Tình dục trước hôn nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tình dục trước hôn nhân là quan hệ tình dục của những cặp tình nhân trước khi kết hôn. Tại nhiều nước phát triển ở phương Tây thì vấn đề tình dục trước hôn nhân ngày nay là một chuyện bình thường, không còn là phạm pháp hay là một điều cấm kỵ. Đa số các cặp vợ chồng đều có quan hệ tình dục trước hôn nhân với nhau hoặc với những bồ bịch khác. Từ năm 1948 theo bài tường trình Kinsey (dò hỏi 12 ngàn người đàn ông sống tại Mỹ) thì khoảng 86% người đàn ông đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Âu châu vào thời tiền trung cổ nếu có quan hệ tình dục trước hôn nhân hay ngoài hôn nhân (bị cho là gian dâm) thì có thể bị tử hình hoặc bị phạt tiền.[1] Ngay cả việc có con trước khi làm đám cưới gần đây theo đạo đức của Kitô giáo là trái luân lý. Nếu trước khi làm hôn thú mà đã có bầu thì đám cưới đó thường xảy ra một cách thầm lặng.

Đa số dân chúng thời đó là tá điền. Họ phải được địa chủ cho phép và phải trả một số tiền thì mới được làm hôn thú. Không được điền chủ cho phép thì họ không được làm đám cưới. Để một cuộc hôn nhân không thể xảy ra ngoài ý muốn của địa chủ, những người độc thân bị cấm có quan hệ tình dục với nhau.[2] Ở vùng Württemberg (Đức) chỉ có tá điền cùng địa chủ mới được cưới hỏi với nhau.[3] Hôn thú với tá điền của địa chủ khác thì bị cấm. Họ sợ phụ nữ theo chồng, và như vậy địa chủ sẽ mất người, cả những đứa trẻ sinh ra trong tương lai. Tuy nhiên hôn thú không phải vì vậy mà không có giá trị, nhưng mà họ phải trả tiền phạt, tương đương hoặc hơn số tiền mà người địa chủ cho là bị mất đi.[4]

Bắt đầu vào thời khai sáng tại Âu châu người có quan điểm khác về vấn đề nhân quyền. Những tuyên ngôn nổi tiếng nhất vào thời đó là hai văn kiện dưới đây:

  • Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ (1776). Trong điều 4: "Tự do là quyền của mỗi người. Quyền tự do của con người chỉ có những giới hạn, để mà bảo đảm quyền tự do của các người khác trong xã hội. Những giới hạn này chỉ có luật lệ ấn định."
  • Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của quốc hội Pháp trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

Tuy nhiên tâm lý học mới bắt đầu phát triển vào thế kỷ thứ 19, trước đó con người biết rất ít về những ham muốn tình dục. Nhiều vấn đề về sinh lý của con người bị cho là những điều cấm kỵ.

Trước khi condom được phổ biến thì tình dục trước hoặc ngoài hôn nhân gần như là đồng nghĩa với bệnh hoa liễu, đặc biệt là Giang mai. Giang mai đã rất phổ biến tại nhiều quốc gia; Chỉ có những cặp mà trước đó không có làm tình với ai khác thì mới không sợ bị mắc bệnh. Trước bối cảnh đó việc lang chạ tình dục là điều nên tránh. Ác cảm về tình dục rất phổ biến. Chả hạn như bác sĩ Thụy sĩ Samuel Tissot (1728–1797) đề nghị cắt bao quy đầu hoặc cắt bộ phận sinh dục nữ như là biện pháp ngăn ngừa vấn đề thủ dâm.

Việc phát sinh và phát triển condom làm thay đổi quan điểm về tình dục trước hôn nhân. Năm 1912 nhà sản xuất cao su Julius Fromm lần đầu tiên tìm ra phương pháp tạo ra condom không phải may. kể từ năm 1930 Latex được dùng làm nguyên liệu để sản xuất. Condom ngừa thai và ngăn ngừa sự lan tràn bệnh hoa liễu. Tuy nhiên việc buôn bán condoms đến giữa thế kỷ 20 tại nhiều nơi vẫn bị cấm hoặc chỉ cho phép được dùng trong y khoa. Ở Irland luật lệ như vậy vẫn tồn tại đến đầu thập niên 1990.

Những năm gần đây, trước xu hướng lý hôn tăng cao, các giá trị gia đình suy thoái, nhiều phong trào tại châu Âu kêu gọi thanh niên nên giữ gìn không quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Giáo Sư Lý Gia Đồng, Viện Trưởng Đại học Thanh Hoa (Đài Loan) nhận xét: "Từ năm 1975, tôi đã giảng dạy trong suốt 33 năm. Trong hơn ba mươi năm nay, tôi đã chứng kiến khung cảnh sân trường thay đổi từ mộc mạc và đơn giản thành phóng túng buông thả. Sự phóng túng ở sân trường chúng ta [Đài Loan] vượt trội hơn ở vài quốc gia khác. Trước kia trong khuôn viên đại học, nền tảng quan hệ nam nữ khép trong phép giao thiệp lịch sự, họ tôn trọng lẫn nhau trong khuôn khổ tiền hôn nhân của thời yêu đương tình tứ, hàm súc nét đẹp tự nhiên thấp thoáng trong sự tự kềm chế của đôi bên. Đem vấn đề tình dục trước hôn nhân ra mà nói, trong quá khứ, bất kể xã hội Tây phương cũng như Đông phương, chuyện này đều không nên. Thế nhưng hiện tại ư... Sự biến động hỗn loạn về quan điểm giá trị xã hội, khiến con người có xu hướng thiên về "tiền tài", dùng đồ hiệu, chạy theo công danh lợi lộc; hơn nữa tốc độ truyền thông tin học nhanh chóng, những khoái cảm tình dục phóng túng cũng lại phơi bày một cách không ngừng. "Miễn sao tôi thích là được, không ai có quyền phải ngăn cản" - Thanh niên hùa theo sự bao biện đó. Hậu quả là, những thanh niên vốn dĩ ngay thẳng trong sạch, hào khí sung sức và đầy nhiệt huyết, nhưng không có nền tảng đạo đức đúng đắn kềm chế, nên đưa chân sa lầy đắm thân vào xác thịt, hoặc là vì hành vi lỡ lầm trong quan hệ khác phái trước hôn nhân dẫn đến hoàn cảnh mang thai túng quẫn... Trông thấy những gì xảy ra, chúng ta không khỏi lo ngại - Nền giáo dục của chúng ta đã có vấn đề gì? Có phải là chúng ta nên bảo họ cái gì nên làm và những gì họ không nên làm theo quan điểm đạo đức cơ bản. Chúng ta không muốn những học sinh trẻ tuổi phải suốt đời vấn vương một vết thương hổ thẹn trong lòng chẳng vứt bỏ được!"

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ geschichte-des-rechts.de: Konfliktregelung in den frühmittelalterlichen Leges
  2. ^ Ingo Ullmann: Die rechtliche Behandlung holsteinischer Leibeigener um die Mitte des 18. Jahrhunderts. Dargestellt unter besonderer Berücksichtigung der Schmoeler Leibeigenschaftsprozesse von 1738 bis 1743 sowie von 1767 bis 1777. Lang, Frankfurt am Main u. a. 2007, ISBN 978-3-631-55736-5 (Rechtshistorische Reihe 346), (Zugleich: Kiel, Univ., Diss., 2006); S. 110, 125
  3. ^ Christian Keitel: Herrschaft über Land und Leute. Leibherrschaft und Territorialisierung in Württemberg, 1246–1593. DRW-Verlag, Leinfelden – Echterdingen 2000, ISBN 3-87181-428-8 (Schriften zur südwestdeutschen Landeskunde 28), (Zugleich: Tübingen, Univ., Diss, 1998-1999). S. 195
  4. ^ Claudia Ulbrich: Leibherrschaft am Oberrhein im Spätmittelalter. Vandenhoeck & Ruprecht, Göttingen 1979, ISBN 3-525-35369-3 (Veröffentlichungen des Max-Planck-Instituts für Geschichte 58), S. 157.