Thiên hướng tình dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hướng tình dục
Thiên hướng
Dị tính luyến ái
Đồng tính luyến ái
Song tính luyến ái
Vô tính
Nghiên cứu
Thống kê
Yếu tố sinh học
Yếu tố môi trường
Số lượng anh trai
Đặc điểm tay thuận
Thang Kinsey
Lưới Klein
Tình dục học
Danh sách
Gay flag.svg Chủ đề:Đồng tính,
song tính và hoán tính

Sexes-planetary-sym-dimcolors.svg Chủ đề:Tình dục

Thiên hướng tình dục chỉ sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc cả hai một cách lâu dài.

Theo Hiệp hội Tâm lí Hoa Kỳ, thiên hướng tình dục cũng chỉ sự ý thức cá nhân và sự công nhận của xã hội về những hấp dẫn đó cũng như chỉ một cộng đồng cùng có chung sự hấp dẫn.

Thiên hướng tình dục thường được phân loại dựa trên giới tính của những người hấp dẫn mình do đó thường được nêu lên dưới dạng ba loại: dị tính luyến ái, đồng tính luyến áisong tính luyến ái. Tuy nhiên một vài người có thể thuộc một loại khác với ba loại trên hoặc không thuộc một loại nào cả. Những dạng thiên hướng tình dục thông thường nhất nằm trên một thang đo từ hoàn toàn dị tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người khác phái) cho đến hoàn toàn đồng tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người cùng phái) và bao gồm vài dạng song tính luyến ái khác (bị hấp dẫn bởi cả hai phái).

Hầu hết các định nghĩa về thiên hướng tình dục đều bao gồm một khía cạnh tâm lí là sự khao khát tình dục cá nhân hoặc sự thể hiện của cá nhân. Một vài định nghĩa bao gồm cả hai khía cạnh đó. Vài người khác chỉ đơn giản dựa trên định nghĩa hoặc sự tự nhận biết của chính mình.

Vài nhà nghiên cứu tình dục học, nhân chủng họclịch sử nêu ra rằng sự phân loại thành dị tính và đồng tính luyến ái là không phổ quát. Các xã hội khác nhau có thể dựa theo những tiêu chí khác quan trọng hơn giới tính để phân loại, bao gồm tuổi tác của bạn tình hoặc là vai trò chủ động hay thụ động của cá nhân hoặc vị trí trong xã hội.

Sự ý thức giới tính và sự thể hiện giới tính có liên quan mật thiết đến thiên hướng tình dục nhưng đây là những khái niệm khác nhau. Sự ý thức giới tính chỉ sự ý thức của chính cá nhân đó về giới tính sinh học của họ, sự thể hiện giới tính chỉ các điệu bộ, cử chỉ, cách cư xử của cá nhân đó còn thiên hướng tình dục thì liên quan đến sự tưởng tượng, mong mỏi, khao khát. Chẳng hạn một người đàn ông có giới tính sinh học là nam và ý thức mình là nam (ý thức giới tính là nam) nhưng có điệu bộ, cử chỉ và cách cư xử như phụ nữ (thể hiện giới tính là nữ) đồng thời cũng có thể có ham thích tình dục với phụ nữ (thiên hướng tình dục là dị tính luyến ái). Mỗi cá nhân có thể thể hiện hoặc công khai thiên hướng tình dục của mình ra bên ngoài hay không. Những người đồng tính luyến ái thường che giấu sự thật về họ.

Xác định thiên hướng tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Vì mỗi người có thể định nghĩa thiên hướng tình dục một cách khác nhau và vì các chuẩn mực xã hội nên việc xác định thiên hướng tình dục là khó khăn. Để xác định có thể dựa vào sự tự nhận biết hoặc sự thể hiện ra bên ngoài hoặc sự ham thích của đối tượng cần xác định. Ít nhất là vào cuối thế kỷ 19, ở châu Âu, người ta đã suy đoán rằng, thiên hướng tình dục của con người có vẻ nằm trên một thang liên tục hơn là thuộc hai ba loại riêng biệt. Năm 1896, nhà nghiên cứu tình dục học 28 tuổi ở Berlin, Magnus Hirschfeld, công bố một cách đánh giá độ mạnh của ham thích tình dục của mỗi cá nhân bằng một thang hai chiều, mỗi chiều 10 điểm. Chiều A, đồng tính luyến ái và chiều B, dị tính luyến ái.[1] Điểm của một người dị tính có thể là A0, B5 hoặc của một người đồng tính có thể là A5, B0. Điểm của người vô tính là A0, B0 và nếu một người nào đó ham thích tình dục cao độ với cả nam và nữ có điểm là A9, B9. 50 năm sau, nhà tình dục học người Mỹ Alfred Kinsey viết trong quyển Thể hiện tình dục ở nam giới (1948):

Không thể phân tách đàn ông thành hai loại riêng biệt là dị tính và đồng tính luyến ái cũng như không thể chia thế giới thành cừu. Thế giới tự nhiên hiếm khi được phân chia thành những loại riêng biệt…Trong mọi khía cạnh, thế giới sống này là liên tục. Dựa trên nguyên lý đó, cần thiết đề xuất một cách phân loại mới bằng cách thêm vào hai loại hoàn toàn dị tính và hoàn toàn đồng tính những loại khác mà chúng khác nhau một cách tương đối. Một người có thể nằm đâu đó trên thang đánh giá này trong một thời điểm nào đó của cuộc đời…Một thang đo 7 điểm thể hiện những thiên hướng tình dục.

[2]

Thang đo Kinsey đánh giá thiên hướng tình dục từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái) và một loại khác X, những ai không có ham thích tình dục với cả nam hay nữ. Không giống như thang đo của Hirschfeld, thang Kinsey là thang một chiều. Simon LeVay viết "điều đó cho thấy (mặc dù Kinsey không tin rằng) mỗi người có độ mạnh ham thích tình dục như nhau và được chia thành hai phần là ham thích người cùng giới và ham thích người khác giới theo một tỉ lệ phụ thuộc vào thiên hướng tình dục của người đó."

Khả năng thay đổi của thiên hướng tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1985, trong quyển Lựa chọn song tính luyến ái (Bisexual Option), Fritz Klein trình bày một thang đo để kiểm tra giả thuyết của mình cho rằng thiên hướng tình dục là "một quá trình thay đổi và nhiều biến" vì nó thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau bao gồm yếu tố liên quan và không liên quan đến tình dục. Klein xem xét các yếu tố như ham thích về mặt tình dục, sự thể hiện, tình cảm và mối quan hệ xã hội, lối sống và sự tự nhận biết. Mỗi yếu tố đó đều ảnh hưởng đến quá khứ, hiện tại và quan niệm của từng người.[3]

Khả năng thay đổi thiên hướng tình dục tùy thuộc vào từng người. Trung tâm Nghiên cứu Nghiện và Sức khỏe Tâm thần (Centre for Addiction and Mental Health) cho rằng "Ở một vài người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời. Ở người khác, nó có thể thay đổi theo thời gian".[4] Nghiên cứu của Lisa Diamond cho thấy thiên hướng tình dục của phụ nữ song tính luyến ái dễ thay đổi hơn của phụ nữ đồng tính luyến ái.[5]

Có những tổ chức không đồng ý với Fritz Klein. Hiệp hội Tâm lí Hoa Kỳ (American Psychological Association) khẳng định rằng "thiên hướng đồng tính luyến ái là không thể thay đổi".[6] Năm 2001, bác sĩ người Mỹ David Satcher (United States Surgeon General) công bố rằng "không có một bằng chứng khoa học nào cho thấy thiên hướng tình dục là có thể thay đổi được".[7]

Sự ham thích, thể hiện và ý thức[sửa | sửa mã nguồn]

Vài người phân biệt

1. Ham thích người khác phái/cùng phái.

2. Quan hệ/thể hiện tình cảm với người khác phái/cùng phái.

3. Sự ham thích người khác phái/cùng phái so với sự thể hiện cá nhân (nam tính/nữ tính).

4. Tự nhận mình là dị tính, đồng tính, song tính, vv.

Các tổ chức y khoa chính thống cũng khẳng định rằng "sự thể hiện giới tính (sexual behaviour) là khác với thiên hướng tình dục".[8]

Thiên hướng tình dục và ý thức giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Những tác giả đầu tiên thường hiểu rằng thiên hướng tình dục liên quan đến giới tính của cá nhân. Chẳng hạn, người ta nghĩ rằng một người có cơ thể là nữ mà lại thích người có cơ thể là nữ thì có tính đàn ông và ngược lại. Từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, hầu hết những nhà lý luận nổi bật và chính những người đồng tính cũng đồng ý như vậy. Tuy nhiên, vấn đề này được đưa ra tranh cãi và đến nửa sau của thể kỷ 20, ý thức giới tính (gender identity) ngày càng được xem là độc lập với thiên hướng tình dục. Những người có ý thức giới tính trùng với giới tính sinh học của mình (cisgender) và những người có ý thức giới tính không trùng với giới tính sinh học của mình (transgender) đều có thể có ham thích đối với nam hoặc nữ hoặc cả hai mặc dù thiên hướng tình dục của hai nhóm này khá khác nhau. Một người đồng tính, dị tính hoặc song tính đều có thể là người nam tính, nữ tính hoặc ái nam ái nữ.[9]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp nghiên cứu nhân khẩu học của thiên hướng tình dục có nhiều thử thách vì thiên hướng tình dục có nhiều khía cạnh khác nhau và ranh giới khác nhau. Việc xác định tỉ lệ các thiên hướng tình dục khác nhau trên thực tế là khó khăn và gây nhiều tranh cãi. Trong Thể hiện tình dục ở nam giới (1948) và Thể hiện tình dục ở phụ nữ (1953), của Alfred Kinsey, người ta được yêu cầu tự đánh giá mình theo thang Kinsey. Khi phân tích sự thể hiện giới tính và ý thức giới tính của từng cá nhân, ông rút ra rằng thiên hướng song tính luyến ái, ham thích tình dục với cả người cùng và khác phái, chiếm đa số. Theo ông, dị tính và đồng tính luyến ái chiếm một tỉ lệ nhỏ (5-10%). Tuy nhiên, hoàn toàn song tính luyến ái (ham thích tình dục với người cùng phái và khác phái là bằng nhau) một tỉ lệ nhỏ hơn nữa.

Phương pháp của Kinsey bị chỉ trích là có lỗ hổng, đặc biệt là về độ ngẫu nhiên của nhóm người được kiểm tra. Phần lớn họ là tù nhân. Tuy nhiên, Paul Gebhard, giám đốc kế nhiệm của Viện Nghiên cứu Tình dục Kinsey đã xem xét lại dữ liệu và kết luận rằng điều đó không ảnh hưởng nhiều đến kết quả. Hầu hết các thống kê khoa học hiện nay cho thấy phần lớn con người là dị tính luyến ái. Tuy nhiên, tỉ lệ đồng tính luyến ái thay đổi tùy theo phương pháp thống kê và tiêu chuẩn chọn lựa. Đa số kết quả cho thấy ở Mỹ tỉ lệ đồng tính nam là từ 2.8 đến 9% và đồng tính nữ là 1 đến 5%.[10] Tỉ lệ này có thể lên đến 12% đối với các thành phố lớn và chỉ 1% đối với vùng nông thôn. Những làng đồng tính như The Castro ở San Francisco, California, tỉ lệ này lên đến 40%.

Tỉ lệ song tính luyến ái được xác định thay đổi tùy cách định nghĩa ít nhất là khi thống kê trong cùng một vùng. Vài nghiên cứu coi một người là song tính luyến ái chỉ khi người đó ham thích tình dục với cả người cùng và khác phái một cách bằng nhau. Các nghiên cứu khác coi một người là song tính khi người đó không phải là hoàn toàn đồng tính hoặc không phải là hoàn toàn dị tính. Một tỉ lệ nhỏ là những người không ham thích tình dục với bất kỳ ai (vô tính).

Những yếu tố ảnh hưởng đến thiên hướng tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pedeatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường".[11] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lí khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố trong đó có những điều trải qua khi còn nhỏ.

Nhân tố môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Hoocmon tác động lên bào thai[sửa | sửa mã nguồn]

Giả thuyết về hoocmon cho rằng sự hoạt động của những hoocmon tác động lên sự khác biệt giới tính và cũng tác động lên thiên hướng tình dục, thiên hướng tình dục này sẽ thể hiện khi trưởng thành. Hoocmon giai đoạn bào thai có thể là một nhân tố chính cũng như kết hợp với kiểu gen và/hoặc điều kiện môi trường và xã hội.[12]

Thứ tự trong gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Những nghiên cứu gần đây cho rằng những người nam có nhiều anh trai có khả năng là đồng tính cao hơn. Tuy nhiên điều này vô hiệu khi người đó thuận tay trái.[13]

Nhân tố kiểu gen[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu phát hiện rằng nhiều nhân tố sinh học liên quan tới hình thành thiên hướng tình dục bao gồm kiểu gen, hoocmon giai đoạn bào thai và cấu trúc não. Không có yếu tố nào là duy nhất và nghiên cứu đang tiếp tục. Những nghiên cứu trên người sinh đôi cho thấy nhân tố kiểu gen là chủ yếu nhưng cách lập luận trong những nghiên cứu đó cũng gặp khó khăn. Một nghiên cứu gần đây đã nêu lên rằng kiểu gen không phải là nhân tố chủ yếu.[14]

Song tính luyến ái bẩm sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sigmund Freud giới thiệu khái niệm song tính luyến ái bẩm sinh dựa trên công trình của Wilhelm Fliess, một cộng tác của ông. Theo giả thuyết này, tất cả mọi người đều sinh ra là song tính luyến ái nhưng trải qua quá trình tâm lí, bao gồm các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài trở nên đơn tính luyến ái (monosexual, đồng tính hoặc dị tính) nhưng thiên hướng song tính vẫn còn tiềm ẩn.

Khả năng lựa chọn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bác sĩ Angela Pattatucci, một nhà sinh học lâm sàng, "Thật sai lầm khi cho rằng thiên hướng tình dục là do lối sống – có ai muốn mình là người thuận tay trái như một cách lựa chọn lối sống? Nhưng sự sai lầm này đã được nói trên thông tin đại chúng và ngày càng phổ biến. Khi những phóng viên dùng từ lối sống, đó là sự lười suy nghĩ. Nhiều người tôn sùng từ này vì trong nhiều trường hợp, người ta cho rằng thiên hướng tình dục là sự lựa chọn của mỗi người, là phù phiếm và bất bình thường, là những gì bạn làm đi ngược với thiên hướng bên trong của bạn. Tôi rất tiếc, điều này là không đúng." [15]

Trong vụ kiện 1993 chống lại Bổ sung Colorado 2 (Colorado Amendment 2) đã vi phạm luật chống phân biệt đối xử người đồng tính, Dean Hamer nêu lên "Vì con người không thể lựa chọn giới tính, họ không thể lựa chọn cũng như thay đổi thiên hướng tình dục. Con người không thể thay đổi giới tính. Thiên hướng tình dục là bẩm sinh và không thể thay đổi". Simon LeVay bác bỏ "…áp lực của vụ kiện đã làm cho các nhân chứng trở nên cực đoan hoặc đơn giản hóa vấn đề hơn. Lập luận của Hamer đã đi xa hơn dữ kiện ở hai điểm. Thứ nhất, nó đã bác bỏ mọi khả năng lựa chọn thiên hướng tình dục nếu như kiểu gen chỉ là một trong nhiều nhân tố. Có thể xây dựng một giả thuyết rằng thiên hướng tình dục bao gồm một "kiểu gen đồng tính" và một sự mong muốn đồng tính. Thứ hai, nó đã đánh đồng kiểu gen và tính cố định, điều này phát sinh nhiều vấn đề." [16]

Yếu tố xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì vấn đề thiên hướng tình dục là phức tạp và đa chiều, nhiều học viện và nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong Nghiên cứu Đồng tính luyến ái (Queer studies), đã nói đây là vấn đề mang tính lịch sử và xã hội. Năm 1976, nhà sử học Michel Foucault chỉ ra rằng đồng tính luyến ái đã không tồn tại ở thế kỷ 18; sự kê gian (sodomy, tình dục giữa hai người nam) chỉ là một hành vi tình dục. Kê gian là một tội thường được bỏ qua nhưng đôi khi bị xử phạt rất nặng.

Vài nhà sử học và nhà nghiên cứu nói khía cạnh tình cảm liên quan đến thiên hướng tình dục thay đổi đáng kể theo thời gian và tùy từng nền văn hóa. Chẳng hạn, ở các nước nói tiếng Anh, việc hôn người cùng phái, đặc biệt là hai người đàn ông là một dấu hiệu của đồng tính trong khi đó việc này là sự thể hiện tình bạn một cách bình thường ở các nước khác. Ngoài ra, ở nhiều nền văn hóa, mặc dù đồng tính luyến ái là điều cấm kỵ, hiện nay và trong quá khứ có những lễ cưới chính thức dành cho những cặp cùng phái.[17]

Một số dạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Monosexual (tạm dịch: đơn tính luyến ái) chỉ những người chỉ bị hấp dẫn tình dục bởi một giới tính (nam hoặc nữ). Đơn tính luyến ái có thể là đồng tính luyến ái hoặc dị tính luyến ái.

Polysexual (tạm dịch: đa tính luyến ái) chỉ những người bị hấp dẫn tình dục bởi hơn một giới tính nhưng không xác định mình là song tính luyến ái bởi vì họ cho rằng giới tính không phải là dạng nhị phân. Khái niệm này khác với khái niệm pansexual.

Pansexual hoặc omnisexual (tạm dịch: toàn tính luyến ái) chỉ sự hấp dẫn bởi cái đẹp, tình yêu lãng mạn hoặc ham muốn tình dục đối với ai đó mà không cần biết giới tính của họ. Vài người pansexual cho rằng họ là người mù giới tính. Giới tính là không quan trọng và không thích hợp khi xác định việc họ bị hấp dẫn tình dục bởi ai đó.

Pomosexual là từ mới chỉ những người không xác định thiên hướng tình dục của mình (chẳng hạn như đồng tính hay dị tính) và không gán mình vào một loại thiên hướng tình dục nào. Khái niệm này khác với vô tính chỉ những người không bị hấp dẫn tình dục bởi bất kỳ ai.

Questioning (tạm dịch: thắc mắc) chỉ người muốn xác định giới tính thật sự hoặc thiên hướng tình dục của mình. Những người này không chắc chắn về thiên hướng tình dục của mình hoặc đang khám phá cảm giác của mình.

Bi-curious (tạm dịch: tò mò song tính) chỉ người không xác định mình là song tính hoặc đồng tính luyến ái nhưng cảm thấy tò mò về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người cùng giới. Khái niệm này cũng chỉ người xác định mình là đồng tính nhưng cảm thấy quan tâm về mối quan hệ hoặc hành vi tình dục với người khác phái.

Zoosexual (tạm dịch: dị loài luyến ái) chỉ thiên hướng tình dục hướng tới động vật không phải con người.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hirschfeld, Magnus, 1896. Sappho und Socrates, Wie erklärt sich die Liebe der Männer & und Frauen zu Personen des eigenen Geschlechts? (Sappho and Socrates, How Can One Explain the Love of Men and Women for Individuals of Their Own Sex?)
  2. ^ A.C. Kinsey, W.B. Pomeroy, C.E. Martin, Sexual Behavior in the Human Male, (pp. 639, 656). Philadelphia, PA: W.B. Saunders, 1948). ISBN 0-253-33412-8.
  3. ^ LeVay, Simon, 1996. Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: MIT Press. ISBN 0-262-62119-3.
  4. ^ CAMH: Resources for professionals
  5. ^ Diamond, Lisa Sexual Identity, Attractions, and Behavior Among Young Sexual-Minority Women Over a 2-Year Period Developmental Psychology (2000) Vol. 36 No.2, 241-250
  6. ^ Answers to Your Questions About Sexual Orientation and Homosexuality, American Psychological Association. Retrieved on 2008-08-21.
  7. ^ "The Surgeon General's call to Action to Promote Sexual Health and Responsible Sexual Behavior", A Letter from the Surgeon General U.S. Department of Health and Human Services 2001-07-09. Retrieved 2007-03-29.
  8. ^ Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel, American Psychological Association, et al., 1999. Retrieved 2007-02-23.
  9. ^ Bailey, J.M., Zucker, K.J. (1995), Childhood sex-typed behavior and sexual orientation: a conceptual analysis and quantitative review. Developmental Psychology 31(1):43
  10. ^ James Alm, M. V. Lee Badgett, Leslie A. Whittington, Wedding Bell Blues: The Income Tax Consequences of Legalizing Same-Sex Marriage, page 24. (1998) PDF link
  11. ^ Sexual Orientation and Adolescents, American Academy of Pediatrics Clinical Report. Retrieved 2007-02-23.
  12. ^ G.Wilson & Q.Rahman Born Gay: The Psychobiology of Human Sex Orientation, London: Peter Owen 2005
  13. ^ Blanchard, R., Cantor, J. M., Bogaert, A. F., Breedlove, S. M., & Ellis, L. (2006). "Interaction of fraternal birth order and handedness in the development of male homosexuality." Hormones and Behavior, 49, 405–414.
  14. ^ This work was published in the American Journal of Sociology (Bearman, P. S. & Bruckner, H. (2002) Opposite-sex twins and adolescent same-sex attraction. American Journal of Sociology 107, 1179–1205.) and is available only to subscribers. However, a final draft of the paper is available here - there are no significant differences on the points cited between the final draft and the published version.
  15. ^ Burr, Chandler. A Separate Creation: The Search for the Biological Origins of Sexual Orientation. Hyperion 1997.
  16. ^ LeVay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: The MIT Press ISBN 0-262-12199-9
  17. ^ Robert Brain. Friends and Lovers. Granada Publishing Ltd. 1976. Chapters 3, 4.