Hôn nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà. Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ.

Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn.

Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ. Hôn nhân theo chế độ đa thê là một kiểu hôn nhân trong đó một người đàn ông có nhiều vợ. Ở một số nước, hôn nhân đồng giới được công nhận. Ở một số nước khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới đang diễn ra. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính.[1]

Các kiểu hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

   Chấp nhận hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng

   Tình trạng hợp pháp không rõ

   Nhiều vợ nhiều chồng nhìn chung là không hợp pháp, nhưng thực tế thì không hình sự hóa hoàn toàn

   Nhiều vợ nhiều chồng hoàn toàn ngoài vòng pháp luật/bị bãi bỏ và truy cứu trách nhiệm hình sự

Chú thích: 1Ấn Độ, Singapore, và Sri Lanka: không hợp pháp ở tất cả các dạng trừ người theo Đạo Hồi.
2Liêng bang Eritrea: luât cấm hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng nhưng một số nước và vùng lãnh thổ nhất định với Sharia cho phép nó. Người theo Đạo Hồi chỉ có thể có hợp hờng hôn nhân đa thê.
3Mauritius: nhiều vợ nhiều chồng không được công nhận hợp pháp. Đàn ông Đạo Hồi có thể "cưới" đến 4 vợ, những người phụ nữ này không được hưởng tư cách pháp lý của người vợ.

Các xã hội thể hiện sự chấp nhận khác nhau về đa thê như một quan niệm về văn hóa và thực tế. Theo Ethnographic Atlas, trong số 1.231 xã hội được ghi nhận, 186 là kiểu một vợ một chồng; 453 thường xuyên đa thê; 588 có đa thê thường xuyên hơn; và 4 có đa phu.[2] Tuy nhiên, theo Miriam Zeitzen, sự chịu đựng của một xã hội về đa thê thì khác với việc thực hiện đa thê, vì nó đòi hỏi sự giàu có để có được một gia đình có nhiều vợ. Thực tế về đa thê trong một xã hội thoải mái về vấn đề này có thể là thấp, với phần lớn những người mong muốn đa thê thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Việc theo dõi sự xuất hiện đa thê thì phức tạo hơn ở các nước nơi mà chế độ này bị cấm, nhưng vẫn tiếp tục diễn ra.[3]

Một vợ một chồng[sửa | sửa mã nguồn]

Một vợ một chồng là một hình thức hôn nhân mà trong đó mỗi cá nhân chỉ có một người hôn phối trong suốt cuộc đời của họ hoặc bất kỳ thời điểm nào đang xét đến.

Một nghiên cứu so sánh về hôn nhân của nhà nhân chủng học Jack Goody trên thế giới sử dụng Ethnographic Atlas đã phát hiện một mối tương quan chặt chẽ giữa của hồi môn, nông nghiệp cày cấy thâm canh và chế độ một vợ một chồng. Hình thức này được tìm thấy trong một khu vực rộng lớn của các xã hội Á-Âu từ Nhật Bản đến Ireland. Phần lớn các xã hội châu Phi cận Sahara thực hiện nông nghiệp cuốc nhiều, thì ngược lại, thể hiện mối tương quan giữa "Bride price," và một vợ một chồng.[4] Một nghiên cứu sâu thêm đã vẽ thêm vào Át-lát nhân chủng học thể hiện tương quan thống kê giữa sự gia tăng kích thước của xã hội, sự tin tưởng vào "các đấng thánh tối cao" để hỗ trợ cho đạo đức con người, và một vợ một chồng.[5]

Nhiều vợ nhiều chồng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều vợ nhiều chồng là một hình thức hôn nhân mà một cuộc hôn nhân có hơn 2 hôn phối.[6] Khi người đàn ông cùng một lúc có hơn một vợ, thì mối quan hệ này được gọi là đa thê, và khi không có ràng buộc hôn nhân giữa các người vợ; và khi một người phụ nữ cùng một lúc có hơn một chồng, thì được gọi là đa phu, và không có ràng buộc hôn nhân giữa các người chồng. Nếu cuộc hôn nhân bao gồm nhiều vợ và chồng thì được gọi là hôn nhân nhóm (group marriage).[6]

Hôn nhân đồng tính và giới tính thứ 3[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hôn nhân đồng giới

Một thực tế tương đối mới đối để chấp nhận các căp cùng giới tính về mặt luật pháp như những cặp hôn nhân khác giới, trong lịch sử cũng ghi nhận một vài trường hợp kết hợp cùng giới trên thế giới.[7][8] Mối quan hệ đồng giới Hy Lạp cổ đại gốnh như hôn nhân hiện đại, không giống như cuộc hôn nhân khác nhau giới tính của họ trong đó hai vợ chồng đã có vài mối quan hệ tình cảm, và người chồng có quyền tự do tham gia vào quan hệ tình dục bên ngoài. Cộng hòa Rome dành công nhận hôn nhân đồng tính về mặt pháp lý.[9] Sự chấp nhận này đã kết thúc dưới đế chế La Mã, Khi Theodosian Code ( C. Th 9.7.3) phê chuẩn năm 342 áp đặt hình phạt nặng hoặc tử hình đối với các mối quan hệ đồng tính[10] nhưng mục đích chính xác của pháp luật và mối quan hệ với thực tiễn xã hội không rõ ràng, ví dụ trên chỉ là một trong vài ví dụ về hôn nhân đồng tính trong văn hóa đã tồn tại.[11] Sự kết hợp cùng giới đã được tổ chức ở một vài nơi của Trung Quốc như Phúc Kiến.[12]

Hôn nhân tạm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt giữa một nam và một nữ dựa trên nguyên tắt bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng nhằm xây dựng gia đình hòa thuận,hạnh phúc và bền vững. Hôn nhân được khởi đầu bằng một sự kiện pháp lý là kết hôn và kết thúc bằng một sự kiện pháp lý là li hôn (hoạc một trong hai người chết).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 10 - Những trường hợp cấm kết hôn”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ Ethnographic Atlas Codebook derived from George P. Murdock’s Ethnographic Atlas recording the marital composition of 1231 societies from 1960 to 1980
  3. ^ Zeitzen, Miriam Koktvedgaard (2008). Polygamy: A Cross-Cultural Analysis. Oxford: Berg. tr. 5. ISBN 1847886175. 
  4. ^ Goody, Jack (1976). Production and Reproduction: A Comparative Study of the Domestic Domain. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 7. 
  5. ^ Roes, Frans L. (1992). “The Size of Societies, Monogamy, and Belief in High Gods Supporting Human Morality”. Tijdschrift voor sociale wetenschappen 37 (1): 53–58. 
  6. ^ a ă Zeitzen, Miriam Koktvedgaard (2008). Polygamy: a cross-cultural analysis. Berg. tr. 3. ISBN 1-84520-220-1. 
  7. ^ Neill, James (2009). The Origins and Role of Same-sex Relations in Human Societies. McFarland. ISBN 978-0-7864-3513-5. 
  8. ^ Alderson, Kevin; Lahey, Kathleen A. (2004). Same-Sex Marriage: The Personal and the Political. Insomniac Press. tr. 16. ISBN 978-1-894663-63-2. 
  9. ^ Eskridge, William N. (1993). “A History of Same-Sex Marriage”. Virginia Law Review 79 (7): 1445–46. doi:10.2307/1073379. 
  10. ^ ubi scelus est id, quod non proficit scire, ubi venus mutatur in alteram formam, ubi amor quaeritur nec videtur, iubemus insurgere leges, armari iura gladio ultore, ut exquisitis poenis subdantur infames, qui sunt vel qui futuri sunt rei.Ancientrome.ru "where that crime is found, which is unfit even to know, we command the law to arise armed with an avenging sword that the infamous men who are, or shall in future be guilty of it, may undergo the most severe punishments." translation by Lord Blackstone, Commentaries on the Laws of England (Oxford: Clarendon Press, 1769, Vol. IV, pp. 215–216.
  11. ^ Kuefler, Mathew (2007). “The Marriage Revolution in Late Antiquity: The Theodosian Code and Later Roman Marriage Law”. Journal of Family History 32 (4): 343–370. doi:10.1177/0363199007304424. 
  12. ^ Hinsch, Bret (1990). Passions of the Cut Sleeve: The Male Homosexual Tradition in China. Reed Business Information, Inc. ISBN 0-520-07869-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]