hay một thứ giả thuyết khiến người ta sợ sệt. Các hậu quả phụ này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Thí dụ, tại BrazilHà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được coi là hôn nhân đầy đủ. Sau khi hôn nhân bị tái định nghĩa ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động một chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản là lý do chính đòi hôn nhân dân sự phải được giới hạn giữa hai người. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa.[33]

Tiến sĩ tâm lý học Trayce Hansen thì cho rằng: "Tất cả các nghiên cứu từ bốn quốc gia khác nhau, với mẫu thống kê lớn, cho thấy rằng hành vi tình dục đồng giới không phải là cố định về mặt di truyền. Thay vào đó, các dữ liệu cho thấy rằng hành vi tình dục của con người là dễ biến đổi, và môi trường xã hội có thể tác động vào nó... Chuẩn mực văn hóa và xã hội, cũng như các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến hành vi của con người bao gồm cả hành vi tình dục. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên, khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác trở nên ngày càng ủng hộ người đồng tính - cả về xã hội, chính trị, và luật pháp; thì họ lại gặp phải xu hướng ngày càng tăng về số lượng của các cá nhân tham gia vào hành vi đồng tính. Xu hướng này sẽ tiếp tục nếu chúng ta khoan dung quá mức đối với đồng tính và chính thức tôn vinh nó bằng cách hợp thức hóa hôn nhân đồng tính."

Trayce Hansen khẳng định: hôn nhân đồng giới thực sự không tốt cho trẻ em. Nhà tâm lý học đã viện dẫn các luận chứng, luận cứ chứng minh rằng môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển của trẻ em là một gia đình có cha và mẹ theo đúng nghĩa. Ông nói: "Hai người phụ nữ có thể là người mẹ tốt nhưng không ai có thể là một người cha hoàn hảo". Cha và mẹ, mỗi người một giới tính sẽ giúp cho trẻ em có cái nhìn toàn diện hơn về giới tính của bản thân, từ đó có suy nghĩ và hành động lành mạnh và cân bằng trong các mối quan hệ sau này, đó là điều được nhân loại đúc rút qua 5.000 năm. Hôn nhân đồng tính sẽ làm cho trẻ em bối rối về biểu hiện giới tính và vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về giới tính ở trẻ vị thành niên. Mặc dù đồng cảm với những người đồng tính nhưng không nên vì sự đồng cảm đó mà biến trẻ em thành "chuột bạch" để rồi gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội. Nếu so sánh giữa được và mất, giữa nhu cầu của người đồng tính và trẻ em thì chúng ta không thể để trẻ em là người chịu thiệt thòi. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về lâu dài[34].

Tính bền vững so với hôn nhân thông thường

Khảo sát năm 2004 ở Na UyThụy Điển đối với các cặp đồng tính đã đăng ký kết hợp dân sự cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường[35] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[36]

Nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% các nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% các cặp nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ[37].

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[38]. Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất "khác biệt" so với xã hội. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đôi đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ. Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường[39].

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết trong hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Và họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[40]

Cặp đồng giới nuôi dạy con

Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây, ngay cả ở những nước công nhận hôn nhân đồng tính, bởi việc công nhận hôn nhân đồng tính đồng nghĩa với việc công nhận việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Những lo ngại chủ yếu là về tác động của nó đối với tâm lý trẻ em (nhất là những trẻ lớn lên trong gia đình đồng tính) khi thiếu vắng một người cha/mẹ theo đúng nghĩa, đồng thời với đó là sự sụp đổ các quan niệm về giá trị của hôn nhân trong cách nghĩ của các thế hệ sau.[16][41]

Trong một nghiên cứu, giáo sư Susan Golombok, Đại học Cambridge, đưa ra những kết quả có sự tương đồng lớn với những nghiến cứu trước đó về gia đình của cặp đồng tính nữ. Những nghiên cứu thấy rằng mối quan hệ giữa mẹ và con là tích cực và con cái được điều chỉnh tốt. Không có sự khác nhau đáng kể giữa người mẹ đồng tính và người mẹ dị tính trong hầu hết các khía cạnh nuôi dạy mặc dù có báo cáo rằng người mẹ đồng tính đánh con ít hơn và tham gia nhiều hơn vào những hoạt động vui chơi mang mang tính tưởng tượng và trong gia đình với con cái nhiều hơn người mẹ dị tính.[42]

Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường. Nghiên cứu cho thấy có sự tác động lớn từ gia đình và môi trường xã hội đối với sự phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi đồng tính của chúng, tức là có nhiều khả năng trở thành đồng tính hơn so với con cái của gia đình thông thường (để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục)[43][44][45].

Năm 2012, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu KarolinskaStockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: môi trường nuôi dạy của gia đình và xã hội là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ là thứ yếu. Cụ thể, kiểu gen chiếm 35% còn ảnh hưởng từ môi trường gia đình và xã hội lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố tương đồng) chiếm 64% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[46].

Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.[47]

Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[48]

Tiến sĩ xã hội học Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."[49]

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[50]

Biên niên sự kiện trên thế giới

Thời điểm các quốc gia hay các bang công nhận hôn nhân đồng giới.

2001 Hà Lan (1 Tháng 4)
2002 (không có)
2003 Bỉ (1 Tháng 6), Ontario (10 Tháng 6), British Columbia (8 Tháng 7)
2004 Quebec (19 Tháng 3), Massachusetts (17 Tháng 5), Yukon (14 Tháng 7), Manitoba (16 Tháng 9), Nova Scotia (24 Tháng 9), Saskatchewan (5 Tháng 11), Newfoundland (21 Tháng 12)
2005 New Brunswick (23 Tháng 6), Tây Ban Nha (3 Tháng 7), Canada (20 Tháng 7)
2006 Nam Phi (30 Tháng 11)
2007 (không có)
2008 California (16 Tháng 6, gián đoạn, 5 Tháng 11; reinstated 28 Tháng 6 2013), Connecticut (12 Tháng 11)
2009 Na Uy (1 Tháng 1), Iowa (27 Tháng 4), Sweden (1 Tháng 5), Coquille Indian Tribe (Oregon) (Tháng 5), Vermont (1 Tháng 9)
2010 New Hampshire (1 Tháng 1), District of Columbia (3 Tháng 3), Mexican Federal District (4 Tháng 3), Bồ Đào Nha (5 Tháng 6), Iceland (27 Tháng 6), Argentina (22 Tháng 7)
2011 New York (24 Tháng 7), Suquamish tribe (Washington) (1 Tháng 8)
2012 Alagoas (6 Tháng 1), Quintana Roo (Tháng 5), Đan Mạch (15 Tháng 6), Sergipe (15 Tháng 7), Espírito Santo (15 Tháng 8), Caribbean Netherlands (10 Tháng 10), Bahia (26 Tháng 11), Brazilian Federal District (1 Tháng 12), Washington (6 Tháng 12), Piauí (15 Tháng 12), Maine (29 Tháng 12)
2013 Maryland (1 Tháng 1), São Paulo (16 Tháng 2), Ceará & Little Traverse Bay Bands of Odawa Indians (Michigan) (15 Tháng 3), Paraná (26 Tháng 3), Mato Grosso do Sul (2 Tháng 4), Rondônia (26 Tháng 4), Santa Catarina & Paraíba (29 Tháng 4), Pokagon Band of Potawatomi Indians (Michigan) (8 Tháng 5), Brazil [national] (16 Tháng 5), Pháp (18 Tháng 5), Santa Ysabel Tribe (California) (24 Tháng 6), California (28 Tháng 6), US military bases (??), Delaware (1 Tháng 7), Minnesota & Rhode Island (1 Tháng 8), Uruguay (5 Tháng 8), New Zealand (19 Tháng 8), New Mexico (eight counties, 21 Tháng 8 – 4 Tháng 9),[51][52] Confederated Tribes of the Colville Reservation (Washington) (5 Tháng 9), New Jersey (21 Tháng 10), Australian Capital Territory [53] (8 Tháng 12)
2014 Anh và xứ Wales (giữa 2014)
Đang thảo luận Hawaii, Luxembourg
  • Những tên được tô đậm là quốc gia, những tên không được tô đậm là các tiểu bang/tỉnh của một quốc gia nào đó.

Những vấn đề liên quan

Thăm dò ý kiến

Biểu tình chống hôn nhân đồng tính tại San Francisco năm 2008

Nhiều thăm dò và nghiên cứu được thực hiện, bao gồm những công trình được hoàn tất trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Nhiều khảo sát thực hiện ở những nước phát triển trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cho thấy việc ủng hộ hôn nhân đồng giới có xu hướng tăng ở mọi lứa tuổi, quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và tôn giáo.[54][55][56][57][58]

Châu Mỹ

Hoa Kỳ

Thăm dò ý kiến về vấn đề Hôn nhân đồng giới tại Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Cơ quan thăm dò Ngày tháng Đồng ý Chống lại
Gallup 17.03.1996[59] 27 % 68 %
Gallup 09.02.1999[59] 35 % 62%
Gallup 04.05.2004[59] 42 % 55 %
Gallup 25.08.2005[59] 37 % 59 %
Gallup 11.05.2006[59] 39 % 58 %
Gallup 13.05.2007[59] 46 % 53 %
Gallup 11.05.2008[59] 40 % 56 %
Gallup 10.05.2009[59] 40 % 57 %
Gallup 06.05.2010[59] 44 % 53 %
Gallup 08.05.2011[59] 53 % 44 %
Gallup 18.12.2011[59] 48 % 48 %
Gallup 06.05.2012[59] 50 % 48 %
Gallup 29.11.2012[59] 53 % 46 %
Washington Post/ABC 10.03.2013[60] 58 % 36 %
Gallup 07.05.2013[59] 53 % 45 %
Gallup 14.07.2013[59] 54 % 43 %

Một thăm dò gần đây ở Hoa Kỳ cho thấy có sự gia tăng trong cộng đồng người Mỹ việc ủng hộ hôn nhân đồng giới. Khi những người lớn tuổi được hỏi vào năm 2005 là họ có nghĩ "hôn nhân giữa cho người đồng tính có nên hoặc không nên được luật pháp công nhận và có quyền lợi như hôn nhân truyền thống khác", 28% đồng ý trong khi 68% không đồng ý (4% còn lại không chắc chắn). Khi được hỏi vào tháng 3, 2013, 50% ủng hộ trong khi 41% chống đối và 9% không chắc chắn.[61] Nhiều thăm dò và nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy ủng người có trình độ học vấn cao hơn có sự ủng hộ tăng, người trẻ hơn thường ủng hộ hơn người già hơn.[62][63][64][65][66]

Tuy nhiên, khi phỏng vấn về tác động của hôn nhân đồng tính với xã hội (tích cực hay tiêu cực), công chúng Mỹ lại thiên về xu hướng tiêu cực:

  • Một điều tra của tờ USA Today và viện Gallup năm 2009 cho biết: 48% cho rằng hôn nhân đồng tính sẽ làm xã hội tồi tệ hơn, 38% cho rằng không ảnh hưởng, và chỉ 12% cho rằng xã hội sẽ tốt hơn. 57% số người phản đối hôn nhân đồng tính trong khi số ủng hộ là 40%[67].
  • Một điều tra của Đại học Quinnipiac trong tháng 4/2013 cho biết: 55% cử tri họ sẽ chống lại luật công nhận hôn nhân đồng tính, 38% ủng hộ, và 7% là không chắc chắn.[68]
  • Đại học Quinnipiac cũng đã hỏi liệu cử tri nghĩ rằng xã hội sẽ phải hy sinh bao nhiêu để quan tâm đến nhu cầu của người đồng tính nam và đồng tính nữ. Kết quả: 49% cho rằng quá nhiều, 21% cho rằng quá ít, và 22% không rõ[69]

Châu Á

Năm 2013, Trung tâm nghiên cứu Pew đã khảo sát một số nước tại châu Á, họ đề nghị người được phỏng vấn chọn 1 trong 2 đáp án: #1 – Đồng tính nên được xã hội chấp nhận, #2 – Đồng tính không nên được chấp nhận trong xã hội". Hầu hết các nước đều có đa số người dân chọn đáp án 2, kết quả như sau [70]:

Quốc gia Ủng hộ Phản đối
Trung Đông
Israel 47% 40%
Liban 18% 80%
Thổ Nhĩ Kỳ 9% 78%
Palestine 4% 93%
Ai Cập 3% 95%
Jordan 3% 97%
Tunisia 2% 94%
Đông và Nam Á
Philippines 73% 26%
Nhật bản 54% 36%
Hàn Quốc 39% 59%
Trung Quốc 21% 57%
Malaysia 9% 86%
Indonesia 3% 93%
Pakistan 2% 87%

Việt Nam

Theo kết quả điều tra quốc gia về "Quan điểm xã hội với hôn nhân cùng giới" được Viện Xã hội học (Viện Hàn lâm Khoa học - Xã hội Việt Nam) và Viện Nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) công bố ngày 26/3/2014, khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, TP.HCM, An Giang, Sóc Trăng với sự tham gia của 5.300 người dân, có khoảng 1/3 (33,7%) ửng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, số còn lại không đồng ý[71][72]

Nuôi dạy con

Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng hôn nhân sẽ cải thiện tình hình tài chính, tâm lý và thể chất của người cha/mẹ đồng tính và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc được nuôi dạy bởi song thân có kết hôn được pháp luật công nhận (đối với cả song thân là cùng giới hoặc khác giới). Do đó, nhiều hiệp hội khoa học chuyên môn đã tranh luận để yêu cầu hôn nhân đồng giới được công nhận hợp pháp bởi vì nó có lợi cho con cái của người đồng tính.[15][20][73][74][75][76]

Nhìn chung có những nghiên cứu khoa học chỉ ra kết quả rằng người đồng tính làm cha/mẹ thì cũng phù hợp và có khả năng như người cha/mẹ dị tính và con cái của họ cũng khỏe mạnh về tâm lý và thể chất như con cái của người cha/mẹ dị tính.[20][76][77][78] Theo một số tài liệu nghiên cứu, không có bằng chứng cho thấy những lập luận ngược lại là đúng.[22][23][79][80] Mặt khác, cũng có nhiều nghiên cứu (như đã được Hội đồng nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ dẫn chứng) trình bày về những rủi ro mà hôn nhân đồng tính tác động lên trẻ nhỏ và xã hội (trẻ em thiếu cha hoặc mẹ dẫn tới tăng khả năng lệch lạc hành vi, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân...)[16][81][82].

Một vấn đề rất được quan tâm là con cái được nuôi bởi những cặp đồng giới có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường. Trong khoa học hiện chưa có sự nhất trí về các tác động của môi trường lên thiên hướng tình dục, để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục.[43][44][83]

Nhận con nuôi

Tình hình về hợp pháp hóa việc nhận con nuôi của cặp đôi đồng giới trên thế giới.

   Cùng nhận con nuôi

   Second-parent adoption: xem giải thích trong bài.

   Cá nhân LGBT được cho phép nhận con nuôi

Quyền nhận con nuôi ở Campuchia và Phillippines chưa được xác nhận. Hai nước này có thể chỉ cho phép người nước ngoài nhận con nuôi. Trong nhiều quốc gia hoặc tiểu bang, nhiều chánh án có thể cho phép người LGBT nhận con nuôi trong từng trường hợp riêng lẻ vì ở đó nó không bị cấm như thế.

Hầu hết các quốc gia hoặc tiểu bang cho phép hôn nhân đồng giới thì cũng cho phép cặp đôi đồng giới nhận con nuôi (ngoại trừ ngoại lệ đã có từ lâu là Bồ Đào Nha). Hơn nữa, nhiều quốc gia hoặc tiểu bang không cho phép hôn nhân đồng giới nhưng lại cho phép cặp đôi đồng giới (không kết hôn) nhân con nuôi như: Vương quốc Anh, tiểu bang Tây Úc, New South Wales và Tasmania ở Úc, tiểu bang Coahuilla và Chihuahua ở Mexico, một số tiểu bang của Hoa Kỳ (Colorado, Indiana, Nevada, Oregon) và ít nhất trong một vài trường hợp ở Israel. Nhiều quốc gia hoặc tiểu bang khác cho phép second-parent: người cặp đôi (không kết hôn) với người đồng tính nhận con của người đồng tính mà mình cặp đôi làm con nuôi (xem như cha mẹ kế).

Mang thai hộ và thụ tinh trong ống nghiệm

Bài chi tiết: Hỗ trợ sinh sản

Một người đồng tính hoặc song tính nam có thể có người mang thai hộ, một quá trình trong đó một người phụ nữ mang thai hộ cho một người khác thông qua thụ tinh nhân tạo hoặc mang thai trứng đã thụ tinh. Một người đồng tính hoặc song tính nữ có thể có thụ tinh nhân tạo.[84][85]

Người hoán tính và lưỡng tính

Theo pháp luật, giới tính có thể được xác định dựa trên một trong những đặc điểm: hệ thống xác định giới tính XY, kiểu tuyến sinh dục, kiểu cơ quan sinh dục ngoài hoặc nhận thực xã hội của đối tượng. Như vậy, theo luật pháp cả người hoán tính và lưỡng tính có thể được phân loại vào nhóm giữa và có thể bị cấm kết hôn với người "khác" giới hoặc cho phép kết hôn với người "cùng" giới. Vấn đề xác định giới tính dựa vào tuyến sinh dục hoặc đặc điểm sinh dục nào đó thì phức tạp bởi vì có những phương pháp giải phẫu có thể làm thay đổi những đặc điểm này.

Ly dị

Bài chi tiết: Ly dị đồng giới

Bỉ, năm 2009, có 158 nam và 213 nữ đồng tính đăng ký ly dị trong khi 1133 nam và 999 nữ đồng tính đăng ký kết hôn.[86]

Đan Mạch, năm 1997, tỉ lệ ly dị ở người đăng ký cặp đôi đồng giới (17%) thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ ly dị ở cặp đôi khác giới (43%). Phần đông hôn nhân đồng giới ở Đan Mạch là cặp nam-nam và chỉ 14% trong số này ly dị so với 23% ở cặp đôi nữ-nữ. Tỉ lệ ly dị cao ở người đồng tính nữ phù hợp với dữ liệu cho thấy phụ nữ là bên chủ động ly dị trong hầu hết vụ ly dị của cặp đôi khác giới ở Đan Mạch.[87]

Hà Lan, nữ đồng tính đăng ký kết hôn nhiều hơn nam đồng tính một ít: từ 2006 tới 2011, có trung bình 690 nữ và 610 nam đoòng tính đăng ký mỗi năm. Số ly dị đồng giới ở nữ cao hơn ở nam nhiều: trung bình có 100 nữ và 45 nam ly dị đồng giới mỗi năm.[88]

Na UyThụy Điển, một nghiên cứu về đăng ký cặp đôi đồng giới ngắn hạn cho thấy tỉ lệ ly dị đồng giới cao hơn ly dị khác giới là 50-167% và những cặp đôi đồng giới nữ được coi là ít bền vững, hoặc dễ thay đổi, hơn những cặp đôi đồng giới nam.[89]

Vương quốc Anh, tỉ lệ ly dị đồng giới trong 30 tháng đầu tiên của luật đăng ký cặp đôi dân sự thấp hơn 1% một ít.[90]

Hoa Kỳ, năm 2011, đối với những tiểu bang có số liệu, tỉ lệ chia tay ở cặp đôi đồng giới là bằng một nửa tỉ lệ chia tay ở cặp đôi khác giới. Tỉ lệ chia tay ở những cặp đôi đồng giới có đăng ký theo pháp luật là 1,1% trong khi 2% cặp đôi khác giới có kết hôn ly dị mỗi năm.[91]

Sức khỏe

Một đám cưới đồng giới vào tháng 6 năm 2006.

Năm 2010, Trường Mailman Đại học Columbia về Sức khỏe Cộng đồng nghiên cứu về tác động của sự kỳ thị có tổ chức lên tinh thần của người đồng tính, song tính cho thấy rằng có sự tăng lên về rối loạn tâm thần bao gồm những rối loạn lo lắng tăng gấp hai lần, ở những người đồng tính, song tính sống ở những bang mà hôn nhân đồng tính bị cấm. Theo tác giả, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc loại bỏ những dạng kỳ thị có tổ chức. Sự kỳ thị có tổ chức có đặc trưng bởi điều kiện xã hội giới hạn cơ hội và sự tiếp cận tài nguyên của những nhóm bất lợi về mặt xã hội.[92][93]

Nhà hoạt động vì quyền đồng tính, Jonathan Rauch, cho rằng hôn nhân tốt cho tất cả mọi người, cho dù là đồng tính hay dị tính, bởi vì tham gia vào những vai trò xã hội của hôn nhân sẽ làm giảm sự hung hăng và lang chạ.[94][95] Số liệu của những nghiên cứu tâm lý và khoa học xã hội khác về hôn nhân đồng giới so sánh với hôn nhân khác giới cho thấy quan hệ đồng giới và khác giới không khác nhau trên những khía cạnh tâm lý cơ bản; thiên hướng tình dục của một người làm cha/mẹ không liên quan tới khả năng xây dựng một môi trường gia đình khỏe mạnh và nuôi dạy tốt; hôn nhân đem đến những lợi ích tâm lý, xã hội và sức khỏe cơ bản. Những cặp đồng giới và con của họ được hưởng lợi từ việc hợp pháp hóa gia đình của họ, sự công nhận hôn nhân mang đến nhiều lợi ích hơn kết hợp dân sự hoặc kết hợp cặp đôi.[22][96]

Năm 2009, hai nhà kinh tế học ở Đại học Emory cho rằng việc thông qua luật tiểu bang cấm hôn nhân đồng giới ở Hoa Kỳ đi đôi với việc làm tăng tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm này.[97][98] Nghiên cứu cho thấy sự liên kết giữa luật cấm hôn nhân đồng giới ở một bang và việc tăng tỉ lệ nhiễm HIV hằng năm ở bang đó thêm 4 ca trong 100.000 dân.[99]

Mặt khác, nhiều nghiên cứu khác lại ghi nhận: các cặp đồng tính có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn tâm lý cao hơn nhiều so với thông thường, tỷ lệ chia tay cao của họ cũng lớn hơn. Ví dụ, nghiên cứu tại California (Mỹ) vào năm 2009 cho thấy các cặp đôi đồng tính có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn tâm thần, nghiện ma túy, nghiện rượu và lạm dụng thuốc an thần cao hơn khoảng 2-2,5 lần so với mức trung bình[100].

Ghi chú

  1. ^ Excluding the Faroe Islands and Greenland.
  2. ^ Including Ross Dependency, but excluding Tokelau, Niue and the Cook Islands.

Tham khảo

  1. ^ “Vote on Illinois marriage equality bill coming in January: sponsors”. Chicago Phoenix. 13 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  2. ^ “Commission endorses marriage and adoption equality”. Human Right Commission New Zealand. No date. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ Mulholland, Helene (27 tháng 9 năm 2012). “Ed Miliband calls for gay marriage equality”. The Guardian (London). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ Ring, Trudy (20 tháng 12 năm 2012). “Newt Gingrich: Marriage Equality Inevitable, OK”. The Advocate (Los Angeles). “He [Newt Gingrich] noted to HuffPo that he not only has a lesbian half-sister, LGBT rights activist Candace Gingrich, but has gay friends who've gotten married in Iowa, where their unions are legal. Public opinion has shifted in favor of marriage equality, he said, and the Republican Party could end up on the wrong side of history if it continues to go against the tide.” 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên NYT
  6. ^ Ten Arguments From Social Science Against Same-Sex Marriage
  7. ^ a ă Những nước hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính
  8. ^ a ă Quốc gia thứ 17 thừa nhận hôn nhân đồng giới
  9. ^ “Same-sex marriage becomes law in England and Wales”. BBC News. 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  10. ^ Xem:
  11. ^ Taylor, Pamela K. (31 tháng 7 năm 2009). “Marriage: Both Civil and Religious”. The Washington Post. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  12. ^ Smith, Susan K. (30 tháng 7 năm 2009). “Marriage a Civil Right, not Sacred Rite”. The Washington Post. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  13. ^ a ă American Psychological Association (2004). “Resolution on Sexual Orientation and Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ a ă American Sociological Association. “American Sociological Association Member Resolution on Proposed U.S. Constitutional Amendment Regarding Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  15. ^ a ă “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, the American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as amici curiae in support of plaintiff-appellees – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  16. ^ a ă â Ten Arguments From Social Science Against Same-Sex Marriage
  17. ^ Dio Cassius Epitome 80.5, 80.14, 80.15, 80.16; Herodian Roman History 5.6.1–5.6.2. Old Translation of passage at: http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Cassius_Dio/80*.html http://www.tertullian.org/fathers/herodian_05_book5.htm
  18. ^ Scarre, Chris (1995). Chronicles of the Roman Emperors. London: Thames and Hudson Ltd. tr. 151. ISBN 0-500-05077-5. 
  19. ^ Dio Cassius Epitome 62.28, 62.13. Old Translation of passage at: http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Cassius_Dio/62*.html
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cpa2006
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên aaa
  22. ^ a ă â doi:10.1542/peds.2006-1279
    Hoàn thành chú thích này
  23. ^ a ă Herek GM (September năm 2006). “Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective”. The American Psychologist 61 (6): 607–21. doi:10.1037/0003-066X.61.6.607. PMID 16953748. 
  24. ^ Royal College of Psychiatrists. “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  25. ^ http://splashurl.com/me8s6h5
  26. ^ http://www.afa.net/faq.aspx?id=2147483680
  27. ^ http://www.cultureandfamily.org/articledisplay.asp?id=4649&department=CFI&categoryid=papers
  28. ^ http://www.advocate.com/parenting/2013/10/04/national-organization-marriage-caught-helping-russia-pass-antigay-laws
  29. ^ Future of Marriage. David Blankenhorn. Encounter Books Publishing 2009. ISBN 978-1-594032-41-7. P 178
  30. ^ Reasoning with the Unreasonable: 23 Controversial Essays on Current Tragedies of Ignoring Foundational Principals. Richard Kay. Author House, 2008. ISBN 978-1-4343-7159-1. P 201-202
  31. ^ Stanley Kurtz, "The End of Marriage in Scandinavia: The ‘conservative case’ for same-sex marriage collapses," The Weekly Standard 9, No. 20 (February 2, 2004): 26-33.
  32. ^ Dana Mack, "Now What for Marriage?," www.wsj.com, Aug. 6, 2010
  33. ^ http://www.ncregister.com/site/article/sowing-dissent-on-marriage/
  34. ^ Love Isn’t Enough: 5 Reasons Why Same-Sex Marriage Will Harm Children
  35. ^ Gunnar Andersson, "Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden". 2004.
  36. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
  37. ^ "Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings Sondra E. Solomon". Esther D. Sex Roles, Vol. 52, Nos. 9/10, 2005. DOI: 10.1007/s11199-005-3725-7. P 569
  38. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (August 22, 2003): 18
  39. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34 (1997): 354
  40. ^ HOMOSEXUAL PARENTING: PLACING CHILDREN AT RISK (Part II of III)
  41. ^ “Hollande calls for calm as gay marriage opponents vow to fight on in France”. Euronews. 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  42. ^ Golombok, Susan. “Children with lesbian parents: A community study”. Developmental Psychology 39 (1): 20–33. doi:10.1037/0012-1649.39.1.20.  (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  43. ^ a ă Kirkpatrick M, Smith C, Roy R (July năm 1981). “Lesbian mothers and their children: a comparative survey”. Am J Orthopsychiatry 51 (3): 545–51. PMID 7258320. 
  44. ^ a ă Golombok S, Spencer A, Rutter M (October năm 1983). “Children in lesbian and single-parent households: psychosexual and psychiatric appraisal”. J Child Psychol Psychiatry 24 (4): 551–72. doi:10.1111/j.1469-7610.1983.tb00132.x. PMID 6630329. 
  45. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205.  (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  46. ^ http://www.sciencedaily.com/releases/2008/06/080628205430.htm
  47. ^ Eminent Psychiatrist Says Homosexuality is a Disorder that Can be Cured (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  48. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111 (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  49. ^ Love Isn’t Enough: 5 Reasons Why Same-Sex Marriage Will Harm Children. P. 3 (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  50. ^ Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171. (cần thêm nguồn hàn lâm độc lập khác)
  51. ^ http://www.daily-times.com/farmington-news/ci_24374576/nm-supreme-court-hears-arguments-same-sex-marriage
  52. ^ http://www.huffingtonpost.com/2013/09/04/new-mexico-gay-marriage-ruling_n_3868856.html
  53. ^ http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/australiaandthepacific/australia/10395962/Australian-capital-gives-go-ahead-to-gay-marriage.html
  54. ^ Newport, Frank. “For First Time, Majority of Americans Favor Legal Gay Marriage”. Gallup. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  55. ^ “Public Opinion: Nationally”. australianmarriageequality.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  56. ^ “Gay Life in Estonia”. globalgayz.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  57. ^ Jowit, Juliette (12 tháng 6 năm 2012). “Gay marriage gets ministerial approval”. The Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  58. ^ “Most Irish people support gay marriage, poll says”. PinkNews. 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  59. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m http://www.gallup.com/poll/117328/marriage.aspx
  60. ^ http://www.washingtonpost.com/blogs/the-fix/wp/2013/03/18/gay-marriage-support-hits-new-high-in-post-abc-poll/
  61. ^ “Law and Civil Rights”. PollingReport.com. POLLING REPORT, INC. 2013. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  62. ^ “Survey – Generations at Odds: The Millennial Generation and the Future of Gay and Lesbian Rights”. Public Religion Research Institute. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  63. ^ “Pew Forum: Part 2: Gay Marriage”. Pew Research Center. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  64. ^ Poirier, Justine. “Same-Sex Marriage: Let's Make a Change”. Montréalités Justice. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  65. ^ “Data Points: Support for Legal Same-Sex Marriage”. The Chronicle of Higher Education. 16 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  66. ^ “Support for Same‐Sex Marriage in Latin America”. Vanderbilt University. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  67. ^ 1.Gallup Poll of 1,015 randomly selected American adults, reported by Jeffery Jones, "Majority of Americans Continue to Oppose Gay Marriage," at http://www.gallup.com/poll/118378/majority-americans-contine-oppose-gay-marriage.aspx, May 27, 2009.
  68. ^ 2.Gallup Poll of 1,015 randomly selected American adults, "Same-sex Marriage, Gay Rights," at http://www.pollingreport.com/civil.htm, June 12, 2009.
  69. ^ 3.Quinnipiac University Poll of 2,041 registered voters nationwide, "Same-sex Marriage, Gay Rights," at http://www.pollingreport.com/civil.htm, June 12, 2009.
  70. ^ [1]
  71. ^ Gần 50% người được hỏi ủng hộ quyền chung sống của người đồng tính
  72. ^ Gần 42% người được hỏi ủng hộ quyền sống chung của người đồng tính
  73. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên pediatrics
  74. ^ Lamb, Ph.D., Michael. “Expert Affidavit for U.S. District Court (D. Mass. 2009)”. Gay & Lesbian Advocates & Defenders. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012. 
  75. ^ “Pediatricians group backs gay marriage”. lansingstateournal.com. 22 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  76. ^ a ă “Pediatricians: Gay Marriage Good for Kids' Health”. news.discovery.com. 22 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  77. ^ “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  78. ^ “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and The American Association of Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in Support of Plaintiff-Appellees”. United States Court of Appeals for the Ninth Circuit. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  79. ^ Biblarz, Timothy J.; Stacey, Judith (February năm 2010). “How Does the Gender of Parents Matter?”. Journal of Marriage and Family 72 (1): 3–22. doi:10.1111/j.1741-3737.2009.00678.x. 
  80. ^ “Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38”. Canadian Psychological Association. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  81. ^ David Popenoe, Life Without Father. Boston: Harvard University Press, 1999
  82. ^ David McWhirter and Andrew Mattison, The Male Couple (Prentice Hall, 1984) 252.
  83. ^ Green R, Mandel JB, Hotvedt ME, Gray J, Smith L (April năm 1986). “Lesbian mothers and their children: a comparison with solo parent heterosexual mothers and their children”. Arch Sex Behav 15 (2): 167–84. doi:10.1007/BF01542224. PMID 3718205. 
  84. ^ The Fertility Sourcebook, Third Edition – Page 245, M. Sara Rosenthal – 2002
  85. ^ An Introduction to Family Social Work – Page 348, Donald Collins, Catheleen Jordan, Heather Coleman – 2009
  86. ^ “Homohuwelijken in dalende lijn en steeds meer scheidingen”. Gazet van Antwerpen (bằng tiếng Hà Lan). 5 tháng 6 năm 2011. 
  87. ^ Marian Jones (1 tháng 5 năm 1997). “Lessons from a Gay Marriage: Despite stereotypes of gay relationships as short-lived, gay unions highlight the keys to success”. Psychology Today. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  88. ^ “Lesbiennes scheiden veel meer dan homo's (Lesbians divorce much more than gays)”. Nu.nl]] (bằng tiếng Hà Lan). 24 January 2012). 
  89. ^ Andersson, Gunnar (February năm 2006). The Demographics of Same-Sex "Marriages" in Norway and Sweden (PDF) 43 (1). Demography. tr. 79–98.  Text version.
  90. ^ Tony Grew (7 tháng 8 năm 2008). “Less than 1% of civil partnerships end in ‘divorce’”. Pink News. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  91. ^ Badgett, M.V. Lee; Herman, Jody L. (November năm 2011). Patterns of Relationship Recognition by Same-Sex Couples in the United States (PDF). The Williams Institute, UCLA School of Law. 
  92. ^ Hasin, Deborah. “Lesbian, gay, bisexual individuals risk psychiatric disorders from discriminatory policies”. Columbia University Mailman School of Public Health. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  93. ^ Dr. Brian Mustanski (22 tháng 3 năm 2010). “New study suggests bans on gay marriage hurt mental health of LGB people”. Psychology Today. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. 
  94. ^ Rauch, Jonathan. “For Better or Worse? The Case for Gay (and Straight) Marriage”. The New Republic via jonathanrauch.com. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  95. ^ Rauch, Jonathan (2004). Gay Marriage: Why It Is Good for Gays, Good for Straights, and Good for America. New York, NY: Henry Holt and Company, LLC.
  96. ^ Herek, Gregory M. "Legal recognition of same-sex relationships in the United States: A social science perspective." American Psychologist, Vol 61(6), September 2006, 607–621.
  97. ^ Contact: Elaine Justice: 404.727.0643. “Study Links Gay Marriage Bans to Rise in HIV infections”. Emory University. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  98. ^ Peng, Handie. “The Effect of Same-Sex Marriage Laws on Public Health and Welfare”. academia.edu. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  99. ^ Francis, AM; Mialon, HM (tháng 3 năm 2010). “Tolerance and HIV”. Journal of Health Economics 29 (2): 250–267. doi:10.1016/j.jhealeco.2009.11.016. PMID 20036431. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  100. ^ http://www.biomedcentral.com/1471-244X/9/52

Liên kết ngoài